40 NĂM, THẤY ĐẸP MÀ VẪN THẤY BUỒN


NGUYỄN TRỌNG TẠO

Nguyễn Trọng Tạo và Du Tử Lê, Hà Nội, tháng 9.2004

Bạn đang nghĩ gì vậy? Tôi đang nghĩ về những người lính 30 tháng Tư. Thống nhất, hòa bình họ không còn phải đánh lẫn nhau nữa. Nhưng một số ra đi mặc cảm “thiếu quê hương”. Một số hân hoan quá thái với 2 từ “chiến thắng”. Một hố sâu ngăn cách đang lấp dần, nhưng 40 năm vẫn chưa lấp hết. Tôi buồn. Mấy đồng đội của tôi gặp nhau hôm qua cũng kêu “buồn”. Đêm qua xem thi pháo hoa quốc tế ở Đà Nẵng (qua tivi) thấy đẹp mà vẫn thấy buồn.

Nhớ cách đây gần 30 năm họa sĩ, nhà văn Khánh Trường (thiếu tá dù) mở tạp chí Hợp Lưu bên Cali với ý tưởng rất tốt, tôi và Hoàng Phủ Ngọc Tường đã ra tận sân bay Phú Bài đón anh về chơi Huế. Lại nhớ nhà thơ Du Tử Lê (vốn làm báo Tiền Tuyến, QLVNCH) khi đến nhà tôi ở Huế, nói 2 lần trước về Huế định gõ của nhà tôi và Hoàng Phủ Ngọc Tường nhưng cứ ngại CS… Lại nhớ những câu thơ của anh lính Thiếu Khanh mà tôi tình cờ đọc được từ trước 1975 “Nếu không có con/ Biết lấy ai làm chứng cho ba đã có mặt trong đời”, và:

“Anh đi ném bom xé nát trăm miền
Rồi về dưới đó mua cành hoa nhân tạo
Sáng mồng một Tết tặng em”

Thực ra anh không phải là lính không quân… Vậy mà mãi 37 năm sau tôi mới được gặp anh trong một hội nghị văn học quốc tế. Rồi Nguyễn Bắc Sơn ở Phan Thiết hẹn hò nhau mãi mà chưa có dịp gặp nhau…

Và nhiều văn nghệ sĩ “phía bên kia” tôi đã gặp, chẳng có cách chia gì.

Chúng tôi là những nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ gặp nhau như quen nhau từ lâu lắm rồi, bởi cùng chung tâm hồn nhân văn, yêu người, yêu đời, yêu nước. Dù đã từng ở hai chiến tuyến, nhưng vẫn là con một nhà văn nghệ, con một nước máu đỏ da vàng. Có gì ngăn cách đâu. Có ai đó nói rằng, trong ngoại giao nhân dân, văn nghệ sĩ là những sứ giả tuyệt vời, đi trước cả các nhà ngoại giao. Có lẽ là vì tấm lòng chân thật và rộng mở của họ.

Bây giờ nhiều người bạn văn như vậy đều đã già. Trong một hội thảo về văn học chiến tranh do Hội Nhà văn VN tổ chức cuối năm 2014, tôi đã đề nghị nên tổ chức cho nhà văn cả “hai phía” cùng tham gia, được khá nhiều nhà văn ủng hộ, nhưng vẫn chưa làm được. Hôm đó tôi có đọc mấy câu thơ vui mà đau của nhà thơ Anh Ngọc khiến mọi người rất thú vị: “Ta già địch cũng già rồi/ Dắt nhau đến trước ông Trời phân bua/ Trời cười đã biết hay chưa/ Thắng thua thì cũng đều thua ông Trời”.

Buồn vậy đó, một thế hệ chiến tranh đã già, đã chết và đang chết dần theo tuổi tác mà ông Trời ấn định. Các bạn trẻ sinh sau 1975, ngày hôm nay 30 tháng Tư, bạn đang nghĩ gì vậy?

37 NĂM TÔI MỚI GẶP THIẾU KHANH

NGUYỄN TRỌNG TẠO: Khoảng 1973-1974 tôi tình cờ có được tập thơ Trong Cơn Thao Thức của Thiếu Khanh. Tập thơ đã rách bìa, và cuối tập thấy ghi in ở Đà Nẵng 1971. Khi đó cuộc chiến tranh đang hồi ác liệt, tôi là bộ đội và Thiếu Khanh chắc là “lính Cộng Hòa” – vì thơ anh là thơ của một người lính. Tập thơ của anh hấp dẫn tôi vì sự chân thật đến nghẹt thở của một người lính chiến. Từ chuyện hành quân, nổ súng, ném bom đến tin vợ sinh con khi ba đang trong trận đánh đều được anh viết chân thật và và lay động tận tâm can. Lúc đó tôi cũng đã làm thơ, đã có thơ in báo và đang chuẩn bị in một tập thơ lính. Đọc Thiếu Khanh, tôi giật mình khâm phục, ước gì viết được những câu thơ gan ruột như anh. Những câu thơ đến giờ tôi còn nhớ:

“Nếu không có con
Biết lấy ai làm chứng cho ba đã có mặt trong đời”

Chỉ có người lính chiến mới nhận ra được cái điều tưởng như đơn giản ấy. Đạn bom đã cướp đi biết bao người lính trẻ “chưa một lần được hôn” (Phùng Quán), họ thành liệt sĩ hay thành vô danh trong suốt cuộc chiến tranh dài như là họ chưa hề có mặt trong đời. Bởi vì cuộc chiến thật khốc liệt, không biết sống chết lúc nào:

“Véo vào da thịt thấy đau
Da thịt còn đau – dấu hiệu sống còn”

Và cái nghịch lý chiến tranh đã tạo nên biết bao bi kịch người lính, kể cả tình yêu mà mình luôn nâng niu trân trọng:

“Anh đi ném bom xé nát trăm miền
Rồi về dưới đó mua cành hoa nhân tạo
Sáng mồng một Tết tặng em”

Những câu thơ chua chát và cay đắng thật hiếm có trong cuộc chiến!

Nhiều lần tới Đà Nẵng, tôi hỏi thăm xem có ai biết Thiếu Khanh không. Năm 1984, nhà thơ Đoàn Huy Giao (con rể nghệ sĩ Hoàng Châu Ký) bảo tôi là có biết anh nhưng không biết Thiếu Khanh hiện đang ở đâu. Rồi lâu quá, tôi nghĩ chắc anh vượt biên hoặc đi ra nước ngoài theo diện HO. Tuy vậy, thỉnh thoảng tôi vẫn đọc những câu thơ của anh khi nói chuyện về thơ lính. Những câu thơ luôn nhận được sự đồng cảm và thán phục của công chúng.

Mãi đến đầu 2010, trên một chuyến xe chở đoàn nhà văn từ Hà Nội đi dự Đêm Thơ Quốc Tế ở Hạ Long, tôi ngồi ghế trước anh ngồi ghế sau mà không hề biết nhau. Xe gần đến Tuần Châu tôi hỏi anh tên gì? Anh rất hiền từ nói tên là Thiếu Khanh, khiến tôi ngạc nhiên vô cùng. Và khi biết tên tôi anh cũng ngạc nhiên không kém. Hóa ra sau này Đoàn Huy Giao cũng đã kể cho Thiếu Khanh là tôi đã có lần tìm anh.

Tôi đọc thuộc những câu thơ gần 40 năm của anh, và anh gật gù đọc nối tiếp. Anh bảo nhiều bài thơ xưa anh không còn nhớ nữa, nhưng những câu thơ tôi thuộc thì anh vẫn nhớ. Hóa ra anh vẫn ở Việt Nam. Sau chiến tranh anh đi làm rẫy 22 năm rồi mới xuống Sài Gòn làm nghề dịch sách văn học, sách từ điển, và vẫn thầm lặng làm thơ. Thơ của anh vẫn nồng hậu và lãng đãng chất lính hào hoa xưa. Xưa “Yêu em ta bỗng thành thi sĩ/ Thơ lính hong ngời mắt mỹ nhân“, và nay thì: “Chỉ hai đứa mình cũng đủ thành giao hưởng/ Mỗi nốt vui khởi xướng cả trăm bè”.

Chúng tôi du thuyền ra Hạ Long, ngồi cáp treo lên Yên Tử rồi chụp ảnh kỷ niệm hai người lính hai chiến tuyến xưa, nhưng thơ thì không còn ranh giới nào cả, bởi thơ là điểm gặp nhau chung nhất của con Người.

Chiều nay tôi nhận được mail và tấm hình anh gửi. Lòng cảm động như nhận thư của người yêu. “Sự gặp gỡ của hai chúng ta trong dịp này khiến tôi hết sức xúc động, nó làm cho những ngày ở Hà Nội của tôi thật có ý nghĩa mà nếu trước đó tôi không đi dự chắc là tôi không biết mình đã đánh mất một điều gì. (Tôi đã định không đi dự hội nghị này vì … sợ không kịp hoàn thành một tác phẩm đang dịch dở dang. Về tới nhà tôi vội lao vào làm việc ngay cho kịp). Tấm ảnh Tạo gửi tôi, năm người chúng ta thật đẹp, và tất cả cùng rất vui. Tôi cũng gởi cho Tạo tấm ảnh chúng ta chụp ở núi Yên Tử. Tôi nhớ chúng ta có chụp một tấm ảnh nữa trước cổng Thiền Phái Trúc Lâm (?), nhưng tôi chưa tìm ra!”

Vâng 37 năm người viết và người đọc mới gặp nhau mà như đã chơi với nhau từ lâu lắm…

Hà Nội, 21.1.2010

(Ảnh trong bài: Nguyễn Đình Toán)

37 năm mới gặp nhau.

5 nhà thơ: Nguyễn Hoa, Thiếu Khanh, Hoàng Hưng, Nguyễn Trọng Tạo, Hữu Thỉnh.

THIẾU KHANH: Tên thật Nguyễn Huỳnh Điệp. Sanh năm 1942. Tại Bình Thạnh, Tuy Phong – Bình Thuận. Hiện cư ngụ tại Sài Gòn.

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

·  Thơ: Khơi Dòng (chung với Thu Lâm và Nguyên Thi Sinh, Montreal Canada 1968)

·  Trong Cơn Thao Thức (Da Vàng – Đà Nẳng, 1971). Tác phâm được in tại Đà Nẵng vì đó là quê hương người bạn đời của nhà thơ.

·  Một số tác phẩm dịch thuật, Từ Điển Cụm Từ Việt-Anh (ký Nguyễn Huỳnh Điệp).

Advertisements

Một phản hồi

  1. Bọn cướp giật thì thế nào không biết ! Nhưng, những lành dân chúng tôi, lần nào vào hay qua Hà Tĩnh và các tỉnh Miền Trung cũng vào Ngã ba Đồng Lộc, Nghĩa trang Liệt sỹ Trường Sơn … Lần nào cũng háo hức như lần đầu. … Tất cả đều im lặng thắp hương, mắt thấm lệ, và xót lòng suy ngẫm …
    Nén hương ơn ư ? các Anh, Chị đâu cần ơn huệ. Nén hương tạ lỗi ư ? Các Anh Chị đâu phải quan tòa. Nén hương cầu ư ? Các Anh Chị đâu quyền ban phúc lộc ? Và, Hương cứ thắp, khói cứ bay, bay về đâu không biết …

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s