Đến Geneve nhớ tiếng sáo Võ Thành Minh


Kết quả hình ảnh cho thành phố geneva của thụy sĩ

Thành phố Geneva

MAI KHẮC ỨNG

Thành phố Geneve nằm mút “đuôi con thỏ” Thụy Sĩ. Hồ Leman rộng như phá Tam Giang của Huế. Một đoạn bờ phía đông nam bên kia thuộc lãnh thổ nước Cộng hòa Pháp. Ngoạn mục khỏi bàn. Điều tôi ngưỡng mộ hơn là sự thanh bình, thiện chí theo kiểu “bán chị em xa, mua láng diềng gần” của hai quốc gia châu Âu lần đầu tiên tôi đến. Sóng vỗ bên này bên kia cùng nhịp. Chẳng cần gì để ngăn. “Nhất cận thân. Nhì cận lân”. Bà con quê tôi thường mong muốn thế. Cận lân mà thân thiện thì yên ổn suốt ngày đêm. Cái biên giới nước không có cột mốc mà nghìn năm vẫn êm như nước. Người Pháp cao thượng. Người Thụy Sĩ hiền lành vô tư. Tính nhân văn có từ ngọn nguồn sự sống. 

    Đi dọc Avenue de la Paix, tôi nghĩ vẩn vơ về mỏ đồng Tụ Long, về quần đảo Hoàng Sa, về Ải Nam Quan, về thác Bản Giốc về cột mốc biên cương phía bắc nước mình. Phía đó láng diềng thì lớn mà tâm địa lại bé nhỏ nên cột mốc không chân mà vẫn chạy, không cánh mà vẫn bay. Chạy thụt lùi. Bay cũng thụt lùi. Thế mới lạ. Có khi lén lút. Có khi công khai. Chôn rồi lại nhổ.  Nhiều lẽ lắm. Chung quy chỉ để thực hiện phương châm “láng diềng bốn tốt”.

                                    “Bên ni biên giới là mình

                                    Biên kia biên giới cũng tình quê hương”

    “Đại thi hào” xứ Huế viết thế thì biết thế. Tình quê hương lần đến đâu biết đến đó. Biết để bụng không nên nói ra. Nói ra mất lòng dân là một lẽ. Mất ghế thì còn gì để “Vì nhân dân quên mình”.

    “Sở kỷ bất dục. Vật thi ư nhân”. Người bên đó nói vậy mà không phải vậy. Sự làm của họ té ra là ngược đời mowis nên “láng diền 4 tốt”.

    Ngày trước người nước ta coi láng diềng phương bắc là thiên triều nên hàng năm phải biện lễ vật tiến cống những thứ mà thiên triều chuộng. Sừng tê, ngà voi, trầm hương, tổ yến. Có khi còn đúc cả người vàng. Ngày nay với tinh thần quốc tế vô sản cao cả, tình đồng chí bao la không biên giới, hậu duệ thiên triều không màng ngà voi, sừng tê, kỳ nam, trầm hương nữa mà chỉ cần lãnh thổ, lãnh hải, hải đảo, thềm lục địa. Những thứ đó thắt chặt tình đồng chí hơn, thể hiện đầy đủ sự tin cậy của “láng diềng bốn tốt” hơn. Biết thì yên. Không biết thì bất yên. Nhất là chổ ngồi.

    Láng diềng xấu chơi, quả thật bất hạnh. Không phải thời nay mà suốt cả nghìn năm. Nghìn năm “mềm nắn, rắn buông”. Cứng cõi thì còn. Ươn hèn thì mất. Lấn cướp là chuyện thường ngày của “láng diêng bốn tốt”. Ngày trước ông cha ta, dân ta từ trong triều ngoài nội ai cũng nghiệm ra điều đó. Trong trường ký lịch sử hễ thời nào mang ơn nặng thì thời đó lệ thuộc sâu, mất rừng, mất biển là chuyện lẹ như đương nhiên.

    Hàng số 1202 của tòa nhà đứng bên con đường De la Paix thênh thang này như được đúc bằng bạch kim gắn trên tường cổng với hai dòng chữ tráo trở đè lên nhau.

    NATIONS UNIES – UNITED NATIONS

Nhà nghiên cứu Mai Khắc Ứng

Nhà nghiên cứu Mai Khắc Ứng

    Thì ra đây là trụ sở Liên Hiệp Quốc. Năm mươi bảy năm trước, nơi ngôi nhà cao sang phía trong rừng cờ kia, người ta đã ký Hiệp định cưa đôi nước Việt khi cuộc chiến Việt – Pháp chín năm có dấu hiệu sắp bước vào phần kết. Cả hai thấm mệt định ngồi lại với nhau để tìm một lối ra sao cho khỏi xấu mặt. “Láng diềng bốn tốt” không muốn vậy. Bởi họ biết rằng thôi đánh nhau mà chỉ do hai nước Việt với Pháp bàn bạc thỏa thuận để Việt Nam độc lập trong khối Liên hiệp, thì Pháp vẫn là cái ô che cho cả xứ Đông Dương. Cột mốc biên giới nhà Thanh đã ký với Pháp đẩy về phía nam sao được. Cứ phải đứng ngoài mà nhìn như tám mươi năm người Pháp có mặt ở Đông Dương thì tức anh ách. Chín năm người ta bỏ súng đạn, cơm áo gạo tiền cho mình tiến hành cái gọi là cuộc “kháng chiến thần thánh chống ngoại xâm giữ nước” đâu phải để người Việt thênh thang huênh hoang mà chơi với Pháp. Người Việt đánh Pháp và người Việt đánh người Việt cho đến người Việt cuối cùng mới đúng ý láng diềng. “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh” và “Dẫu đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập” mà. Đương nhiên khi đã độc lập với Pháp thì rõ ràng đơn thương độc mã trước “láng diềng bốn tốt”. Bởi đó là điều mong thường xuyên mà “bạn” rất muốn. Vả lại thôi đánh đế quốc Pháp là phản bội “vô sản toàn thế giới liên hiệp lại” làm sao mà “đại đồng” để “Việt Nam, Trung Hoa núi liền núi sông liền sông. Chung một biển Đông chung tình hữu nghị” được. Việt Nam phải là “láng diềng bốn tốt” như Tân Cương, Nội Mông, Mãn Châu, Tây Tạng thuở nào. Việt Nam tự ý thôi đánh nhau với Pháp là “láng diềng bốn tốt” xôi hỏng bỏng không liền. Thế là Hội nghị Hòa bình về ba nước Đông Dương nổi lên từ sáng kiến rất chi là kịp thời. Vô tư, thiện chí, hữu nghị, hòa bình trương lên bề thế lắm. Lại thêm một cái tài nữa. Chọn thành phố Geneve của đất nước hiền lành, thanh bình nhất thế gian như Thụy Sĩ làm nơi nhóm họp thì ai mà không tin vào sự thiện chí. Nghi vào đâu được.

   Đứng trước số nhà 1202 Avenue de la Paix, nhìn vào là rừng cờ năm châu bốn biển (nghe nói 193 lá quốc kỳ đính trên 193 cái cột cao to bằng nhau), day mặt trở ra phía quảng trường nước, lại thấy ngay cái ghế dựa hai nan khổng lồ đặt chểm chệ giữa thanh thiên bạch nhật. Ghế cao dễ chừng trên mười mét tây. Vài ba người đi bộ dắt xe đạp luồn qua bên dưới chắng hề hấn gì. Cao to mà đường bệ nhưng lênh khênh bởi chỉ còn ba chân. Chân bên trái phía trước bị gãy, gây nên sự chông chênh khập khiểng. Chắc chẳng phải chơi ngông. Ai đó đã nghĩ ra và cả cộng đồng Liên Hợp Quốc có đồng thuận mới chọn cái ghế gãy chân làm biểu tượng. Vui chảy nước mắt. Ghế gãy với những dòng nước ứa lên từ mặt hồ như con mắt đời đang khóc làm hợp cảnh chắc để nói lên điều gì đó. Nhân loại ngồi trên trái đất như ngồi trên cái ghế ba chân. Yên mà bất yên bởi cấu tạo địa tầng thì ít mà bởi sự tham lam, nham hiểm, xảo trá của con người thì nhiều.

    Ghế gãy chân gợi lên trong tôi tâm địa của người thiết kế và đạo diễn cái Hội nghị Hòa bình năm 1954 về ba nước Đông Dương tại thành phố Geneve này. Đuổi được người Pháp ra khỏi Việt Nam, Lào, Cămpuchia là nhổ được cái gai tre cắm vào mắt “bạn” suốt từ nửa cuối thế kỷ mười chín đến nửa đầu thế kỷ hai mươi. Cắt đôi một đất nước đương nhiên hai nửa đều đau. Càng đau càng thấm. Đánh nhau để hàn gắn là điều tất phải xẩy ra. Hai nửa nước đánh nhau là “huynh đệ tương tàn”. Có tương tàn mới có diệt vong. Người Hán cần không gian sinh tồn cho con cháu họ mà không cần cư dân ngoại bản. Ấy là “lão bạng tương trì, ngư ông đắc lợi”. Hội nghị Geneve về Đông Dương được dàn cảnh có lớp có lang, “kín miếng võ” lắm. Đất nước phát minh ra thuật “Ngọa sơn quan hổ đấu” thật tài. Đánh cho đến người Việt cuối cùng là điều người ta mong đợi. Người Tàu bên ngoài. Người Tàu bên trong nhất nhất là một.

    Tôi là lớp tân binh vét vừa vào đến Mường Thanh sau đêm Tiểu đoàn 439 thuộc Trung đoàn 98, Đại đoàn 316 hết quân trên cao điểm C2.

    “Hít ngay mấy hơi thuốc súng thì hết sợ”. Anh Nguyễn Văn Nuôi, người đồng hương xứ Nghệ là lính của Đại đội 84 trợ chiến còn sót lại làm khung bày cho chúng tôi như vậy. Hít thì hít. Sợ cứ sợ. Ở nhà đi học, đi chăn bò tôi còn sợ gây gỗ với bạn, huống hồ ra trận đánh nhau bằng gươm, bằng súng với giặc.

    Pháp hàng. Hú vía.

    Trong những ngày trú quân tại xã Thọ Lâm, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, hễ  nghĩ đến đêm cao điểm C2 đầu tháng 5 là tôi ớn lạnh. “Con trong lừ đỏ mắt. Con ngoài lừ ngoắt đuôi”. Tâm trạng tôi giống như con cá trong lừ. Muốn chui ra mà không dám. Bao nhiêu thứ ràng buộc hữu hình và vô hình. Sắp phải xa sông Chu sang Thượng Lào, chưa nói súng đạn của quân thù mà mưa rừng gió núi cũng đủ xô tôi ngả. Trước ngày lên đường, tôi qua phố Đầm gửi thư về nhà. Không dám nói rõ nhưng trong tâm trạng coi như là lời cuối cùng gửi mẹ.

        Chúng tôi sắp hành quân ra trận thì chữ ký của các vị trưởng phái đoàn Chu Ân Lai (Tàu), Phạm Văn Đồng (Bắc Việt), Viachebslav Molotov (Liên Xô), Anthony Eden (Anh), Georges Bidault (Pháp), Phumi Sananikone (Lào), Tep Than (Cămpuchia) có hiệu lực. Tin đình chỉ chiến sự loang nhanh, có nghĩa là nghỉ đánh nhau. Hoàn hồn. Tôi tưởng như mơ, không tin vào lỗ tai mình nữa. Phúc nhà. Tôi thầm nghĩ thế. Vào mấp mé Điện Biên thì xong trận. Chuẩn bị sang Thượng Lào thì ngừng chiến. Tôi mang ơn những ai đã “chế” ra Hội nghị Geneve. Với tôi, lúc đó mấy tiếng Geneve sao mà thiêng liêng, sao mà ân tình đến vậy. Tôi luôn luôn thầm nhắc Geneve và mong ước một lần đươc hít thở khí trời, được hôn mảnh đất Geneve.

    Và, cuối tháng 7 năm 1954 ấy, từ Thọ Xuân, chúng tôi xuống Sầm Sơn đón người miền Nam tập kết. Hòa bình rồi, lính ta hành quân ban ngày, nhưng còn dè chừng nên cự ly cách nhau năm mét một người. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy đoàn quân dài dằng dặc. Vui ơi là vui. Khỏi sang Lào nghĩa là khỏi ra trận. Hành quân dưới nắng. Về biển là về gần nhà. Hoan hô Geneve. Thời gian sau, Đại đoàn 316 của chúng tôi lại được lệnh ra vùng Lạc Đạo, Lạc Quần, Nam Định chống cưỡng ép di cư. Tôi không thấy người ép (có lẽ họ giấu mặt) mà chỉ thấy người chống, trong đó có tôi. Nhiều lần người chống được người “bị ép” hất cả chậu nước rửa bát vào mặt. Họ bỏ phiếu tổng tuyển cử bằng chân đấy.

    Tổ tôi trú quân trong một ngôi nhà nhỏ ven đê. Nhà chỉ còn một bà cụ già trên tám mươi tuổi, con cháu định cõng ra Hải Phòng nhưng gặp nhiều người “chống” quá, đành bỏ cụ bà ở lại một mình để đi ngang rẽ tắt cho khỏi bị chống. Theo lời bà cụ nói “gái trai, dâu rể, cháu chắt, nội ngoại đều đã ra cả ngoài Phòng” rồi. Vướng cụ họ bị chống không đi được. Kết quả chống cưỡng ép di cư chỉ giữ được một mình cụ bà ở lại không nơi nương tựa. Rồi sẽ ra sao với sự sống trong ngôi nhà quạnh hiu bên bờ sông Ninh Cơ này? Cụ già như bà ngoại tôi. Một chút trắc ẩn dấy lên, tôi muốn cõng cụ ra Hải Phòng nhưng nhát gan nên không dám. Hôm sau chúng tôi về lại Nho Quan để lên Xích Thổ, Đầm Đa chặt nứa làm doanh trại. Cùng thời gian này, ở Hà Tĩnh quê tôi, bần cố nông và trung nông lớp dưới đã được “phóng tay phát động” “có khổ nói khổ, nông dân vùng lên” đang bước tới đỉnh cao cuộc cách mạng dân chủ do bác Hồ chỉ bảo. Tôi được về vườn khi cả gia đình nội ngoại đều đang gặp đại nạn. Có giây phút bâng khuâng tôi đã tự trách mình sao không cõng cụ bà Lạc Đạo, Nam Định đi tìm con cháu!

      Cái ghế gãy chân tuy không có một dòng ghi chú sao lại nhiều lời vậy. Nhân loại bình yên nhưng khó bền. Ai đó có tâm địa không bình thường hoặc thiếu thiện chí xô nhẹ là đổ liền. Hòa bình và chiến tranh bấp bênh, chông chênh vậy đó. Tự nhiên tôi ngộ ra nhiều điều. Cưa đôi nước Việt. Lập nên giới tuyến. Xác định khu phi quân sự. Bề ngoài có vẻ tiêm tất lại hàm chứa một ác ý sâu xa. Hèn chi, ngay khi đang ký, ông bạn “láng diềng bốn tốt” đã xui ta “vừa đánh vừa đàm”, “ngưng chiến là thời cơ tấn công”. “Bí mật, bất ngờ” là sách lược, chiến lược, chiến thuật muôn thuở. Nghệ thuật quân sự Đông Phương nằm ở đó. Binh pháp Tôn Tử cũng nằm ở đó. Chung quy lại là bên nào biết coi chữ ký của mình chỉ là trò ảo thuật, bên đó sẽ giành thế chủ động. Ta tâm đắc lắm. Ta thần phục “anh” ta lắm lắm. Muốn gây chiến phải tổ chức cho nhiều lực lượng nằm vùng. Lực lượng nằm vùng như tế bào ung thư nấp trong cơ thể.

    Cuộc chiến tàn bạo mà khốc liệt suốt hai mươi năm sau ngày ký Hiệp định đình chỉ chiến sự tại khu nhà có rừng cờ nhân loại kia vào tháng 7 năm 1954 thì ra đã nằm trong mọi toan tính của những người giàu mưu lược. “Lão bạng tương trì. Ngư ông đắc lợi”. Thâm Nho. Thì ra là thế!

    “Gươm nào chém được dòng Bến Hải.

    Lửa nào thiêu được dải Trường Sơn.

    Căm hờn lại giục căm hờn.

    Máu kêu trả má đầu van trả đầu”

                                  (Tố Hữu)

    Thơ như thế là khí thế như thế. Người bày ra để ký cũng là người lớn tiếng kêu. Lửa cháy đổ thêm dầu. Không đánh nhau to sao đặng. Nằm vùng. Đột nhập. Đường mòn trên rừng. Đường mòn trên biển.“Vì miền Nam ruột thịt”…đều bắt nguồn từ “Căm hờn lại giục căm hờn” mà thôi. Thế là sáng kiến thường xuyên phát huy. Thuở trước bên thành Batđa có chuyện “một nghìn lẻ một đêm”. Ta cũng thừa mấy “nghìn lẻ một đêm” xé rào vượt tuyến. Người xâm nhập thì âm thầm mà thực hiện. Đối phương lập hàng rào điện tử để ngăn. Bên này lên án bên kia vi phạm Hiệp định y như chuyện dân ta đã đưa vào ngạn ngữ “vừa đánh trống vừa la làng”. Cứ thế mà tố nhau. Cứ thế mà lấn tới. Cả hoàn cầu ngơ ngác chẳng biết đâu mà lần. “Láng diềng bốn tốt” thầm lặng giúp ta xây dựng “Thế giới đại đồng” với tinh thần “Quốc tế vô sản cao cả”.

    Sự thể là cắt ra chỉ cần dăm ba chữ ký. Nối lại mất dăm bảy triệu sinh linh. Ta đánh ta. Đồng chí của ta không chỉ động viên, cổ vũ mà còn cho ta dư thừa súng đạn.

     Tôi vốn hời hợt với mọi thứ trên đời. Vậy mà cái ghế gãy này lại làm nên băn khoăn suy ngẫm.

        Nhìn vào rừng cờ nhân loại, nghĩ lại hàng trăm con người trong chín phái đoàn thuộc chín nước nhóm họp để bàn về sự thể nước mình, tôi cứ nghĩ đến câu ngạn ngữ dân gian nhà quê “phân nhà đưa cho gà hàng xóm bươi” sao mà hợp với tình cảnh nước ta lúc này vậy.

   Trần Văn Đỗ, trưởng đoàn Chính phủ Quốc gia Việt Nam có lẽ lúc đó là người duy nhất nhìn ra hậu họa của sự chia cắt đất nước mới lớn tiếng tuyên bố:

        “Chính phủ Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận một cách chính thức rằng Việt Nam long trọng phản đối cách ký kết Hiệp định cùng những điều khoản không tôn trọng nguyện vọng sâu xa của nhân dân Việt Nam. Chính phủ Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận rằng chính phủ tự dành cho mình quyền hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc thực hiện thống nhất, độc lập và tự do cho xứ sở

   Tiếc thay tấm lòng trung trinh rất mực của Trần Văn Đỗ không ai chịu nghe bởi không ai đủ tầm nhìn xa mà chia sẻ. Vả lại “trực ngôn thì nghịch nhĩ”. Tiếng nói đầy nhân tâm và trách nhiệm của ông bị gạt ra ngoài lề trước sự hể hả của Chu Ân Lai, Phạm Văn Đồng và sáu phái đoàn có kẻ đắc chí, có kẻ a dua.

    Riêng Bedell Smith từ bên Mỹ sang như đã biết cái tâm địa sâu xa “cắt để mà nối, đình để mà chiến” của ai đó nên chỉ lảng vảng bên ngoài khồng ngồi vào bàn cùng ký. Sự đoán của ông không bao lâu sau đã hiện lên trên toàn cõi Đông Dương:

    “Sẽ coi mọi sự tái diễn của các hành động bạo lực vi phạm Hiệp định là điều đáng lo ngại và là mối đe dọa nghiêm trọng đối với hòa bình và an ninh quốc tế”.

    Năm mươi bảy năm đã qua, tuyên bố của Trần Văn Đỗ và kết luận của Bedell Smith lần lượt đã xẩy ra. Nỗi đau chia cắt quằn quại trong tâm can Trần Văn Đỗ lẽ ra được chia sẽ bởi “nhiều điều phủ lấy giá gương”, nhưng vì tinh thần “quốc tế vô sản cao cả” đã che khuất lương tri và tình nghĩa con Lạc cháu Hồng.

   Day dứt vô ích bên cái ghế ba chân, tôi thả bộ ra phía hồ Leman. Hồ rộng. Mặt nước phẳng lặng như tấm gương soi. Chim hải âu thong thả chớp gió giữa trời xanh mênh mang. Những cánh buồm trắng kéo du thuyền lướt trên gợn sóng. Một màn nước trắng xóa như tấm voan mỏng chốc chốc re lên bất chợt giữa mặt hồ phụ họa với cánh chim, cánh buồm soi trên mặt nước phẳng lặng. Tại đây, bên bờ hồ này và có lẽ ngay trên bãi cỏ xanh nơi tôi đang đứng, biết đâu cũng chính là nơi Võ Thành Minh đã nhịn ăn, nằm mà thổi sáo “Hận sông Gianh” để phản đối Hiệp định Geneve chia cắt non nước Việt.

Đây sông Gianh đây biên cương thống khổ. Đây sa trường đây nấm mộ người Nam

    Đã xa rồi thế kỷ Hai mươi đau thương và tủi hận của tiếng sáo Võ Thành Minh, tôi vẫn thấy lòng mình nhức nhối, giấm giứt, giằn vặt như cột nước run rẫy trên mặt hồ phẳng lặng kia. Không có hương và không được phép nổi lửa, tôi lặng lẽ (lén lút thì đúng hơn) ngắt một bông hoa nhỏ trong chậu kiểng đặt trên trụ lan can, thả xuống mặt hồ để dâng lên anh linh Võ Thành Minh mà theo tôi nghĩ vẫn còn vĩnh hằng giữa cõi thiên thu. Nụ hoa dập dềnh trên lăn tăn sóng như xao xuyến, bâng khuâng miên man trên mặt hồ Leman này cho dù hương hồn Ông đã hòa tan trong diễm thúy Hương Giang bốn mươi ba năm trước (1968).

    Màn nước mỏng lại bung lên nhiều tầng, nhiều lớp đứng thẳng, gợi nên trong tôi bản hợp xướng phối âm với tiếng sáo Võ Thành Minh năm ấy.

    Sau phút tưởng niệm người quá cố, tôi lần tới bến du thuyền múc một chai nước Geneve để mang về Huế. Chai nước trong suốt không mầu, không mùi vị, nhưng tôi coi đó là thấu kính đủ lưu giữ dung nhan và ngôn ngữ các hạng người tham dự cái gọi là hòa hội Geneve, 1954.

    Và, cho dù không biết làm thơ, trước khi tạm biệt hồ Leman, tôi đã thầm lặng gửi vào sóng nước, vào gió mây của xứ sở thánh thiện này vài lời thay một nén tâm nhang tưởng nhớ Võ Thành Minh, Nghệ sĩ – Hiệp sĩ nặng lòng với non sông đến phút cuối đời.

Màn nước bung lên giữa mặt hồ

Tưởng như vạn vạn cánh tay hô

Tưởng như tiếng sáo thiên thu hận

Non nước tìm Anh chỗ đứng xưa!

                                                                   Geneve, 26-8-2011

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s