“NƯỚC MẮT” ĐỔ VÀO “DÒNG SÔNG MÍA”


BÙI VIỆT THẮNG

Nhà văn Đào Thắng

Nhà văn Đào Thắng

Tiểu thuyết Nước mắt của Đào Thắng (in lần đầu năm 1991) nhận Giải thưởng Văn học về đề tài Quốc phòng và An ninh Hội Nhà văn Việt Nam (1991 -1993), Giải thưởng văn học Bộ Quốc phòng (1989 -1994). Mười bốn năm sau, Đào Thắng nhận Giải thưởng (Hạng A) Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ hai, 2002 -2005, của Hội Nhà văn Việt Nam cho tác phẩm Dòng sông mía (xuất bản lần đầu 2004, tái bản 2004, 2005, 2006). Khởi viết tiểu thuyết Nước mắt từ năm 1982, điều đó cho thấy, Đào Thắng tỏ rõ bản lĩnh nghệ thuật của một nhà văn trải qua thử thách “lửa đỏ và nước lạnh” của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại.

Nước mắt là một cuốn tiểu thuyết thuộc dạng phải đọc một mạch, tiếp thu tức thì và đọc xong có một ấn tượng mãnh liệt và duy nhất (gần giống với lối tiếp nhận truyện ngắn). Nó thuộc dạng thức tiểu thuyết ngắn (205 trang), loại sau này khá phổ biến trong văn chương đương đại Việt Nam, thường có độ nén chặt về dung lượng,  kết cấu gọn nhẹ và đa dạng, sự giản lược cốt truyện, ít nhân vật, cách kể tốc độ…

Nước mắt của Đào Thắng chọn một góc nhìn khác về chiến tranh, từ góc nhìn này giúp chúng ta nhìn rõ hơn cuộc chiến tranh đã qua đối với cả cộng đồng, và quan trọng hơn đối với mỗi cá nhân. Nếu nhân vật Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh bị nhấn chìm trong hồi ức chiến tranh – một cuộc chiến tranh mang gương mặt buồn thì nhân vật Thái trong Nước mắt của Đào Thắng bị nhấn chìm trong hủy diệt của chiến tranh – một cuộc chiến tranh mang gương mặt của cái ác và cái xấu. Mở đầu tiểu thuyết Nước mắt, nhà văn đã ngay lập tức cho độc giả biết mục đích viết của mình “Tôi phải lục tìm những câu chuyện đã xảy ra, một công việc quá nặng nhọc, có thể trái ý mình, nhưng không thể khác được, phải lục lọi, bới ra từ tro tràn, từ trong khói đen của dĩ vãng, từ sự ẩn giấu trong lòng người, mà con người đã rải lên lớp gio giấu kín nó đi, có thể chính ngòi bút đã lấp đi, một sự lấp liếm đầy đau khổ và dằn vặt. Thế là, tôi đã tự bộc lộ nơi ẩn nấp của chính mình” (NM, tr.5). Chiến tranh, như ai đó nói, đã lột trần tất cả, từ sự vật đến con người, không ai được phép dối trá trước sự thật khắc nghiệt của nó. Mở đầu tiểu thuyết là một cảnh ngoạn mục: Hà đi tìm Thái ở một đơn vị pháo cao xạ đóng ở đất Nghệ An đầy gió Lào và cát trắng, họ mới cưới nhau và sắp có con, chị liều mình đi tìm chồng trong khung cảnh đạn bom ngất trời. Có cái gì đó như là điềm báo chẳng lành trong cảnh đoàn viên ngắn ngủi giữa chiến tranh khi mở đầu tiểu thuyết, trước khi Hà xuất hiện, tác giả lại “quay cận cảnh” một tổ chim chấp chới giữa hoang tàn đổ nát “Một con chim mái đang ấp trứng dưới gốc bụi cây xương rồng gai đâm tua tủa. Trong đôi mắt đau đáu khô khao vì gió cát bỗng bừng lên cái ánh vui mừng của kẻ sắp làm mẹ (…). Đang xòe hết đôi cánh ủ kín ổ trứng, con chim bỗng nhiên ngẩng đầu, như có một tín hiệu lạ nhập vào người, làm cho sức lực bừng dậy, nó đập cánh vụt lên qua đám xương rồng cát. Một bên cánh bị gai cào, xước da chảy máu, con chim không hề hay biết. Một bên cánh xõa ra, nó vẫn vút lên cao, treo lơ lửng bên trên một khẩu pháo và kêu lên thảng thốt” (NM, tr. 6 -7). Con chim ấy giống người vợ thương yêu của Thái bởi Hà cũng sắp được làm mẹ. Nhưng chiến tranh tàn độc đã cướp đi sinh mạng của cả hai mẹ con chị trên đường trở về sau chuyến thăm chồng vội vã nhưng viên mãn hạnh phúc, một thứ hạnh phúc hiếm hoi mà con người được thụ hưởng trong chiến tranh. Tưởng chừng như Thái không còn nước mắt để khóc thương cho vợ con. Nhưng rồi vết thương chiến tranh, theo thời gian, cũng dần dần lên da non khi Thái gặp Xuân và được cô trao cho tình yêu đầu đời trong trắng và mãnh liệt. Xuân là điểm tựa tinh thần mới của Thái. Cô đã khóc khi dũng cảm cứu Thái khỏi dòng nước dữ suýt nhấn chìm anh. Và cô đã khóc khi cả hai người rơi vào một tình huống ngàn cân treo sợi tóc, căn hầm họ trú nấp bị sập, tấm sắt dày ở cửa ra vào bị phủ xăng đặc đã bén lửa. Xuân đã “Khóc lên một cách tuyệt vọng”, và khi không còn cơ hội thoát ra khỏi hầm, khi thần chết lừ lừ tiến tới sát thì “Cô gái khóc nấc lên” lần cuối “Hai con người trẻ tuổi, tràn đầy sức lực, không còn gì che đậy, ôm lấy nhau trong giây phút cuối cùng của cuộc sống” (NM, tr. 208). Một kết thúc bi tráng bởi nước mắt đã chảy cạn kiệt, những giọt nước mắt khiến các thế hệ độc giả có lương tri biết căm thù chiến tranh mang bộ mặt của cái ác và cái xấu. Nước mắt vừa là nhan đề tác phẩm vừa là một biểu tượng nghệ thuật về nỗi đau khổ của con người do chiến tranh gây ra, và những giọt nước mắt ấy đã cảnh tỉnh chúng ta trong cuộc sống.

Dòng sông mía (2004) ghi nhận cuộc bứt phá của Đào Thắng trong lộ trình sáng tác tiểu thuyết. Nếu chiến tranh phơi bày bộ mặt cái ác, cái xấu một cách công khai, trực diện khiến con người dễ dàng nhận ra và có cách thức chống trả thì cái ác, cái xấu trong đời thường lại thường được ngụy trang khéo léo dưới nhiều kiểu cách mặt nạ khác nhau. Dòng sông mía của Đào Thắng cố gắng giải mã bằng hình tượng nghệ thuật một câu hỏi nhức nhối “cái ác, cái xấu từ đâu ra?”. Viết cuốn tiểu thuyết tâm huyết thứ hai này, Đào Thắng muốn “lột mặt nạ” cái ác, cái xấu vốn được che đậy, ngụy trang khéo léo bởi những con người có chức quyền hoặc thậm chí không cần che đậy, trái lại lộ liễu, trắng trợn, bạo tàn của những người sống hoang dã, bản năng. Đã một thời kì khá dài nhà văn của chúng ta bị chi phối bởi thuyết “quyết định luận tính cách đối với hoàn cảnh” mà xem nhẹ yếu tố hoàn cảnh đã ảnh hưởng và quyết định tính cách như thế nào. Nhà văn hiện đại Nga I. Bônđarep (tác giả của nhiều tiểu thuyết nổi tiếng đã được dịch ra tiếng Việt như Bến bờ, Trò chơi, Tuyết cháy…) đã có một ý sâu sắc về vấn đề này “Đúng thế, tất cả chúng ta đều là tù binh của hoàn cảnh và không một ai được tự do hết. Điều đó thật khủng khiếp, thật tuyệt vọng và hèn hạ…Nhưng đó cũng phải có một cái ý nghĩa hợp lí nào đó chứ”. Có thể nói, văn học Đổi mới đã giúp nhà văn có điều kiện trở lại những nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực trong sáng tạo văn chương. Trong Dòng sông mía, qua nhân vật Lẹp, Đào Thắng đã chỉ ra một cách khá thuyết phục ngọn nguồn của cái ác, cái xấu nẩy sinh trong đời sống xã hội. Lẹp, một trong những nhân vật chính mang chủ đề tiểu thuyết đã được “Sinh ra trong tà ám, nuôi dạy trong hận đắng và nó được giáo dục bằng một cách khác, kích thích sự thù hận phân chia. Nó được bồi đắp bằng sự hung hãn của cái ác”. Mặc dù phạm vi sinh tồn và hoạt động của nhân vật này chủ yếu diễn ra ở phần I tiểu thuyết – Lửa hoang (chiếm khoảng 1/2 số trang) – nhưng cái ác, cái xấu mà nó gieo rắc thì còn gây ra nhiều hệ lụy trong đời sống. ở phần II  tiểu thuyết – Máu của đất – thì nhân vật Lẹp vẫn “sống nhăn răng” với đời, với người, hắn ta đã thực sự bán mình cho quỷ dữ (Lẹp toàn gây ra những chuyện động trời: loạn luân với cô Bé – cùng cha khác mẹ – giết em vợ, lấy cô Bê lớn, trở thành cốt cán trong cải cách ruộng đất, sa đọa và biến chất…Tóm lại đó là quá trình tha hoá của con người trong một hoàn cảnh đầy rẫy những điều phi lí). Có thể nói những “những trò chơi của số phận” được Đào Thắng dựng lên khá đặc sắc qua các nhân vật ông Quỹ Nhất, bà Cả Thuần, Lẹp, cô Bê lớn, Khuê, Mận, bà Mến. Bà Mến – mẹ thằng Lẹp gọi con mình là hiện thân của cái ác. Khi bà khoác cái bọc khăn vuông bọc đứa cháu quái thai, đi thẳng xuống dòng sông của thiên đường “tâm bão”, kêu lên lời Chúa trời trong Kinh thánh “Nếu các người nhẹ dạ quên cái ác thì cái ác sẽ trở lại với bộ mặt ghê gớm hơn, ở chỗ này và chỗ khác, nơi này và nơi khác, nước này và nước khác; nó có thể đến tận nước đức Chúa trời (D.S.M. trang 266). Đó là sự cảnh báo, sự tiên cảm về cái ác đang trở lại.

*

Có vẻ như về kĩ thuật tiểu thuyết, Đào Thắng không thuộc số những cây bút tân kì cả trong Nước mắt cũng như Dòng sông mía (không có “dòng ý thức”, không có “hậu hiện đại”…), nhưng đọc vẫn giữ được nhiều ấn tượng, nhiều ám ảnh nghệ thật. Vì sao? Tôi nghĩ cái chinh phục độc giả trong trường hợp này là chất sống (hay là vốn sống) của nhà văn. Đào Thắng còn rất nhiều dự định sáng tác tiểu thuyết, vì chỉ có tiểu thuyết – theo quan niệm của ông và nhiều nhà văn khác – mới có thể ôm trùm, kể hết được về cái thực tại đời sống vốn lúc nào cũng mênh mông, nhiều bí mật và mời gọi. Đào Thắng trong tiểu thuyết chọn một lối kể chuyện giản dị, không nhiều điểm nhìn trần thuật, bằng cách “xông thẳng” vào các biến cố, sự kiện bên ngoài hay những diễn biến bên trong tâm lí nhân vật. Đây là cách kể trong tiểu thuyết Nước mắt “Cách đây đã hai mươi năm. Chuyện xảy ra như đã cũ lắm rồi. Tôi đi tìm cái cũ để rao bán cho con người ư? Hay chỉ ghi lại cái gì tinh chất được sàng lọc qua thời gian và trong trí nhớ, để độc giả cùng sống lại, cùng tôi nguyện ngắm, như cách nói của người Thiên chúa giáo, một thời chiến tranh mà chúng tôi từng chịu đựng, thời chiến tranh mà kẻ thù định đưa dân tộc chúng tôi trở về thời kì đồ đá” (NM, tr.5). Cứ chân thành, cứ nhẩn nha và thủ thỉ như thế nhà văn đã dần dà chinh phục độc giả thời nay vốn thông minh nhưng đôi khi cũng hơi khó tính và đỏng đảnh. Đào Thắng hoàn toàn tỏ ra tự tin vào những điều mình kể trong tiểu thuyết vì nhà văn không “rao bán” quá khứ mà chỉ muốn kể lại để được chia sẻ những gì mình trải nghiệm. Tự tin, điềm tĩnh và chân thành khi viết chính là sức mạnh ngòi bút tiểu thuyết Đào Thắng. Màu mè, hoa mĩ, hợp “mốt” hay không hợp “mốt” hình như là xa lạ với nhà văn này. Tôi nhìn thấy mẫu hình nhà văn lao động cật lực trên cánh đồng chữ nghĩa của mình đã khiến cho Đào Thắng gần với Nguyễn Xuân Khánh, Ma Văn Kháng, Lê Lựu trong địa hạt sáng tác tiểu thuyết.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s