TRỞ LẠI GIÁO TRÌNH CỦA TIẾN SĨ HOÀNG THỊ HUẾ


NGUYỄN PHƯỚC NHƠN

HoangThiHueXem xong các bài viết trên Quà tặng xứ mưa tôi tìm đọc cuốn giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn 1930 – 1945 của tiến sĩ Hoàng Thị Huế, Nxb Đại học Huế năm 2015. Tôi nghĩ vị tiến sĩ này chẳng lệch lạc gì về tư tưởng như ông Võ Văn Kha nói đâu, mà là sự kém cỏi, hạn hẹp về kiến thức. Chính trình độ kém dẫn đến việc biên soạn một cuốn giáo trình ngây ngô, nông cạn. Không hiểu sao một cuốn sách kém như vậy mà vẫn được xuất bản và vẫn được đem ra giảng dạy ở một trường đại học?

Cảm giác đầu tiên của tôi: đây là một cuốn sách cẩu thả, vội vàng. Những sai sót mà tác giả Võ Văn Kha chỉ ra là hoàn toàn chính xác. Tuy nhiên, những lỗi này không nghiêm trọng bằng những sai sót, phiến diện về nội dung của cuốn giáo trình này. Ở đây tôi không nói về tiểu tiết mà xin đưa ra những vấn đề trọng yếu:

– Quan điểm viết giáo trình thiển cận (lựa chọn tác giả tùy tiện, phiến diện).
– Phương pháp biên soạn máy móc, rập khuôn (chủ yếu lược kê lại tiêu mục ở phần kết luận).
– Nhầm lẫn giai đoạn lịch sử (giai đoạn 1930 – 145, nhưng phân tích Di chúc – 1969, tr. 243).
– Các tiêu mục lộn xộn, không logic, phi khoa học (không theo một tiêu chí nào cả.
– Lấy ý kiến của nhiều người khác nhưng không trích dẫn rõ ràng (đạo văn).

1. Trước hết nội dung hạn hẹp, phiến diện của cuốn sách này xuất phát từ quan điểm viết giáo trình rất thiển cận. Đối với bộ môn văn học sử điều quan trọng nhất là giúp sinh viên nắm bắt được đặc điểm, diện mạo, các thành tựu của từng giai đoạn văn học. Vậy mà vị tiến sĩ này đã lựa chọn tác giả, tác phẩm một cách rất tùy tiện. Tác giả cho rằng: “một số nhà thơ như Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận do sẽ đề cập đến trong phần văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 nên không đưa vào khảo sát “ (xem tr.6).

Quan niệm trên cho thấy người viết giáo trình không hiểu gì về văn học sử, không hiểu gì về phong cách nhà văn gắn với tiến trình vận động và phát triển của văn học. Cùng một nhà văn nhưng mỗi giai đoạn lịch sử có đặc điểm sáng tác khác nhau. Sáng tác của Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên giai đoạn 1930 – 1945 chắc chắn khác giai đoạn 1945 – 1975 về nội dung lẫn hình thức thể hiện.

Vì quan niệm thiển cận như vậy nên tác giả giáo trình đã lựa chọn các tác giả một cách tùy tiện. Tên của cuốn giáo trình là Văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn 1930 – 1945, nhưng nội dung bên trong chỉ thiên về giải quyết các nhà văn hiện thực phê phán. Cả một giai đoạn phê bình rất phong phú, tác giả chỉ viết được một mục và mục này chưa tới 6 dòng (Xin xem tr.21). Trào lưu văn học cách mạng thiếu hẳn Tố Hữu – một đại biểu xuất sắc, có những đóng góp quan trọng để làm nên diện mạo của dòng văn học này. Trào lưu văn học lãng mạn: thiếu hẳn Tự lực văn đoàn, Phong trào Thơ mới.

2. Kiến thức nông cạn còn thể hiện ở chỗ: để chứng minh tính hiện đại của giai đoạn này, tác giả đã chọn Nguyễn Bính và phân tích dài dòng về nhà thơ này. Nói đến “tính hiện đại”, trước hết phải kể đến Xuân Diệu và nhóm Trường thơ loạn, với các gương mặt xuất sắc như Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê. Không ai phủ nhận vị trí của Nguyễn Bính giai đoạn 1930 – 1945, đặc biệt là “hồn thơ chân quê da diết”. Tuy nhiên, chọn Nguyễn Bính – một tác giả chủ yếu sử dụng thể thơ truyền thống (thể lục bát) để chứng minh “tính hiện đại” của giai đoạn này thì quả thực là “ngớ ngẩn”!

Với nội dung méo mó như trên, sinh viên sẽ có một cái nhìn phiến diện về quá trình hiện đại hóa của thơ ca Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945. Đây lại là giai đoạn văn học chiếm nội dung khá quan trọng trong chương trình Đại học và phổ thông trung học.
3. Giáo trình này bộc lộ một tư duy máy móc, đơn giản của người biên soạn. Phần mở đầu thì lược kê tác phẩm, kết luận thì lược kê các tiêu mục. Tôi chưa đọc một cuốn giáo trình nào về lĩnh vực văn học mà lại có kiểu soạn tệ hại như vậy. Việc giới thiệu tiểu sử và sự nghiệp của một tác giả là hết sức quan trọng, tuy nhiên không ai lại lược kê một cách máy móc, rập khuôn như vậy.

Có nhiều mục tác giả không giải quyết bất kỳ điều gì ngoài việc lược kê lại tác phẩm (Xin xem chương Nguyễn Hồng tr.119). Có những chương đã lược kê tác phẩm ở phần tiểu sử, phần sau lại lược kê thêm lần nữa (Xem chương Nguyễn Công Hoan tr.27 đã lược kê gần trọn một trang, nhưng tr. 57 lại lược kê tiếp). Người đọc có cảm giác như tác giả này cố gắng độn tư liệu vào để cuốn sách được dày trang thêm, không cần tính đến chất lượng của giáo trình.
Tất cả các phần kết luận đều lược kê lại các tiêu mục và chương nào cũng viết dạng như thế này: “Kết luận: Chương 3 trình bày những kiến thức cơ bản về tác giả Vũ Trọng Phụng: tiểu sử, sự nghiệp sáng tác, quan niệm nghệ thuật,… những đặc trưng nghệ thuật của thể loại phóng sự và tiểu thuyết hiện thực Vũ Trọng Phụng, phong cách nghệ thuật độc đáo của Vũ Trọng Phụng biểu hiện ở nhãn quan hiện thực và khuynh hướng khái quát, triết lý, trào phúng chi phối ở tất cả các phương diện, các cấp độ kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu” (tr.117). Tôi trích nguyên đoạn văn lủng củng này để bạn đọc thấy được “trình độ diễn đạt” của tác giả giáo trình.

Theo yêu cầu một cuốn giáo trình, kết luận của một chương phải trả lời được câu hỏi: những vấn đề giải quyết chương này nhằm để làm gì? Nó có ý nghĩa giáo dục, nhận thức gì cho sinh viên và bạn đọc nói chung? Thao tác lược kê rập khuôn này sẽ dẫn đến một hậu quả nguy hại: nhồi sọ cho sinh viên một lối tư duy máy móc vì lười biếng suy nghĩ.

Còn một số vấn đề khác ở cuốn giáo trình này cần phải bàn tới, tôi chưa kịp đề cập. Điều cần nói ở đây là: một cuốn giáo trình bao giờ cũng có Hội đồng biên tập. Chẳng lẽ Hội đồng chuyên môn lại thờ ờ, thả nổi, không có trách nhiệm gì trong chuyện này? Nếu vị tiến sĩ này mới tập tễnh viết lách thì phải tham khảo những đồng nghiệp đi trước chứ? Chẳng hạn anh Đại Vinh, anh Bửu Nam, chị Bích Hải, chị Hường… Tôi nghĩ, Ban chủ nhiệm Khoa văn, Ban lãnh đạo trường cần phải xem xét một cách nghiêm túc cuốn giáo trình này.

Đọc thêm tiếng nói sinh viên: Những băn khoăn về kiến thức trong cuốn giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại 1930 -1945 của tiến sĩ Hoàng Thị Huế

N.T.T.N

Em là một sinh viên, em xin đưa ra một số ý kiến chủ quan của mình và mong nhận được sự giải đáp của bạn đọc Quà tặng xứ mưa. Em nghĩ những sai sót trong một cuốn sách là điều không thể tránh khỏi. Có thể chủ quan, có thể khách quan. Nếu lỗi sai nhiều quá, em nghĩ khi tái bản, cần phải chỉnh sửa lại. Tác giả Võ Văn Kha cũng không nên mất công lược ra những lỗi đó làm gì, vì chúng em có thể nhận biết được. Điều em băn khoăn là một số nhận định của giáo trình về các tác gia giai đoạn 1930 – 1945 không phù hợp với những gì mà em đã tiếp thu trước đây. Đây lại là giai đoạn mà chúng em sẽ đến các trường phổ thông thực tập trong năm tới nên không thể không lo lắng.
Em rất thích nhà văn Nam Cao nên em chỉ hỏi về tác giả này. Trong giáo trình cô Hoàng Thị Huế có nhận định rằng: “Truyện ngắn Nam Cao có thể khái quát thành các mô hình sau: Mô hình số phận nhân vật (Chí Phèo, Dì Hảo), mô hình tâm lý nhân vật (đề tài về trí thức tiểu tư sản). Mạch truyện có thể được phát triển men theo tâm trạng nhân vật. Trình tự thời gian một chiều bị phá bỏ, không có cốt truyện, ít kịch tính và tình tiết éo le, ít những hành vi độc đáo lạ thường, ngôn ngữ lạ hóa cũng ít xuất hiện” (tr.154).
Em băn khoăn rằng: nếu nói ngôn ngữ Nam Cao ít lạ hóa liệu có đúng không? Khi chúng em học đội tuyển học sinh giỏi, các thầy cô đều khẳng định rằng: một tác phẩm văn học thú vị, hấp dẫn, đó là nhờ vào sự lạ hóa ngôn ngữ. Chẳng hạn thay bằng nói: Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày thì Tản Đà nói Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày. Còn Nam Cao, đoạn tả Chí Phèo và thị Nở gặp nhau bên bờ sông, tác giả đã lạ hóa ngôn ngữ một cách thần tình: “Những đêm trăng như đêm nay, cái vườn phẳng ngổn ngang những bóng chuối đen đen như những cái áo nhuộm vắt tung trên bãi. Và những tàu chuối nằm ngửa, ưỡn cong cong lên hứng lấy trăng xanh rời rợi như là ướt nước, thỉnh thoảng bị gió lay lại giẫy lên đành đạch như hứng tình” (tr.106, Nam Cao toàn tập, Nxb Văn học, 2002; Trong giáo trình trích sai và thiếu “… trên tàu lá chuối ưỡn cong cong thỉnh thoảng bị gió lay lại giẫy lên đánh hạch như là hứng tình” (tr.168). Nếu trong tác phẩm Nam Cao ngôn ngữ lạ hóa ít xuất hiện thì sao lại làm say mê lòng người đến vậy?
Về cốt truyện, em nghĩ Thạch Lam mới là nhà văn thiên về dạng: không có cốt truyện (Hai đứa trẻ). Còn tác phẩm Nam Cao hầu như có cốt truyện. Vậy cơ sở nào để xác định một tác phẩm là có cốt truyện hoặc không có cốt truyện? Em băn khoăn mà chưa thể tự giải đáp được.
Cũng về Nam Cao, ở một chỗ khác cô Huế có nói: “Nam Cao ít tả ngoại hình…” (tr.168). Không biết nhận định như vậy có xác đáng không? Về phần em, em cho rằng Nam Cao là một bậc đại tài khi khắc họa ngoại hình nhân vật. Gương mặt bất hủ của Chí Phèo và thị Nở là một minh chứng rõ ràng. Đọc Nam Cao các nhân vật hiện lên một cách sống động đó là nhờ vào nghệ thuật mô tả nhân vật mà ngoại hình là một yếu tố không thể thiếu. Chẳng hạn đoạn mô tả thị Nở: “Cái mặt của thị thực sự là một sự mỉa mai của hóa công; nó ngắn đến nỗi người ta có thể tưởng bề ngang hơn bề dài, thế mà hai má lại hóp vào mới thật là tai hại, nếu cái má phinh phính thì mặt thị lại còn được hao hao như mặt lợn, là thứ mặt vốn nhiều hơn người ta tưởng trên cổ người. Cái mũi thì vừa ngắn, vừa to, vừa đỏ, vừa sần sùi như vỏ cam sành, bành bạnh muốn chen lẫn nhau với những cái môi cũng cố cho không thua với cái mũi; có lẽ vì cố quá cho nên chúng nứt nở như rạn ra…” ( tr.106, Nam Cao toàn tập, Nxb Văn học, 2002; ở giáo trình trích sai là nức nở, tr.164). Rất nhiều truyện ngắn Nam Cao cho thấy tác giả thiên về mô tả ngoại hình nhân vật.
Khi nói về nhân vật, giáo trình có nhận định: “Phần lớn nhân vật trong tác phẩm Nam Cao đều là con người đa diện, tha hóa hướng thiện, lưỡng khả, lưỡng diện. Đó là con người không chỉ chịu nỗi khổ vật chất mà còn bị lăng nhục về tinh thần, vì miếng ăn – miếng nhục” (tr.155). Em băn khoăn: không biết dùng từ tha hóa hướng thiện trong trường nghĩa của câu trên có đúng không? Về nhân vật, em biết có ba loại: nhân vật chính diện, nhân vật phản diện và nhân vật lưỡng diện. Hay nhất ở Nam Cao là đã xây dựng thành công nhân vật lưỡng diện. Nếu đặt cụm từ tha hóa hướng thiện bên cạnh các kiểu nhân vật như vậy thì cơ sở nào để phân chia nhân vật?
Trên là những băn khoăn của em về những nhận định ở trong giáo trình về Nam Cao – một nhà văn mà em ưa thích. Khi đọc giáo trình, những nhận định đó em thấy không phù hợp với những gì mà em đã tiếp thu ở những giáo viên trước. Em mong nhận được sự giải đáp của quí bạn đọc.

Advertisements

Một phản hồi

  1. Một giáo trình tệ hại như vậy mà được duyệt thông qua, được phát hành giảng dạy tại trg ĐH thì thật là khó hiểu? Nên chăng, ngành giáo dục, hội VHNT VN… phải có ý kiến, ko nên để cách viết lách, giảng dạy như thế làm hại các thế hệ HSSV. Sau khi xem xét nghiêm túc rồi thì nên yêu câu TS Huế thu hồi và hủy ngay ‘tác phẩm bất hảo’ của mình trước toàn trường, để tránh lan truyền độc hại tới nơi khác, xung quanh và mai sau! Rất mong các cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý nghiêm túc những vụ việc tương tự thế này để giữ cho nên văn hóa, nền giáo dục nước nhà ngày một tốt lên chứ đừng xuống dốc mãi thế này thì đau lòng lắm. Than ôi !!!
    trandam hưu trí

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s