HÌNH ẢNH VÀ NGÔN NGỮ TRONG THƠ TRẦN MAI HƯỜNG


tranMaiHuong2PHAN BÁ ẤT

Tôi được biết thơ của Trần Mai Hường lần đầu tiên qua bài “Vào lúc lúc một giờ năm mươi phút”, một bài thơ gây được ấn tượng sâu sắc và nhiều cảm tình trong tôi. Tôi tìm đọc Trần Mai Hường và được biết chị là tác giả của ít nhất bốn tập thơ: “Sóng khát” (NXBVăn học 2009), “Đó là em” (NXB Hội Nhà Văn 2010), “Những ngọn sóng tỏa hương”(NXB Hội Nhà Văn 2012) và tập thơ mới nhất: “Ngược đêm”- (nhà xuất bản Hội nhà văn, ấn hành năm 2014). Nghe nói chị vừa có tin vui mới được kết nạp vào Hội Nhà Văn Việt Nam. Xin được chúc mừng chị.

Tôi thích đọc sách và muốn được chia sẻ. Khi gặp được một tác phẩm nào đó để lại trong tôi những ấn tượng đặc biệt, tôi thường ghi lại suy nghĩ của mình, góp thêm vào “dư luận tác phẩm”. Hy vọng qua hình thức này tôi sẽ tự bồi dưỡng nâng cao được ít nhiều trình độ của mình từ sự giúp đỡ của tất cả mọi người. Tôi không có ý định viết về “Ngược đêm” nhưng tự nhiên tôi nghĩ miên man từ tiêu đề “rất gợi” này.

“Ngược đêm” không có nghĩa là đêm tối theo hiện tượng địa lý đơn thuần mà là những trở ngại khó khăn thách thức hữu hình và vô hình, vật thể và phi vật thể, đó là những đòi hỏi người vượt nó chiến thắng chính mình.

Trong một bài thơ, Trần Mai Hường viết: “Tập cười đi”…”Đừng để ai biết tiếng cười trong vắt ấy/ Bao chua chát tàng hình”.Thì ra chị phải che dấu nhiều “Nỗi đau” không tên, khó có thể “Kêu thầm trong đêm ngược gió”. Phải chăng ngược đêm là ngược gió, ngược nỗi đau, vượt những thách thức không tên Cuộc sống của chị là đối mặt, ngược, vượt khó khăn trở ngại và những thách thức.”Ngược ngày đằm rêu/ ngược đêm cất lửa”, vượt những nỗi đau rất thực, nỗi đau nối tiếp như đùa rỡn số phận và thách thức chị: “Nỗi đau đuổi bắt nhau/ giữa cuộc đời rất thực” ( Mặt trời không thất hứa). Những thách thức kể cả thách thức của Thơ với chị, giống như những bức tường rêu cao và trơn không dễ vượt qua “Đời thơ ngược dốc/ những bức tường rêu ngày càng cao/ những bức tường rêu ngày càng trơn” , “Thơ nhọc nhằn sinh nở ” yêu cầu chị phải “Ngược”, phải vượt lên trong lao động nghệ thuật. Và chính trong lao động nghệ thuật, thực tế chị đã đạt được những thành công đáng trân trọng.

Trần Mai Hường viết về nhiều đề tài. Mảng thơ viết về tình yêu Tổ Quốc, yêu thiên nhiên, đất nước, gia đình tuy số lượng không nhiều nhưng tình cảm chân thành, có sức triết lý cao, đủ để lại những ấn tượng sâu sắc cho người đọc và có một ý nghĩa quý. Những bài thơ viết về tình yêu lứa đôi trong các tập thơ của chị chiếm tỷ lệ cao. Dư luận cho rằng thơ tình Trần Mai Hường được bạn đọc có nhiều ấn tượng đẹp và ưa thích.

Nhà thơ Trần Mai Hường

Nhà thơ Trần Mai Hường

Với tôi, thơ Trần Mai Hường có giọng điệu phong cách riêng, trẻ trung, sung mãn, hình ảnh ngôn ngữ rất chọn lọc, luôn được mới hóa nhưng không quá khó hiểu, bế tắc. Nếu tác phẩm kén bạn đọc và bạn đọc kén tác phẩm thì ở Trần Mai Hường dường như đang có cả hai vậy. Chắc chắn là chưa đọc và khái quát được nhiều nhưng trong phạm vi bài này tôi muốn phát biểu đôi điều về hình ảnh và ngôn ngữ trong thơ Trần Mai Hường.

Hình ảnh và ngôn ngữ trong thơ Trần Mai Hường có sức biểu cảm đa dạng, phong phú. Cùng một vấn đề, cùng một cảm xúc nhưng được chị diễn đạt và biểu cảm bằng nhiều hình ảnh và ngôn ngữ khác nhau, mới hóa, rất gợi, có sức truyền cảm lớn tới người đọc.Tôi thử bắt đầu từ những bài thơ của chị trong lĩnh vực tình yêu lứa đôi.

Những vấn đề trước đây coi là nhạy cảm, khó diễn đạt, thường sa vào trường hợp: hoặc trần tục, thô thiển, nhục cảm, gợi dục, thiếu văn chương; hoặc bế tắc, né tránh, khô khan, thiếu trung thực; đã được Trần Mai Hường vừa bạo dạn, vừa tế nhị diễn đạt một cách tài tình sinh động, bởi một cảm xúc rất mạnh, rất thật, rất văn chương, phong phú và đa dạng. Nhờ vậy mặc dù đề tài cũ nhưng dưới ngòi bút của Trần Mai Hường vẫn trở nên tươi mới và hấp dẫn. Mỗi bài, mỗi lần diễn đạt một cách khác nhau mà người đọc vẫn như được rung lên những cảm xúc đồng điệu cùng tác giả.

Chúng ta hãy thử xem cách chị diễn đạt cảm xúc khát khao được thỏa mãn tình yêu như thế nào?”Những ý nghĩ đục/chung chạ với đêm/ bế em xoay vòng lối cỏ/ hình như phút ấy sương mềm” (Thơ lúc không giờ).Và nữa :”Ước một lần chết đuối / một lần thôi ngụp lặn bến mê người” (Giấc mơ em) ;”Chật đêm / hổn hển / thực – mơ” (Lục bát mơ). Những từ tượng thanh, tượng hình có sức gợi cảm và biểu cảm lớn.
\
Còn đây là ngôn ngữ và hình ảnh diễn đạt cảm giác đòi hỏi, ham muốn của da thịt, thể xác:”Sóng sánh thịt da đang nhưng nhức bật mầm”; ( vào lúc một giờ năm mươi phút)

Chị coi cuộc đời là một bản nhạc, tình yêu của mình là một nốt nhạc, một nốt thôi, nhưng đó là “nhói nốt chờ”. Sống trong đau đáu khát khao chờ đợi vang lên một “Giai điệu tình rất mật” để thỏa mãn trạng thái “Căng cạn môi người”. Hình như lúc đó chỉ cần một nụ hôn của tình yêu sẽ hóa giải được tất cả. Chị như sa mạc khát khao nguồn nước ái tình mà “Anh” như “lá bùa xanh” “Mở tung/từng nút khát” (Đàn bà -em- như thế). Thật là nhiệm màu sức mạnh của tình yêu, và sự khao khát tình yêu cũng thật kỳ lạ. Tác giả diễn tả khát vọng và sự thỏa mãn tình yêu bằng hình ảnh rất độc đáo: “Lá bùa anh xanh giữa sa mạc bỏng/ mở tung/từng nút khát/ khép lại chuỗi ngày câm…” Rõ ràng anh mang đến tình yêu, sự sống: Giải khát tình, giải phóng bế tắc tù túng, nhốt tụ, ngày câm lặng trở nên biết nói, sinh động hơn. Quy luật vật lý, sinh học, địa lý, tâm lý như tích hợp, tương phản trong vài từ ngữ hình ảnh chấm phá như thế, nhà thơ thật tài tình!

Rồi lại nữa, diễn đạt trạng thái tâm lý sau kỷ niệm qua đêm dâng hiến cho tình yêu ở Huế: “Có một giờ 25/thời gian trôi thật chậm/ chỉ riêng mình Huế biết / em vẫn nguyên dại khờ/ Nụ hôn còn đồng trinh/ bỗng phủ đầy khô khát/ xin một lần mi khép/ giữa Huế tròn vòng tay”..” Đi qua giờ 25 / em như thành người khác/ chỉ riêng dòng Hương biết/ Huế và em ngã lòng” (Chỉ mình Huế biết).

Đặc biệt diễn đạt nỗi nhớ người yêu và những kỷ niệm của tình yêu, Trần Mai Hường diễn đạt thật phong phú, sinh động. Người đọc cảm thấy như có thể đúc tạc nỗi nhớ người yêu khi diễn đạt bằng hình tượng và từ ngữ thế này: “Nhặt từng lát nghĩ về anh” “đem nung chảy” “Đúc lên nỗi nhớ đẹp và buồn..”(Thanh khiết);”Chiều nay nỗi nhớ dậy men/ uống ngày xưa đến say mèm người ơi” (Ngỡ);”Nỗi nhớ bủa vây em” (Nỗi nhớ mang tên đêm) .Và rõ ràng đúng như chị khẳng định”Nỗi nhớ bỏ bùa em” (Trăng lạ), thật là ma mị và khó cưỡng nổi.

Chị diễn đạt tâm trạng trong cô đơn, buồn nhớ người yêu, tìm cách tự an ủi, biện minh, lý giải cho sự khát khao thỏa mãn tình yêu và sống trong nỗi nhớ người yêu của mình cần được thông cảm: “Có một bờ môi lạ -Cuống cuồng trong mê dại mới định nghĩa được thế nào là hoang mạc”(Lạ). Được đắm mình tận hưởng ngọt ngào của tình yêu như thế, trách nào không mê dại; trách nào không cảm thông khi phải sống trong “hoang mạc” đầy cô đơn, khát khao, chịu đựng nỗi nhớ, niềm đau xa cách hoặc mất mát tình yêu. Hiểu như vậy tất nhiên ta thấy hạnh phúc và sự trả giá sống trong thủy chung và nỗi nhớ.

Ý thức được bất lực hóa giải nỗi nhớ, chị phải tự thừa nhận “Không có từ quên nào mang tên anh// làm sao quên?” (Lạ). Bạn đọc hẳn phải ghi nhận một sức hấp dẫn kỳ lạ nào đó của người yêu mới làm nhà thơ có xúc cảm mạnh và có cách diễn đạt như thế. Đúng vậy. Đây là cách diễn đạt về người yêu : Anh “Người đàn ông chỉn chu như kinh,/ nồng nàn như lửa”( Thơ lúc không giờ) “Thông minh hóm hỉnh/ nhân hậu bao dung”(Thanh khiết). Chị đồng nghĩa “anh” với “lá bùa”, phép lạ, “Như phù thủy với chiếc đũa thần/ Thôi miên”. Anh vừa như “Nút thắt đời định mệnh”(Những ngày không) vừa như có khả năng “Mở tung/ từng nút khát” (Đàn bà -em – như thế).

Khao khát, chân thành, mãnh liệt, thủy chung trong tình yêu, chị nhận ra bản lĩnh và cả sự yếu đuối của mình. Hãy nghe chị tự thú mình thua cuộc trước sự chinh phục của tình yêu mà chị được/ bị đón nhận:”Anh ùa vào như lốc/em ngỡ ngàng/em luống cuống/ em run” và đấy là trạng thái tình yêu và hạnh phúc đến trong sự khát khao mong đợi, được thỏa mãn. Người con gái như bị đánh mất chính mình, dâng hiến cho tình yêu “Vấp vào anh em tự xóa mình”;”Không dấu được anh/ em nhận mình thua cuộc” (Thua). Thua cuộc trong chuyện cưỡng lại sức mạnh của tình yêu bằng cách dùng niềm kiêu hãnh của người con gái che đậy bản lĩnh và cảm xúc của mình. Có thể đây cũng là sự ca ngợi tình yêu đấy chứ? mạnh mẽ, chân thành, dũng cảm và hợp lý nữa. Có thể tự an ủi rằng chính “Anh” mới là người thua cuộc trước “Em” bởi sức hấp dẫn của tình yêu từ em mang đến nơi anh trước khi em thua cuộc.

Cũng tâm trạng ấy, một cách diễn đạt bằng hình ảnh và ngôn ngữ khác “Từ người ân ái sang trang / em – bao kiêu hãnh bỗng bàng hoàng/ Rơi (Từ phút ấy). Từ ngữ, hình ảnh, thể thơ lục bát biến thể, có vẻ dụng công nghệ thuật mà chưa chắc Trần Mai Hường đã phải lao công khổ tứ. Tôi nghĩ, khi cảm xúc mạnh và chân thật thì các con chữ và hình tượng như tự nó tuôn chảy, tự nhiên không gượng ép, cầu kỳ.

Lại nói cái thật! Trong tình yêu, khi yêu mãnh liệt, yêu chân thành, thủy chung và đầy trách nhiệm thì người ta sẵn sàng hy sinh cho tình yêu đó. “Hãy tin tưởng ở tình yêu” hình như là một cách ngôn quen thuộc và nổi tiếng. Tuy nhiên hãy xem tác giả diễn đạt tâm trạng trong đau đớn, hờn giận, ghen tuông, thậm chí là cả sự quyết đáp trước diễn biến tình huống tình yêu không mong muốn ra sao? “Tình vướng tình/Mấy lần nghe tiếng chuông tin nhắn/Em chợt nhận ra chính âm thanh kia đã bóp nghẹt tim mình/ Chưa bao giờ anh giải mã tiếng chuông/em kiêu hãnh không một lần dò hỏi/Chiếc bình pha lê mong manh đã chất đầy những hững hờ đá cuội/ Trắng tay rồi/ Bão nổi/ Đêm câm…” (Đêm câm). Đáng sợ biết bao, bình pha lê hạnh phúc kia đang nguy cơ đổ vỡ. Đáng sợ biết bao giông bão và chiến tranh lạnh trong hạnh phúc gia đình đang yên ấm.

Người đàn bà ấy dù đã dùng lý trí để chế ngự con tim, cũng không thể không tự lên án mình “Em ích kỷ nhỏ nhen” và biện luận cho chính mình “Khi đã yêu thế giới này chỉ một / một anh thôi, em muốn giữ một mình”(Nói với anh). Thơ được viết ra từ cảm xúc rất thật và rất mạnh, vì thế dù diễn đạt rất dung dị, không có những từ ngữ và hình ảnh độc đáo, giàu sức nổ như những dẫn chứng khác mà vẫn thấy truyền cảm lạ lùng. Người đọc thấy xót xa và thông cảm cho tâm lý và trạng thái người vợ phải chịu đựng.

Chính vì tin yêu hết mình và mãnh liệt nên khi bị người yêu phản bội, người đàn bà dẫu cùng con “Giàn giụa” nước mắt đau khổ, vẫn đủ bản lĩnh “Mai táng ngày xưa”, “Cầm trên tay ngọn lửa/ đốt nhà mình bằng trò chơi diêm…” đốt và mai táng ngôi nhà hạnh phúc “Ngày xưa” như một trò chơi. Vâng, cuộc đời như một trò chơi, chấm dứt vai cô sắm “Đợi anh/ bao năm đã đợi” (Đàn bà và trò chơi diêm). Những hình tượng và ngôn ngữ vừa giàu chất thơ, gợi cảm và thể hiện sự mạnh mẽ, quyết đoán, dũng cảm đón nhận những hệ quả đầy bi kịch của tình yêu mà chính mình đã tiên lượng. Cô tự ý thức và thương chính cuộc đời mình “Em ngã vào chân không / phong phanh kiếp gió”. “Chân không”, nơi vật thể phi trọng lượng, lửng lơ, chênh vênh không điểm tựa. “Kiếp gió”, vô hình, lang thang, phiêu dạt. Diễn đạt như vậy tưởng đã đạt đến sự hàm súc và gợi cảm.

Trong những thăng trầm của tình yêu và cuộc sống, nhà thơ như được tận hưởng nhiều ngọt ngào nhưng không ít đắng cay giông bão, đầy “Sang chấn”. Nhà thơ có lúc như nghẹn ngào, yếu đuối rà soát mình:”Em – đàn bà / mong manh” (Đàn bà – em -như thế); “Em – đàn bà / lặn lội / gió – mưa” (Sang chấn). Chị cay đắng kêu lên “Ngôi mộ nào xây bằng dối lừa / phủ nóc bằng cẩm thạch” (Em như vậy ). Lời kêu đó đâu phải chỉ đơn thuần trong lĩnh vực tình yêu đôi lứa .

Niềm tin là cái quý nhất của cuộc sống. Trần Mai Hường rất tin yêu cuộc sống. Chị nhìn cuộc sống rất lạc quan, tốt đẹp, đầy tin tưởng: “Vẫn tin / sau hoàng hôn/ mặt trời / không thất hứa” (Mặt trời không thất hứa). Mặc dù “Nắng mỏng”, “Chiều gẫy”, “Trước mặt ngùn ngụt mây đen/ Sau lưng ầm ầm gió thổi” (Ngược phía cơn mưa), với chị, mọi khó khăn chỉ nhất thời, bằng ý chí và nghị lực sống của mình có thể vượt qua. Tác giả khéo dùng tiểu đối, hình ảnh và từ ngữ gợi cảm, tính từ, động từ sống động, biểu cảm những trở ngại và thử thách. Trần Mai Hường quan niệm cuộc sống chỉ khép lại với ai không có niềm tin. “Tôi biết đời chẳng chật hẹp với tôi”; “Tôi vẫn tin / đời không đóng cửa”. Phía trước chị là ánh sáng, là tương lai, là sự sống:”Tôi tin / phía xa kia / trời sáng / tôi tin” (Ngược phía cơn mưa)

Trần Mai Hường nhìn vạn vật rất động, đầy sức sống: “Bật mầm”, “Cựa”, “Nứt” . Với chị, chỉ có mở ra, không có tận cùng, khép lại. Một đêm tàn, mỗi ban mai đến với nhà thơ thật tuyệt vời, như gột rửa, trút đi những vướng bận của tâm hồn, đầy sức sống nguyên khôi, mới mẻ: “Ngại ngần thoát bến phân vân/ bao nhiêu phiến nõn/ thiên thần…/ Mở em…” (Mai)

Xin được nói thêm tài năng sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh của Trần Mai Hường làm tôi rất thích thú khi được đọc bài “Chín chín chữ cho đông “. Thơ ư? Thơ văn xuôi ư? Tản văn ư? cần gì phải rạch ròi, chỉ biết rất thơ và nhân văn, tôi thích. Tôi muốn được đọc nhiều hơn những bài viết như thế này của chị. Trần Mai Hường dùng đúng chín chín chữ đầy hàm ý để viết cho Đông, rất kiệm lời, hàm súc và đầy triết lý phật giáo, giàu nhân văn, nhân bản “Đông tự cho mình là nút nhấn cuối cùng. Kết thúc để bắt đầu”, ” Đông nín thở, tịnh tâm nghe từng kẽ nứt những mởn non hé nhú, ríu rít sinh sôi thật khẽ thật êm… Đông hạnh phúc biết Xuân đã được khai sinh “Kết thúc để bắt đầu…Đông tự rướn mình mãn nguyện”. Thật là thánh thiện!

Vẫn với mạch cảm xúc và triết lý ấy, tác giả cảm thấy sự linh diệu của phút giao thừa, thời khắc chuyển giao của trời đất, của vũ trụ. Thiêng liêng thay! “Mới vừa thay một khắc mùa/ đã ăm ẵm nõn những ngơ ngẩn chồi” (giao thừa). Trước sau chỉ một thời khắc, đông kết thúc, xuân đã bắt đầu. Sức sống mới mẻ, đầy đặn, sung mãn “ăm ắp nõn” của những “Chồi” đẹp và lạ đến “Ngơ ngẩn”. Sự linh diệu đủ sức “Động tâm người”, đánh thức những cái gì tốt đẹp nhất tiềm ẩn trong chúng ta “Bừng” lên cùng sức sống kỳ diệu của mùa “xuân”, xuân của trời đất, của vạn vật.Với tình yêu và cách nhìn như vậy, Trần Mai Hường đủ bản lĩnh vượt qua những đêm tối, những bức tường rêu ở tất cả mọi nơi, mọi lĩnh vực. Trước mặt chị rất sáng lạn bầu trời thơ và cuộc sống!

Theo tôi, Trần Mai Hường thành công trong sử dụng hình ảnh và ngôn ngữ chọn lọc bởi nhà thơ có cảm xúc rất thật và rất mạnh. Cảm xúc thật và mạnh làm cho vốn từ ngữ phong phú cùng tài năng của nhà thơ đang tiềm năng, tiềm ẩn như được đánh thức, huy động, tuôn chảy, tự sắp xếp, dùng đúng lúc, đặt đúng chỗ, đắc địa, sức biểu cảm và truyền cảm trở nên mạnh gấp bội. Thơ thăng hoa mà cường độ lao động nghệ thuật chưa hẳn đã là quá khổ ải, nó như một nhu cầu giải tỏa vậy. Ai đó nói rằng có những từ ngữ, hình ảnh Trần Mai Hường cầu kỳ, tôi không nghĩ như vậy. Ngôn ngữ thơ phải đẹp, phải sang, có sức nổ, đó là đòi hỏi, miễn là cảm xúc thật. Một số từ ngữ, hình ảnh dung dị, quen thuộc nhưng đặt đúng thi cảnh, sẽ không nhàm chán và vẫn có sự chọn lọc biểu cảm tốt. Cảm xúc mạnh và thật, thì “các con chữ nhông nhao đòi thoát xác”, “thắp lửa rủ nhau về” (Vào lúc một giờ năm mươi phút) như có thần ánh sáng soi rọi để các con chữ kết tứ gieo vần cho thơ vậy. Cảm xúc giống nhau, mà mỗi lần diễn đạt bằng những hình ảnh, từ ngữ khác nhau đâu dễ. Chính vì vậy vừa khâm phục vừa lo lắng cho Trần Mai Hường và chúc chị mãi giữ được sự mới hóa của con chữ và hình ảnh sáng tạo. Có một điều, biết đâu đấy, sự đổi mới từ nghĩa sinh chữ thành chữ sinh nghĩa sẽ có thể xuất hiện và làm cho thơ Trần Mai Hường lại thoát xác nghệ thuật kiểu khác chăng.

2-2015

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s