ĐỊA DANH GÒ VẤP VÀ CÂY VẤP?


NTT: Nhân chuyện Hà Nội chặt cây, có bạn gửi cho bài này nói địa danh Gò Vấp chính là xuất phát từ cái Gò có nhiều cây Vấp mà thành. Sau nầy , người ta chặt cây Vấp mà trồng thuốc lá . Từ đấy thuốc lá trở nên danh tiếng khắp miền Nam Kỳ Lục Tỉnh là thuốc lá Gò Vấp. Chợt nghĩ, nếu Hà Nội chặt cây đi rồi trồng toàn cây Vấp, chắc sau này con cháu sẽ gọi thủ đô với cái tên Hà Nội Vấp…

TRẦN VIỆT HƯNG

GÒ VẤP VÀ CÂY VẤP

           alt

alt

DS Trần Việt Hưng.

 

     Trong bài ‘Về vài địa danh mang tên thảo mộc’, tác giả Hồ Đình Vũ viết :’ Gò vấp : Trước năm 1975, Gò Vấp là một quận của Tỉnh Gia Định gồm có 8 xã..Quận lỵ Gò Vấp cách Sài Gòn 10 km.. Gò Vấp là một quận đông dân cư..Địa danh Gò Vấp là do tên của cây Vấp mà ra.’..

   Theo truyền thuyết thì địa danh mang tên Gò Vấp, vì lúc trước nơi này là một ngọn đồi trồng cây Vấp (theo tiếng Chàm gọi là Krai) Cây Vấp được dân Chàm coi như thần mộc, yểm hộ cho dân tộc Chàm..

   Vùng đất Gò Vấp đã được khai phá từ những ngày đầu khi lưu dân Việt đi mở đất từ khoảng cuối thế kỷ 16..Năm 1698, Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, thừa lệnh Chúa Nguyễn Phúc Chu kinh lý miền Nam đã xác nhận chủ quyền cương thổ Việt Nam tại miền Đất mới : khi đó Gò Vấp đã có tên trong sổ bộ, thôn, xã thuộc huyện Tân Bình, Phủ Gia Định. Gò Vấp cách Trung tâm Bến Nghé khoảng 10 cây số về phía Tây-Bắc và trên vùng đất ‘gò’ cao hơn 11 m (so với mặt biển)..

   Theo Gia Định thành Thông chí của Trịnh Hoài Đức thì vào Triểu Gia Long, vùng đất mang tên Gò Vấp nằm trong các tổng Bình Trị và Dương hòa thuộc Huyện Bình Dương (?)..Năm 1836, theo Sồ đạc điền của ‘Nam Kỳ lục tỉnh’ thì Gò Vấp thuộc Tổng Bình Trị hạ, Huyện Bình Dương, Tỉnh Gia Định..

Trong Gia Định phú có câu :

               ‘ Cứng cỏi bấy, thứ đàn bà xứ Gò Vấp

               Thanh tao thay, ông Hòa thượng Chùa Cây mai..’

     Tên khoa học và các tên gọi khác :

          Mesua ferrea thuộc họ thực vật Guttiferea (Clusiaceae) Những tên đồng nghĩa : Mesua coromandelina, M. nagassarium, M. roxburghii.

          Tên Anh-Mỹ : Ceylon Ironwood, Indian Rose chesnut, Cobra’s saffron.

                Pháp :Arbre de fer, Bois de fer, agas de Ceylon

                Ấn độ tùy địa phương : Hindi : Gajapushpam, Nagajesar ;

                Tamil : Nagachampakam.

                Pakistan : Kanaka, Nageswara

                Phạn : Nagakeshara, Nagapushpa, Punnaga

                Miên : Bosneak; Lào : Kathang ; Thái : Bunnak ; Phi : Kaliuak

                Hoa : Tie-li mu ; Hán-Việt : Thiết lực mộc.

     Mô tả thực vật :

alt

Cây thuộc loại tiểu mộc hay đại mộc, có thể cao đến 30 m, phát

alt

triển thành tán rộng,

 nhánh nhỏ. Đường kính của thân có thể đến 2m. Vỏ thân màu xám tro khi còn non và khi trưởng thành màu xám xậm với những khoang nâu đỏ Phiến lá thuôn hình mũi giáo, nhọn ở đầu và tròn ở gốc, dài 7-15 cm, ngang 1.5-3.5 cm; phiến dày và dai, mặt trên bóng, mặt dưới có đốm mốc trắng.

     Cuống lá dài 9-10 mm. Lá non màu đỏ- vàng nhạt, rủ xuống. Hoa, lưỡng phái, đường kính 4-7 cm, mọc đơn độc ở ngọn hay ở nách lá. Hoa có 4 cánh màu trắng hay vàng nhạt, ở giữa có nhiều nhị vàng-cam, có mùi thơm. Cuống hoa dài 5-7 mm. Quả dạng xoan, dài 2.5-5 cm, nhọn có đài tồn tại; vỏ quả gần như hóa mộc, đỉnh mở thành 2-4 van, trong chứa 1-4 hạt màu nâu xậm Cây trổ hoa vào tháng 3.

        Vấp được xem là loài của vùng Đông-Nam Á châu, phân bố rộng từ Ấn độ, Pakistan, Sri Lanka. Myamar, sang Trung hoa, Thái lan, Lào, Kampuchea, Việt Nam và các quốc gia hải đảo như Philippines, Indonesia..Cây mọc tự nhiên và được trồng tại những vùng ven sông. Tại Ấn độ cây có thể gặp tại những khu vực độ cao đến 1500m   Tại Sri Lanka, rất nhiều cây Vấp cổ thụ hãy còn tồn tại nơi các tu viện, đền chùa Phật giáo ngay cả tại những nơi xa vùng núi, đât khô cằn nhiều đá.

     Cây được dùng làm biểu tượng cho nhiều tỉnh thành..Sri Lanka có thêm một loài Vấp hoang, nhỏ mọc tự nhiên nơi ven sông suối, tên địa phương là diya Na. Một số nhà thực vật đề nghị tách loài Vấp lùn này, chỉ cao tối đa 15 m , thành một loài riêng gọi là Mesua thwaitesii.

                           alt

            Ceylon ironwood in Thelwatta, South-East Sri Lanka.

   Tại Việt Nam, cây thường gặp tại các tỉnh miền Bắc như Hòa Bình, Vĩnh Phú, Hà Tĩnh và nhiều nơi tại miền Nam. Cây được trồng tại những sân chùa chiền do có dáng đặc biệt, tán tạo bóng râm, lá non màu tía, mặt dưới lá trưởng thành có ánh bạc, hoa đẹp và thơm . Tại vùng Cao nguyên Kontum, Pleiku có loài Mesua elemensorum được gọi là Vấp Bà Ná.

                 alt

     Thành phần hóa học :

         Trong chi thực vật Mesua, chỉ có Mesua ferrea được nghiên cứu trong Y dược.

         Thành phần của cây được xếp chung trong 3 nhóm phenylcoumarin, xanthone và triterpinoid..

          Nhân (kernel) : chứa khoảng 75 % dầu béo cấu tạo bởi những glycerides của các acid béo thông thường như linoleic, oleic, stearic và arachidic. Dầu ép từ hạt chứa các 4-phenylcoumarins như mesuol, mesuagin, mammeisin, mam meigin và mesuone Võ thân và gỗ thân chứa các 4-alkylcoumarins như ferruol A và B; một triterpenoid loại lupeol : guttiferol; ngoài ra còn có các mesuaxanthones A và B, ferraxanthone 1,7-dihydro xanthone, 1,5 dihydroxy-3-methylxanthone.. ; beta-sitosterol Nhị hoa chứa alpha và beta-amyrin; beta-sitosterol, biflavonoids-mesuaferrones A và B; mesuanic acid; 1-5-dihydroxanthone

      Dược tính và các nghiên cứu khoa học :

          Có khoảng trên 100 nghiên cứu khoa học đa số tại Ấn độ, Pakistan về dược tính và hiệu năng trị liệu của những thành phần từ cây Vấp như lá, hoa, dầu..ngoài ra cũng có một số thử nghiệm dùng các thang thuốc ayurvedic và umani (trong đó Vấp được dùng phối hợp với các cây thuốc khác)

     Khả năng sát trùng :

alt

        Dầu từ hạt đã được nghiên cứu về khả năng thanh lọc nước, có thể dùng như một phương pháp tự nhiên để khử trùng nước. Liều dầu thô để tạo khả năng thanh lọc nước được xác định là 2mg/ml (African Journal of Biotechnology Số 81-2011)

          Dịch chiết từ hoa bằng methanol có khả năng bảo vệ chuột bị gây nhiễm bằng Salmonella typhimurium. Liều sử dụng 4mg/ mỗi chuột, giúp giảm tỷ lệ tử vong (so với đối chứng), đồng thời có sự giảm số lượng vi khuẩn trong máu, gan và lá lách của chuột thử nghiệm. Thử nghiệm ‘invitro’ ghi nhận dịch chiết ức chế được sự tăng trưởng của 30 chủng Staphylococcus aureus và các vi khuẩn khác như Bacillus spp, Pseudomonas spp. Streptococcus pneumoniae, Sarcina lutea, Proteus mirabilis..Liều sát khuẩn chung được định là MIC=50 microg/ml.(Phytotherapy Research Số 18-2004) Một số thử nghiệm khác dùng phương pháp cấy vi khuẫn trên môi trường pha loãng dịch chiết (từ hoa, hạt..) trong thạch agar đều có những kết quả kháng sinh trên nhiều loại vi trùng và nấm gây bệnh khác nhau Dịch chiết bằng dichloromethane và methanol (1:1) có hoạt tinh diệt tất cả vi khuẩn thử nghiệm ở nồng độ 500 đến 1000 microg/ml. Vi khuẩn thử nghiệm bao gồm nhiều loài Bacillus Staphylococcus, E. coli, Streptococcus và những nấm, men như Candida albicans, Aspergillus niger ..Saccharomyces cerevisiae (African Journal of Microbiology Research Số 1-2007) Khả năng diệt nấm của dịch chiết bằng methanol từ hạt được thử nghiệm trên 7 loài nấm : Candida như C.albicans, C. glabrata, C.tropicalis, C.luteolus, Trichosporon ..và 4 loài nấm mốc Aspergillus ( A. candidus, A. flavus..) ghi nhận nồng độ diệt nấm thay đổi từ 125 microg/ dĩa cấy đến 500 microg (nồng độ này diệt được tất cả các loài nấm và mốc thử nghiệm) (African Journal of Biotechnology Số 7-2008) Các hợp chất loại 4-Alkyl và 4-phenylcoumarins ly trích từ hoa có khả năng diệt các vi khuẩn gram + và gram – như các Staphyloccus và Enterococcus đã kháng các chất trụ sinh, đồng thời có tác dụng diệt được ký sinh trùng gây sốt rét Plasmodium falciparum (Phytochemistry Số 65-2004)

     Khả năng chống nọc độc :

          Nước sắc từ lá có hoạt tính chống sự ly giải các tế bào fibroplast gây ra do nọc độc của bọ cạp (Heterometrus laoticus). Nọc độc bọ cạp được ngâm trộn với dịch chiết (0.7 mg/ml) trong 30 phút và sau đó cho tác động với fibroplast trong 30 phút .(Journal of Ethnopharmacology Số 103-2006) Khả năng trị đau, chống sưng và chống co giật :

          – Dịch chiết từ lá bằng n-hexane, ethyl acetate và methanol ở những liều 125 và 250 mg/ml, có hoạt tính làm giảm đau khi thử trên chuột bị gây đau, co thân bằng acid acetic.

alt

     – Dịch chiết từ hoa bằng ethanol chặn được phản ứng co giật khi thử trên chuột bị gây giật bằng điện (International Journal of Life Science Số 23-2012).. Dịch chiết từ dầu hạt bẳng petroleum khi thử trên ruột non (cô lập) chuột giảm được sự co thắt gây ra bởi acetylcholine đến 70-80 % (so với atropine gây giảm khoảng 55 %). Dịch chiết từ hạt có khả năng bảo vệ chuột chống lại sưng xương khớp gây ra bởi formaldehyde. Các thông số sinh học như số bạch huyết cầu (WBC), , hồng huyết cầu (RBC), vận tốc trầm lắng erythrocyte đều thay đổi theo chiều hướng tốt khi cho chuột điều trị bằng dịch chiết (J. of Ethnopharmacology Số 138-2011).

     – Mesuaxanthone A và B, khi thử trên chuột lang (albino rat) bị gây phù chân sau bằng carrageenan, bằng mổ và ghép bông gòn vào đùi.. Liều sử dụng 50 mg/kg cho thấy những hoạt tinh chống sưng phù rõ rệt, giảm được từ 37 % (A) đến 49% (B) so với chuột đối chứng (Indian Journal of Pharmacology Số 12-1980)

      Khả năng chông oxy-hóa và bảo vệ gan :

          – Khả năng bảo vệ gan của dịch chiết hoa khô bằng methanol được thử nghiệm về khả năng bảo vệ gan nơi chuột, gây tổn thương gan bằng cho uống nước chứa S. aureus. Các thông sô sinh học về men gan được theo dõi gồm AST, ALT, CPK, Creatinine, Urea, SOD, CAT, GPX.. Kết quả ghi nhận có sự gia tăng của SOD (Super Oxide Dismutase) và AST trong nhóm được trị liệu (so với đối chứng) , đồng thời có sự giảm hạ hoạt động cùa CAT (catalase), GPX (Glutathione peroxyde) và ALT (International Journal of Pharmacotechno logy Research Số 1-2009). Dịch chiết bằng ethanol từ hoa (liều 100 microg/ml) có khả năng ức chế (đến 96 %) hoạt động của nitric oxide (NO assay). Dịch chiết từ lá bằng nước-ethanol (1:1) ức chế được phản ứng peroxy-hóa lipid (Nutrition Số 65-2010) Khả năng diệt tế bào ung thư và ứng dụng trong trị liệu ung thư bằng hóa dược (chemotherapy) :

          – Dịch chiết thô từ lá và hoa bằng ethanol có hoạt tinh diệt tế bào ung thư loại cholango carcinoma (CL-6) với tỷ lệ sinh tồn khoảng 50% khi dùng nồng độ 50 microg/ml. Dịch chiết cũng diệt được tế bào ung thư thanh quản loại Hep-2 và ung thư gan loại hepatocarcinoma HepG2 (BMC Complementary & Alternative Medicine Số 10-2010). Dịch chiết bằng methanol có tác dụng ngăn chặn sự tăng trưởng của tế bào ung thư loại Ehrlich ascite carcinoma khi thử trên chuột

          – Thang dược thảo Ấn độ Muthu Marunthu, trong đó chứa hoa Vấp (100 mg) được thử nghiệm đánh giá hoạt tinh trên ung thư loại fibrosarcoma nơi chuột. Kết quả ghi nhận sau 20 ngày trị liệu có nhữg thay đổi tốt về DNA và RNA, các rối loại về yếu tố vi lượng gây ra do fibrosarcoma trở lại mức bình thường, đồng thời các thông số sinh học như các men Lactase dehydrogenase, Glutamate oxaloacetate transaminase Glutamic-pyruvic transaminase..đều ở mức bình thường so với chuột đối chứng (Journal of Ethnopharmacology Số 65-1999)

          – Thang thuốc Ayurvedic Maharisi amrit kalash-4 (MAK-4) có Vấp trong thành phần, được dùng tại Ấn Độ để hổ trợ, giúp giảm độc hại khi dùng Hóa chất trị liệu các trường hợp ung thư vú nơi phụ nữ. Các bệnh nhân được điều trị bằng cyclophosphamide, adriamycine và 5-fluocil (CAF), cho dùng ondansetron và dexamethasone để chống nôn. Các kết quả ghi nhận nhóm dùng thêm MAK (so với nhóm đối chứng) giảm được buồn nôn đến 43 %, cảm giác chán ăn (anorexia) giảm được 35.6 %, giảm tiêu chảy và khối ung thư ngưng tăng trưởng (Indian Journal of Medicine Pediatrics & Oncology Số 29-2008)

      Dược học cổ truyền :

          Vấp được sử dụng trong dân gian, phổ biến trong Hệ thống dược học Ayurvedic, Unani.. tại Ấn độ, Pakistan, Bangladesh… Các bộ tộc tại Assam dùng cây để sát trùng, gây xổ, lọc máu, trị giun sán.

          Ấn độ : Hoa dùng làm thuốc ho; Vỏ thân dùng chung với gừng giúp đổ mồ hôi.

Hoa phơi khô, tán thành bột dùng đắp vết thương.

          Y dược dân gian Thái Lan dùng trị nóng sốt, cảm lạnh, suyễn, đầy hơi, bổ tim và lợi tiểu (Foundation of Resuscitate and Encourage Thai Traditional Medicine 2005). Lá dùng đắp vết thương bị nhiễm trùng.

          Dược học Ayurvedic : Lá giã nát , đắp trên trán để trị nhức đầu khi bị cảm lạnh. Nước sắc, rượu ngâm với vỏ thân và rễ Vấp dùng làm thuốc bổ, thuốc trị bao tử. Dầu béo từ hạt dùng thoa trị các bệnh ngoài da như lở, bị thương, ghẻ. Hoa phơi khô, tán thành bột trộn với mỡ (ghee) hay bơ thoa trị trĩ, trị kiết lỵ. Hoa ngâm nước để giải khát, trị ho long đờm. Lá và hoa trị vết chich của bọ cạp..

     Các ‘đặc chế’ Ayurvedic như :

          – Naga Keshara-adi-Churna’ dùng trị kiết lỵ do trực trùng

          – Nagakeshara-Yoga trị trĩ.

          – Trung Hoa : tại Vân Nam, hạt dùng trị sang thũng, lở loét.

     Pakistan : Vỏ thân làm chất chát, ngâm rượu làm thuốc bổ đắng. Hoa làm thuốc trị tiêu chảy, kiết lỵ, ho. Hoa khô, tán thàh bột trộn mỡ làm thuốc thoa ngoài da trị trĩ, phỏng. Quả dùng trị các bệnh về bộ phẩn sinh dục, lợi tiểu..

Công dụng khác :

        Cây được trồng để tạo bóng mát, phân tán nhiệt cho môi trường. Dầu ép từ hạt có thể dùng làm nhiên liệu : phần chưng cất lấy được trong khoảng nhiệt độ 200-300 độ C có thể thay cho diesel; polymer từ dầu dùng chế nhựa dẻo..

                                 altGỗ thân, theo như tên Anh ngữ , rất cứng. Tỷ trọng cao từ 940 đến 1196 kg/ mét khối (khi khô còn 15 % độ ẩm). Gỗ khô màu đỏ xậm, khó cưa xẻ, thường dùng làm tà vạt đường rày xe lửa, làm đầu của gậy chơi golf. Cột tại Đền Embekke (SriLanka) xây dựng từ Thế kỷ 14, được làm bằng gỗ Vấp . Gỗ nhánh dùng làm chất đốt rất tốt. Hoa và Nhị dùng nhồi gối và nệm, dùng làm hương liệu.Hạt có thể dùng làm nguồn cung cấp chất đạm cho gia súc.

      Tài liệu sử dụng :

          – Ayurvedic Pharmacopoeia of India (Government of India)

          – Medicinal Plants (Kerala Agricultural University)

          – Medicinal Plants of India (S.K Jain & Robert DeFilipps)

          – Medicinal Plants of India and Pakistan (J.F Dastur)

          – Từ Điển Cây thuốc Việt Nam (Võ văn Chi).

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s