• Chuyên mục

  • Các bài viết nổi bật

  • RSS Hội Ngộ Văn Chương

    • TEX 07.11.2018
      123
    • Phùng Gia Lộc và Nguyên Ngọc 08.09.2018
      ĐÕ NGỌC THỐNG Thế là đúng 30 năm tính từ khi bài kí “Cái đêm hôm ấy đêm gì” (1988) của Phùng Gia Lộc (PGL) xuất hiện trên tờ Văn nghệ. Ngày ấy nhà văn Nguyên Ngọc làm Tổng biên … Tiếp tục đọc →
    • Tâm sự vô lối của kẻ vô lối từ trường Viết văn Nguyễn Du 29.08.2018
      Vũ Gia Hà Tôi viết những dòng này gửi đến các bạn có ý muốn theo đuổi văn chương, báo chí. Những tâm sự này, tôi viết khi chuẩn bị ra trường vào hồi tháng 6 năm 2013, được cả … Tiếp tục đọc →
    • DƯƠNG TƯỜNG, BẢN NHÁP CHIỀU TƠ LIỄU 28.08.2018
      Nguyễn Đức Tùng Trong khi chúng ta quay đi, thế giới thay đổi. Những liên kết nhảy vọt trong thơ Dương Tường tạo ra các ảo ảnh. Đó là chuyển động nhanh từ một hình ảnh này đến hình ảnh … Tiếp tục đọc →
    • LỜI BẠT NHẠC SĨ NGUYỄN VIỆT ĐỨC 23.08.2018
      NGUYỄN TRỌNG TẠO Nói đến Nguyễn Việt Đức là nhớ đến một nhạc sĩ thời đương đại, thời của chúng tôi. Hồi những năm 80 thế kỷ trước, cái người bộ đội Phòng không – Không quân yêu văn nghệ … Tiếp tục đọc →
    • Ngâm Thơ Và Nghe Ngâm Thơ Việt Nam 21.08.2018
      THẠCH CẦM Ngâm Thơ Và Nghe Ngâm Thơ Việt Nam Phần I : Ngâm Thơ I.                   Xuất xứ từ “ngâm ” và những cụm từ liên quang “ngâm nga, ngâm vịnh, ngâm thơ “. 1.     Ngâm – 吟 là từ Hán Việt. Có nghĩa … Tiếp tục đọc →
    • TÍNH ĐẶC SẮC CỦA ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG HUẾ 21.08.2018
      NGUYỄN TRỌNG TẠO – VIỆT ĐỨC NTT – Hơn 26 năm trước, có một cuộc hội thảo về Di sản văn hóa phi vật thể vùng Huế do UNESCO tổ chức tại Huế. Nhận lời mời của bà Giám đốc UNESCO, … Tiếp tục đọc →
    • Trần Tiến âm nhạc là ngẫu hứng 19.08.2018
      HỒ VŨ KHÁNH LINH Âm nhạc là cuộc sống Âm nhạc xuất phát từ cuộc sống, để rồi quay về phục vụ cuộc sống. Âm nhạc từ buổi sơ khai là những âm thanh độc đáo mà giản dị bật … Tiếp tục đọc →
    • ĐÊM NHẠC NGUYỄN TRỌNG TẠO VỚI GIÁNG SON “CỎ VÀ MƯA” 14.08.2018
      NGUYỄN TRUNG HỢI Nhà thơ, nhạc sĩ đa tài, đa tình Nguyễn Trọng Tạo, người con của quê hương xứ Nghệ, có thể nói anh là một người rất hiếm của Việt Nam vừa nhà thơ, vừa là nhạc sĩ. … Tiếp tục đọc →
    • Nguyễn Trọng Tạo lại hát khúc sông quê 11.08.2018
      NGUYỄN THỤY KHA (Người Lao Động, 05/08/18 04:00 GMT+71) Một việc ngỡ không thể ở một người vừa bị đột quỵ đúng nửa năm trời lại trở thành có thể: Tạo lại khởi sự một đêm thơ nhạc của mình … Tiếp tục đọc →
  • RSS Blog Quê Choa

    • Quê Choa chí dị 25.04.2021
      1. Đài thôn thông báo: A lô a lô… chiều ngày 16 tháng 5 năm 1965 em Ngô Thị Lý học sinh lớp 10 đã thắt cổ tự tử. Em Lý chết vì mắc bệnh hoang tưởng, quá sợ bị người ta hiếp. Qua vụ việc này thôn yêu cầu các gia đình có con […]
    • Tiếng kèn trompet 25.04.2021
      “ Xin hát về bạn bè tôi Những người sống vì mọi người…” (Lời một khúc ca) Khi đó anh ngư­ớc lên, ngơ ngác tr­ước. Mênh mông cát trắng. Em chỉ đứng cách anh có một quãng, sau một mô cát cao, thế mà anh chẳng thấy. Anh đi. Rồi chạy. Nhìn bóng anh cuống quýt […]
    • Đường đời không lối rẽ 25.04.2021
      Hai mươi năm trước tôi làm ở tạp chí Cửa Việt, tờ văn nghệ địa phương thôi nhưng được cả nước biết tới, thích lắm, tự hào nữa. Trước tết khoảng hai tháng bao giờ tôi cũng mò ra Hà Nội, vừa moi bài vở vửa tận hưởng mùa lá rụng và nhấm nháp chút […]
    • Những giấc mơ phải gió 25.04.2021
      Có hơn chín ngàn đêm tôi mơ thấy nàng. Khi nàng chỉ thoáng qua trong giấc mơ phù phiếm nào đó, khi nàng là nhân vật chính trong giấc mơ thật ly kỳ hấp dẫn giật gân kiểu truyện trinh thám An Nam chẳng may tôi đọc được, hoặc một giấc mơ thật ai oán […]
    • Vọng trắng 25.04.2021
      Đêm suông buông lạnh người đâu Vu vơ hương đã nhạt màu tìm chi…? (Thơ Trần Anh Thái)             Năm m­ười sáu tuổi chị tôi đẹp nhất làng Đông. Đến năm chị tôi hai mươi sáu tuổi, làng Đông vẫn không ai đẹp hơn. Tuổi ấy ở quê tôi coi như­ đã ế chồng. Thế mà […]
    • Người đàn bà đau đớn 25.04.2021
      Chị khẽ hích vai tôi ra hiệu phải kiên trì bám trụ trong cuộc nhậu tơi bời kéo dài mười sáu tiếng đồng hồ chưa có dấu hiệu kết thúc, do chồng chị- người đàn ông tuyệt hảo, người đàn ông toàn năng, người đàn ông hết sảy… đứng ra tổ chức.             Ông […]
    • Đò ơi! 25.04.2021
      Ngư­ời lái đò cắm sào đẩy con thuyền tiến thêm chừng một sải nước rồi nhảy xuống, neo thuyền vào một gốc cây bần mọc chìa ra ngoài mé nước. Nắng chư­a tắt hẳn, hãy còn vài giọt bấu víu trên những ngọn cây bần. Phía bên kia sông, một dải nước sáng vàng lấp […]
    • Truyện tình thảm thiết toàn T 25.04.2021
      Trần Thị Thu Thủy tên thật Trần Thị Thỏ, trú tại thôn Tám, Trảng Tranh, Tỉnh Thừa Thiên. Thủa thiếu thời, trí tuệ thì thường thôi, tuy thế, tính Thủy thật thà, thủ thỉ thù thì, thỏn thà thỏn thẻn, thật thương! Tới tuổi trăng tròn, Thủy tròn trặn, tư­ơi tắn, trắng trẻo, tay tròn […] […]
    • Đợi đến mùa hoa phượng 25.04.2021
      Em không thể chờ anh Mùa hoa phượng còn xa Xa hơn một đời người Em không thể chờ anh (Thơ của một nhân vật trong truyện) Vẫn ông hiệu trưởng gõ cửa nhà chị vào lúc khuya khoắt thế này. Trên tay cầm xị rư­ợu sắn, ông chui qua tấm cửa liếp, đứng giữa […]
    • Bốn mươi chín cây cơm nguội 25.04.2021
      Chỉ bước khoảng vài mươi bước chân, từ cái cổng sắt gỉ của một người bạn gái, chị đã giật mình nhận ra sai lầm của mình. Tại sao lại ngang nhiên rảo bước trên d­ờng m­a vào lúc gà sắp gáy nh­ư thế này? – Chị đứng khựng lại, ngoái cổ về phía sau […]
  • Khách trực tuyến

TÁC GIẢ CỦA BÀI DÂN CA NGHỆ TĨNH “GIẬN MÀ THƯƠNG”


NTT: Theo tác giả Khả Xuân thì ông Nguyễn Trung Phong, tác giả vở kịch dân ca Nghệ Tĩnh “Khi ban đội đi vắng” đã viết ra bài hát này cho nhân vật người vợ hát khuyên chồng. Ông Phong đã phác thảo ra bài Giận mà thương và nhạc sĩ Thanh Tùng, cán bộ âm nhạc của tỉnh, chỉnh lý và ghi lại thành bản nhạc. Vở kịch được Đội văn nghệ Diễn Bình biểu diễn và bài hát Giận mà thương đã lan nhanh đi khắp nơi trong tỉnh, nhất là qua các đợt hội diễn. 

Khoảng đầu năm 1969, nhạc sĩ Đỗ Nhuận, lúc đó là Tổng thư ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam, đi công tác vào tuyến lửa. Đến Nghệ An, Nhạc sĩ Văn Thế – cán bộ âm nhạc được cử đi cùng, đã hát rất nhiều bài dân ca địa phương để Đỗ Nhuận ghi âm. Trong đó có bài Giận mà thương. Nhưng Văn Thế lại quên giới thiệu tác giả. Có lẽ vì thế nhạc sĩ Đỗ Nhuận tưởng là một làn điệu dân ca nguyên gốc.

Tháng 9-1969, Bác Hồ của chúng ta ra đi. Nhân dân đau thương vô hạn, nhạc sĩ Đỗ Nhuận đã kịp thời đưa ra bài Trông cây lại nhớ đến Người. Tác giả tự chép tay rồi gởi ngay cho tỉnh Nghệ An bài đó. Ông Võ Thúc Đồng, lúc bấy giờ là Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An, đã viết thư cảm ơn Đỗ Nhuận về tình cảm đối với Bác Hồ, với dân tộc. Nghệ sĩ Song Thao là người đầu tiên hát thành công bài đó ở trong nước và ngoài nước.

Về âm nhạc, có lẽ bài Giận mà thương là tiền đề, nếu không nói là âm điệu chủ yếu để Đỗ Nhuận cho ra đời bài Trông cây lại nhớ đến Người. Khi biết tin bài Giận mà thương có tác giả, nhạc sĩ Đỗ Nhuận gởi tặng ông Nguyễn Trung Phong một cuốn lịch tay, bìa ni lông. Tờ đầu cuốn lịch tự tay Đỗ Nhuận viết: “Thân tặng anh Nguyễn Trung Phong – người bạn cộng tác tình cờ”.

Phía sau bài dân ca “Giận mà thương”

CAO THÂM

Lâu nay, khán giả được nghe nhiều ca sỹ hát thành công bài dân ca Nghệ Tĩnh “Giận mà thương”. Tiếc rằng, dù trên sân khấu hay trên các đài phát thanh, truyền hình, khi ca sỹ thể hiện bài dân ca này, đều không thấy giới thiệu tác giả đặt lời. Và nhiều người cũng không hiểu nội dung của bài dân ca nói về chuyện gì. Tác giả của nó là nhà viết kịch Nguyễn Trung Phong, nguyên Phó Giám đốc Ty văn hóa Nghệ Tĩnh. Ông là tác giả vở chèo “Cô giái sông Lam” nổi tiếng. Theo Thiếu tướng, Nhạc sỹ An Thuyên, ông xứng đáng được giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật nhưng tiếc rằng, đến nay, sự cống hiến của ông chưa được ghi nhận.

 Lời của bài dân ca là như sau: “Anh ơi khoan vội bực mình/ Em xin kể lại phân minh anh tỏ tường/Anh cứ nhủ (bảo) rằng em không thương/Em đo lường rất chi cặn kẽ/Chính thương anh em bàn với mẹ/Phải ngăn anh đi chuyến ngược Lường/ Giận thì giận mà thương thì thương/ Anh đi sai đường em không chịu nổi/ Anh ơi anh, xin đừng có giận vội/ Trước tiên anh phải tự trách mình”. Rõ ràng, nghe hát, nhiều người không hiểu được, người con trai ấy “đi sai đường”, là đường gì mà khiến cô gái “không chịu nổi”? Lại nữa, “chuyến ngược Lường” nghĩa là sao? Họ là vợ chồng hay anh em ruột? (vì có chung người mẹ) v.v.

Thưa, lời bài hát trên chỉ là trích đoạn trong vở kịch dân ca Nghệ Tĩnh “Khi ban đội đi vắng” của Nhà viết kịch Nguyễn Trung Phong (1929-1990). Ông quê ở làng Trung Phường, xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu, Nghệ An, Thời cấp ba, tôi học cùng trường với con gái ông, là chị Nguyễn Thu Hương. Thời ấy, thi thoảng đến thăm chị Hương, tôi đã được gặp ông, nhưng không biết, khi đó ông đang là Phó ty Văn hóa tỉnh Nghệ Tĩnh; là tác giả vở chèo “Cô gái sông Lam”nổi tiếng (tỉnh Nghệ Tĩnh sau này chia tách thành Nghệ An và Hà Tĩnh).

“Khi ban đội đi vắng” là vở kịch ngắn, trong đó các nhân vật đối đáp với nhau, giải quyết xung đột bằng cách hát các làn điệu dân ca xứ Nghệ, giống như diễn chèo, cải lương vậy. Nhà viết kịch Nguyễn Trung Phong là một trong những người đầu tiên đưa dân ca Nghệ Tĩnh vào kịch sân khấu. Vào những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, một số vở ca kịch của ông, trong đó có “Khi ban đội đi vắng” đã được Đoàn dân ca và chèo Nghệ Tĩnh và nhiều đội văn nghệ nghiệp dư của địa phương dàn dựng thành công. Năm 1973, Ty văn hóa Nghệ Tĩnh cũng cho xuất bản tập kịch hát dân ca lấy tên là “Khi ban đội đi vắng”, tập hợp một số vở kịch hát của các tác giả Nguyễn Trung Phong, Nguyễn Trung Giáp v.v. Thể loại sân khấu này phát triển mạnh ở Nghệ An, với nhiều vở kịch dài được Đoàn dân ca Nghệ An dàn dựng. Một số vở đoạt giải cao tại các kỳ Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc. Mới đây, tỉnhh Nghệ An cho sáp nhập các đơn vị nghệ thuật lại, thành Nhà hát Dân ca Nghệ An.

Vở kịch ngắn “Khi ban đội đi vắng” kể về anh cu Thành, lợi dụng lúc “Ban đội đi vắng”, định làm một chuyến buôn lậu chè xanh. “Ban đội” là gọi tắt của Ban quản lí đội sản xuất của Hợp tác xã nông nghệp thời bao cấp. Nơi anh cu Thành nhắm tới đó là chợ Lường. Chợ Lường ở mạn ngược, thuộc huyện Đô Lương, Nghệ An, nổi tiếng về buôn bán trâu bò và chè xanh. Dân ở mạn xuôi thuộc các huyện Diễn Châu, Yên Thành… lên mạn ngược mua trâu bò, khoai sắn, chè xanh về xuôi bán kiếm lời gọi là “đi ngược”. Anh cu Thành tranh thủ “khi ban đội đi vắng”, lên chợ Lường buôn lậu gọi là “đi ngược Lường”. Trong vở ca kịch này, âm mưu của anh cu Thành là đi “ngược Lường” buôn lậu… chè xanh! Đó là loại chè người ta chặt cả cành, bó lại thành mớ như mớ rau. Khi cần uống, cấu bớt cành, rửa sạch, cho vào ấm đun như… sắc thuốc bắc! Ngày ấy, đối với dân mạn xuôi, chè xanh là thứ hết sức xa xỉ! Những ông cán bộ như Nhà viết kịch Nguyễn Trung Phong, nhân tiện đi công tác, mới dám mua mấy bó chè xanh về thết đãi hàng xóm chứ dân nông thôn, tiền của mô! Tối ấy, chủ nhà sai con sang hàng xóm: “cha tui (bố cháu) về, mời ông (bà, chú, bác) sang uống nác (uống nước). Mấy cái chiếu được trải ra sân. Hàng xóm kéo đến. Chiếc đài orinton của Hung Ga Ri đặt trang trọng trên chiếc ghế đẩu. Gia chủ lễ mễ bê nồi chè xanh ra, cẩn trọng rót vào đọi (bát), kính cẩn mời. Mọi người nâng đọi chè lên, suýt xoa, xì xụp, vừa nghe đài vừa bình luận thời sự. Mấy hôm sau, nồi chè xanh này còn được gia chủ hâm đi hâm lại, bao giờ “chạ”, tức lá chè đã hết chất mới thôi. Khi đó, người ta đổ bã chè ra, đem phơi. Phần lá, quắt lại, đem đun; phần cọng, tận dụng làm… tăm! Thời học cùng chị Hương con gái ông Nguyễn Trung Phong, tác giả bài viết này đã vài lần được uống nước, nghe đài ở nhà ông Phong.

Có lẽ thế hệ trẻ bây giờ, nhiều người không hiểu nổi, vì sao thứ chè xanh ngày ấy lại khan hiếm và là hàng quốc cấm? Là bởi, thời bao cấp, nông dân sản xuất ra hàng nông sản, thực phẩm như chè, lạc, trâu bò, lợn v.v. chỉ được phép bán cho Nhà nước; người nào mang chè xanh, chè búp, lạc v.v. đi bán kiếm lời được cho là buôn lậu. Vì vậy, mới có chuyện anh cu Thành lợi dụng “khi Ban đội đi vắng” để buôn lậu chè xanh! Ban đội gồm có đội trưởng, đội phó, thư kí đội là những người trực tiếp phân công công việc hàng ngày cho xã viên. Bữa đó, Ban đội đi vắng, việc quản lí nhân sự trong đội sản xuất bị buông lỏng. Nhân cơ hội này, anh cu Thành quyết đi buôn chè xanh! Nhưng, âm mưu đen tối của anh ta nhanh chóng bị cô vợ vạch trần! Khi biết được âm mưu của chồng, cô ta liền bàn với mẹ chồng, tìm cách chặn đứng hành vi sai trái của anh ta. Biết chuyện, mẹ của gã định buôn lậu này là bà Tâm, một đảng viên lâu năm, phẩm chất trong sạch, đã cùng con dâu lập phương án, chặn đứng hành vi đi sai đường của anh cu Thành!

Âm mưu bị phá sản, anh cu Thành trách vợ rằng không thương chồng. Cô vợ thanh minh rất quyết liệt rằng, dù anh có giận thì giận mà thương thì thương, còn cô, trước âm mưu phạm pháp của anh, anh định đi buôn lậu chè xanh, “anh đi sai đường”, cô không chịu nổi! Chính thương anh nên cô đã bàn với mẹ chồng, phải chặn đứng âm mưu của anh. Việc cô làm không phải là nông nổi, bồng bột mà đã “đo lường rất chi là cặn kẽ” rồi, đã cân nhắc kỹ lưỡng rồi, lại được mẹ chồng, một đảng viên lâu năm đồng tình, ủng hộ. Anh không thể trách cô là không thương chồng được, mà hãy tự trách mình ấy! Gia đình nhà mình là gia đình đảng viên, giàu truyền thống cách mạng, không thể dung túng cho con buôn, bọn bóc lột! “Trước tiên anh hãy tự trách mình” ấy. Đã “đi sai đường” lạc lối lại còn…

Đoạn thanh minh của người vợ với chồng trong vở ca kịch trên chính là nguyên văn của bài dân ca “Giận mà thương” mà lâu nay chúng ta được nghe.

Nguồn: Tác phẩm mới

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d người thích bài này: