TRƯƠNG VĂN LĨNH nhân chứng lịch sử


MAI KHẮC ỨNG

Sinh thời, hễ mỗi lần gặp bác Nguyễn Tạo (Tạo Cuội), nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm Nghiệp, là tôi lại được nghe về Trương Văn Lĩnh với cái chết lạ lùng tại trường Quân Chính Bạch Mai ngày 23 tháng 11 năm 1945.

    Biệt danh Tạo Cuội là do bạn tù Buôn A Ma Thuột gán cho tính lì đòn như sỏi, như cuội của ông mỗi lần bị Pháp tra tấn. 

    Sở dĩ bác cháu tôi thường hàn huyên chuyện cũ vì một người là lão thành cách mạng lâu năm từng vào tù ra khám, một người là nhân viên phòng Nghiên cứu Trưng bày của Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam. Hơn thế! Một bên (Nguyễn Tạo) là người tù vượt ngục, một bên có anh rể Bùi Thính đã từng che dấu cưu mang hai trong số bồn người vượt ngục Đắc Min là Chu Huệ và Nguyễn Tạo.

    Bốn người vượt ngục Đắc Min ngày 04 tháng 12 năm 1942 là Trương Văn Lĩnh, Chu Huệ, Trần Hữu Doánh, Nguyễn Tạo.

   Trần Hữu Doánh bị Pháp bắn chết tại miền tây Nghệ An khi đang tìm đường sang Lào.

   Chu Huệ bị vu rồi bị bắn tại chỗ trong cải cách ruộng đất ở Nghệ An năm 1955.

   Nguyễn Tạo ra đến chiến khu Đông Triều rồi thay tên đổi họ về Hải Phòng hoạt động.

   Trương Văn Lĩnh lên Thái Nguyên tham gia thành lập chiến khu Phú Bình.

   Một người gan lì như sỏi như cuội ấy hễ nhắc đến Trương Văn Lĩnh là lấy khăn lau mắt liền.

   Trương Văn Lĩnh sinh năm 1902 tại xã Nghi Phương, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình Thiên Chúa giáo toàn tòng, sớm nhận ra nỗi đau mất nước. Năm 1924 hưởng ứng phong trào Đông Du Trương Văn Lĩnh đã tìm đường qua Trại cày của Đặng Thúc Hứa ở Phì Chịt, đông bắc Thái Lan. Đặng Thúc Hứa tổ chức dẫn đường số thanh niên xứ Nghệ trong đó có Trương Văn Lĩnh sang Quảng Châu. Phan Sào Nam đã gửi Trương Văn Lĩnh vào học trường Quân sự Hoàng Phố, trở thành sĩ quan của quân đội Tưởng Giới Thạch. Tháng 4 năm 1927 biết được cảnh sát Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch vừa nhận lệnh bắt Lý Thụy, người giúp việc cho phái bộ Borodin (Nga). Trương Văn Lĩnh tức tốc báo cho Lý Thụy biết. Nhờ vậy đang đêm Lý Thụy mới kịp ra khỏi nơi tá túc của mình chạy sang Thái Lan. Bốn năm sau, tại Hương Cảng, Tống Văn Sơ bị mật thám Anh bắt để chuyển cho mật thám Pháp. Biết chuyện, đang đêm Trương Văn Lĩnh đến gõ cửa nhà Luật sư Loseby nhờ “cứu một người Việt Nam yêu nước như một Luật sư người Anh đã từng cứu Muhamad Gandi trước đây” (lời kể của Luật sư Loseby tại viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam năm 1960). Vì lúc kể Luật sư Loseby đã ngoài 80 tuổi nên chỉ nhớ là một thanh niên Việt Nam đến nhà ban đêm nói vậy rồi bỏ đi. Cũng từ chuyện mời Luật sư lạ đời như vậy, nên Luật sư Loseby với tính hiếu kỳ mới đến chỗ tạm giam Tống Văn Sơ.

    (Thuở đó nhiều người đoán rằng anh thanh niên đến gõ cửa báo cho Loseby là Hồ Tùng Mậu – tên ở nhà là Hồ Bá Cự, nhưng bác Nguyễn Tạo đã đính chính ngay người đó chính là Trương Văn Lĩnh. Bởi qua mấy tháng vượt ngục Đắc Min, lần hồi trong rừng Trường Sơn ra bắc, Trương Văn Lĩnh đã kể cho ba bạn đồng hành cùng nghe).

    Năm 1932 Trương Văn Lĩnh được phân công về nước hoạt động thì bị Pháp bắt giam tại nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội) rồi đày lên Lao Bảo, Buôn A Ma Thuột. Năm 1941 thì đưa vào trại Đắc Min.

     Là một trong những người thành lập Chiên khu Phú Bình, Trương Văn Lĩnh được một số thanh niên vũ trang ngày đêm bảo vệ.

    Một lần như thường lệ, Trương Văn Lĩnh ra bên đò Hà Châu để liên lạc với “thượng cấp” theo mật ước thì bị tay chân của Pháp đã chực sẵn đón bắt.

    Oan khuất đối với Trương Văn Lĩnh bắt đầu từ sự cố này.

    Hôm đó Nguyễn Trọng Tĩnh và Hà Thị Quế (về sau là vợ chồng), là thành viên bảo vệ đã bỏ vị trí cảnh giới, Trương Văn Lĩnh không thấy có dấu hiệu bất an, nên yên chí đi thẳng ra bến đò Hà Châu và đã sa lưới.

    Để chạy tội, Nguyễn Trọng Tĩnh và Hà Thị Quế báo cáo lên cấp trên là Trương Văn lĩnh cố tình ra đầu thú.

    Một con người suốt 10 năm bị giam cầm đã tổ chức vượt ngục, nhiều đêm ngủ trên cây để chống thú dữ mới ra đến Thái Nguyên lập chiến khu Phú Bình, khi không khí cách mạng đang sục sôi trên cả nước, bổng dưng lại ra đầu thú! Vậy mà có người tin để vin vào cớ đó mà đổ hô lên án vắng mặt Trương Văn Lĩnh.

    Tháng 3 năm 1045 thể theo yêu cầu của Chính phủ Trần Trọng Kim, người Nhật đã mở cửa các nhà tù Pháp, trả tự do cho chính trị phạm. Trương Văn Lĩnh được Nguyễn Khang vào tận nhà tù Hỏa Lò đón. Mặt trận Việt Minh Hà Nội giành được chính quyền từ tay Chính phủ Trần Trọng Kim, giao cho Trương Văn Lĩnh đứng ra thành lập và làm Hiệu trưởng trường Quân chính Bạch Mai.

    Oái oăm thay, trong số học viên khóa đầu lại có Nguyễn Trọng Tĩnh và Hà Thị Quế. Hai người này nhận ra vị Hiệu trưởng chính là Trương Văn Lĩnh, nên sợ bị vạch mặt vì tội bỏ vị trí cảnh giới tại chiến khu Phú Bình ngày 18 tháng 9 năm 1944, nên đã viết thư nặc danh tố cáo Hiệu trưởng là một tên phản bội cách mạng. Ngoài thư nặc danh hai người này còn vận động môt số học viên hô khẩu hiệu đã đảo Việt gian bán nước.

    Bức xúc quá Trương Văn Lĩnh nghĩ rằng bác ta chính là Lý Thụy, chính là Tống Văn Sơ mà hai lần mình đã cứu nên đã viết thư nhờ xác nhận bản chất trung kiên bất khuất để minh oan cho mình.

    Thư gửi đi mà hàng tuần không được phúc đáp. Trong khi đó từng ngày học viên quân chính cứ ra rả đã đảo Việt gian phản động.

    Ngày 23 tháng 11 năm 1945, Trương Văn Lĩnh nhận được thư bác ta, mừng như mở cờ trong bụng. Nhưng khi mở ra xem thì chỉ vỏn vẹn có mấy chữ nguệch ngoạc viết vào mặt trái bao thuốc lá Caraven:  “Trong lúc đất nước còn bận trăm công ngàn việc trọng đại, chuyện cá nhân sẽ xét sau”.

   Đang uất nhận thư bác ta lại uất thêm, sẵn có tấm khăn phu la đang quàng cổ, Trương Văn Lĩnh  dùng sức kéo của hai cánh tay cho đến phút tắt thở.

    Nguyễn Tạo được tin chạy đến ngay thì đã quá muộn. Không nén được xúc động vừa vuốt mắt vừa khóc tiễn bạn mình.

    Chuyện Trương Văn Lĩnh đã làm để cứu Lý Thụy và Tống Văn Sơ bên Tàu, tất cả những chuyện dọc đường vượt ngục mà Trương Văn Lĩnh đã kể, Nguyễn Tạo trực tiếp tự thuật tại viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam. Rồi một thời sôi nỗi qua đi, nay về già nằm nghĩ lại bổng nhiên tôi tự vấn cớ chi Phùng Chí Kiên, Lương Văn Tri (1941), Trương Văn Lĩnh (1944), Nguyễn Bình (1945) là những người do Phan Bội Châu gửi vào trường Quân sự Hoàng Phố khi về nước hoạt động đều lần lượt gặp nạn. Vì sao?

    Năm 1976, Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam tổ chức biên soạn sách “Di tích Cách mạng Việt Nam”, tôi được phân công viết về nhà ông Đám Thi ở làng Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

    Nhân ngày kỵ ông Đám Thi tôi có về dự. Hôm đó ông Nguyễn Trọng Tĩnh đương kim Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản là con trai ông Đám Thi cũng có mặt. Buổi chiều ra về ông Tĩnh có nhã ý mời tôi cùng lên xe ông. Từ Đình Bảng ra Thị trấn Từ Sơn tôi có gợi lại chuyện Trương Văn Lĩnh bị bắt ở bến đò Hà Châu ngày 18 tháng 9 năm 1944. Ông Tĩnh vẫn khăng khăng đổ lỗi cho Trương Văn Lĩnh rằng: mình đã lật nghiêng nón từ trên đầu sang một bên để báo hiệu có địch nhưng Trương Văn Lĩnh vẫn cố tình ra bên đò Hà Châu.

    Tôi nhớ rõ tự thuật của bác Nguyễn Tạo là Trương Văn Lĩnh ra khỏi nơi làm việc quan sát không hề nhận thấy dấu hiệu bất an mới ra bến đò rồi bị bắt, nên đã cãi lại và thẳng thắn nói với Nguyễn Trọng Tĩnh rằng chính ông và bà Quế vợ ông đã bán đứng Trương Văn Lĩnh. Nói xong tôi bảo anh lái xe dừng lại rồi xuống xe bên ngoài thị trấn Từ Sơn, không một lời chào.

    Tôi tưởng Nguyễn Trọng Tĩnh sẽ cạch mặt tôi. Không ngờ hai hôm sau ông ta đến Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam tìm tôi để thanh minh làm lành.

    Thiết nghĩ, những người tự vệ như thế không hề bị khiển trách mà còn được nâng đỡ để leo lên đến chức Trưởng ban Kiểm tra Đảng (vợ), Tồng Cục trưởng Tổng cục Thủy sản (chồng), quả là đặc ân. Từ đó tôi nghĩ cơ sở cách mạng Đình Bảng trong đó có nhà ông Đám Thi là thuộc tuyến Pắc Bó nên được ưu đãi hơn bất cứ cơ sở cách mạng nào khác.

    Một điều đáng lưu ý nữa là vì lẽ gì mà bác ta lại không nhớ Trương Văn Lĩnh chính là người đã cứu Lý Thụy và Tống Văn Sơ? Nếu nhớ người đó là ân nhân thì tại sao lại viết vài chữ nguệch ngoạc vào bao thuốc lá?

     Trương Văn Lĩnh và Nguyễn Tạo đã là người thiên cổ. Nhưng linh hồn các ông hẵn còn uất hận bởi sự phản bội của chính đồng chí mình. Tôi viết những dòng này thể theo tấm lòng Nguyễn Tạo đối với Trương Văn Lĩnh và cũng là để góp một tiếng nói hầu mong hậu thế soi xét theo chuẩn mực công bằng trước lịch sử.

    Bất hạnh của hai ông cũng là bất hạnh của toàn dân tộc. Cái chết của Trương Văn Lĩnh ngày 23 tháng 11 năm 1945 chính là nhân chứng lịch sử đáng để cho mọi thế hệ Việt Nam suy ngẫm.

                                                          Montreal, 13 tháng 6 năm 2013

                                                                       Mai Khắc Ứng

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s