TRỞ LẠI CHÙA HƯƠNG


NGUYỄN TRỌNG TẠO

Năm nay chưa đi Chùa Hương. Đọc tin biết sáng 24/2, hàng vạn du khách thập phương đã hành hương về lễ hội Chùa Hương thấy xốn xang. Đưa lại bài viết về chuyến đi 3 năm trước…

Vẫn còn những ngày cuối cùng của 2 tháng hội Chùa Hương, bỗng một cú điện thoại của người đẹp hỏi: “Anh ơi, anh đi Chùa Hương với bọn em được không?”. Tôi nhận lời ngay, vì đã lâu lắm, tôi chưa trở lại Chùa Hương. Lần đầu đi Chùa Hương là xuân 1978 cùng với Lê Văn Mâu, nhạc trưởng Minh Cầm và anh em đoàn Ca Múa TCCT. Lần sau là năm 1999, đi cùng gia đình bà chị. Và đây là lần thứ 3 đi với Hằng, Nghị, Minh, Hà, (Bệnh viện Bộ xây dựng). Hai tay lái Mạnh, Huyền đưa chúng tôi đến Ban tổ chức lễ hội Chùa Hương. Ở đó đã có Minh công an đón, đưa xe ra tận bến Yến. Chao ôi là thuyền đò, đỗ san sát hai bên bờ như lá xếp đặt cạnh nhau. 

Một chiếc xuồng máy của đội bảo vệ do Tuấn hướng dẫn đưa anh em chúng tôi sang bên kia sông vào lễ Đền Trình.

Trời râm mát, người đua chen, hàng quán san sát. Có đủ các dịch vụ để phục vụ khách thập phương chuẩn bị đồ lễ. Một dãy dịch vụ đổi tiền lẻ…

Đền Trình dưới chân núi Rồng, còn gọi là Ngũ Nhạc Linh Từ, nhìn ra bến Yến Vỹ, thờ Quan Tư Mã Hùng Lang. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đền bị giặc Pháp đốt phá vào tháng 2 năm 1947, tiếp đến những năm 1951 -1953 giặc tạm chiếm đóng bốt tại làng Yến Vỹ, Đền Trình lại là mục tiêu bắn phá, cảnh quan xơ xác tiêu điều. Hoà bình lập lại với sự đóng góp nhân duyên của du khách thập phương cùng nhân dân thôn Yến Vỹ, Đền Trình được tu sửa lại. Năm 1962 Đền được bộ văn hoá thông tin xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia. Từ năm 1992 đến 1997 Đền Trình được xây dựng lại như ngày nay theo kiểu chữ “Tam“ (hậu cung – đại bái – tiền đường) theo nghệ thuật kiến trúc thời Lê ở Việt Nam. Các bức cốn đầu dư đựơc nghệ nhân đục trạm tứ linh tứ quí rất tinh xảo; bên ngoài các góc đao cách điệu rồng quài lá lật. Ngoài sân Đền có tượng võ sĩ, voi chầu bằng đá tạo nên vẻ tôn nghiêm phảng phất chốn cung đình. Trong hậu cung có 2 Giếng Rồng (còn gọi là Mắt Rồng). Cửa hậu cung luôn khóa. Nhờ sự thu xếp của Tuấn, ông từ đã mở cửa cho chúng tôi vào bái lễ. Ông từ chưa già lắm, có giọng đọc sớ ấm và vang nên nghe thật linh thiêng. Hằng (giám đốc bệnh viện) khấn cầu bái lễ khá lâu, tôi đoán chắc là chị cầu cho các bệnh nhân của chị sức khỏe và bình an…

Trưa, xuồng máy đưa chúng tôi lên bến Trò. Suối Yến phẳng lặng được hàng ngàn mái chèo khuấy động xuôi ngược. Người trên thuyền ai ai cũng nét mặt rạng rỡ, chuyện trò rôm rả. Phong cảnh ở đây như bức tranh sơn thủy. Hai bờ suối Yến núi non, cây xanh trùng trùng điệp điệp. mỗi ngọn núi đều có một hình dáng riêng, một tên gọi riêng, núi Gà, núi Tượng, núi Trống, núi Chiêng, núi Voi, núi Rồng… Tục truyền rằng ở đây có một trăm ngọn núi, chín mươi chín ngọn quay đầu về hướng động Hương Tích đảnh lễ Phật, chỉ riêng núi Tượng bướng bỉnh ngoảnh đầu đi nơi khác, nên bị Vị Hộ Pháp vung gươm chém sạt một bên hông. Nhìn núi Voi bị chém sạt, tôi lại nhớ bài thơ của Bút Tre viết về lao động sản xuất hồi kháng chiến trước đây:

Núi Voi trông thật giống con voi
Có cả đầu đuôi lẫn cả vòi
Voi cũng như người hăng sản xuất
Đầu thì trồng sắn, đít trồng khoai.

Theo Tuấn kể thì khách mua vé đi thuyền mất 85.000 đồng, trong đó vé tham quan 50.000 đồng. Chủ thuyền khi chở khách về phải nộp phí 4.000 đồng, nên họ chỉ được hưởng 31.000 đồng. Nếu khách đi thuyền do xe đưa đến thì chủ thuyền phải trả cho nhà xe 10.000 đồng…

Do thuyền dày đặc nên 30’ sau chúng tôi mới đến bến Trò. Đường lên chùa Thiên Trù (Bếp Trời – một sao chủ về ăn uống) hàng quán dày đặc, người lên xuống như mắc cửi. Ngôi chùa này tọa lạc trên thềm núi Lão được xây dựng từ năm Đinh Hợi (1467) đời vua Lê Thánh Tông niên hiệu Quang Thuận thứ 8. Theo một số sử ký còn lưu lại có chuyện kể rằng: trong một chuyến tuần thú phương Nam lần thứ hai, Vua Lê Thánh Tông cùng tướng sĩ qua vùng núi Hương Sơn nghỉ lại ở Thung Lũng núi Lão và cho quân lính thổi cơm ăn. Trong lúc thưởng ngoạn cảnh sắc thiên nhiên, Vua xem thiên văn thấy vùng này ở vào vị trí của sao Thiên Trù nên nhân đấy, nhà Vua đặt tên cho thung lũng này là Thiên Trù.

Đoàn chúng tôi được Hòa Thượng trụ trì tiếp lễ và ban bùa, sách. Sau đó Tuấn đưa đi lễ chùa và thăm cảnh chùa. Đây là ngôi chùa đẹp và linh. Trước sân rộng đặt một đỉnh đồng cao 3m dùng để khói nhang. Qua sân bảo thềm thứ nhất là đến bảo thềm thứ hai – là một cái sân cao hơn – hai bên sân là nhà cho khách ngủ trọ. Tiến đến sân bảo thềm thứ ba cao hơn một chút, qua hai cửa tam quan nối vào Tam Bảo chính là nơi thờ Phật. Hai bên Tam Quan là gác trống bên trái và gác chuông bên phải. Hai bên Tam Bảo là hai bể nước, các buồng sư, buồng cung văn, nhà dấu, nhà oản… Phía sau Tam Bảo là điện Thánh Mẫu Liễu Hạnh – người được mệnh danh là Mẫu nghi thiên hạ, bên trái, gác tàng thư, nhà Tổ ở giữa và Thiên Thuỷ tháp bên phải.

Chúng tôi được vào điện chính để làm lễ. Người ở ngoài đông chật luôn tay khấn vái…

Đã hơn 1h chiều, Tuấn đưa chúng tôi về nhà nghỉ ăn trưa. Bữa chay nhà chùa tiếp chúng tôi còn được gọi là “cỗ chay” với các món giò, chả, đùi gà, cá kho… làm bằng rau, bột, hình như có cả rau sáng chùa Hương… Anh Bang công an bảo vệ ưu tiên cho chúng tôi chai rượu ngâm hạt chuối nên “cỗ chay” thật là ngon khẩu. Anh Bang vào chùa công tác từ thời mới cưới vợ. Nghe nói vợ anh là “hoa hậu của làng”. Giờ anh đã có hàm Thượng tá, nhưng vẫn trực trong chùa xa cách vợ con. Phật tử từ xa đến viếng Chùa vẫn gọi anh là “Thầy”.

2h chiều, chúng tôi lên ga cáp treo đi đến Động Hương Tích. Đi cáp treo nhìn thấy các đền chùa nổi tiếng ở phía dưới: Chùa Giải Oan, Đền Cửa Võng, giếng Long Tuyền, am Phật Tích, Động Tuyết Quỳnh…

Giữa 2 ga có ga Giải Oan. Ở đây tiền lẻ được du khách ném xuống cứ tấp đầy, gió bay tơi tả. Nếu cuối ngày nhặt lại sẽ gom được cả bì tiền.

Đường từ ga cáp treo tới Động Hương Tích lên xuống chập chùng. Hàng quán la liệt. Người ra vào đông như nêm cối. Lối vào động, trên vách đá cao bên trái có khắc năm chữ “Nam thiên đệ nhất động” là của chúa Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm đặt bút đề tháng ba năm Canh Dần (1770) khi nhà Chúa tuần du Sơn Nam. Trong động những khối thạch nhũ to nhỏ được người xưa thổi hồn đặt tên theo hình dáng tự nhiên: Trên trần động, rủ xuống chín nhũ đá hình chín con rồng chầu một khối thạch nhũ dưới nền động, gọi là “Cửu Long Tranh Châu “, Núi Đụn Gạo, Cây Vàng, Cây Bạc, con trâu, con lợn, ao bèo, buồng tằm, né kén, Núi Cô, Núi Cậu và cả Bầu Sữa Mẹ thánh thót nhỏ như đếm thời gian mà du khách đến đây ai cũng mong mình may mắn có được một giọt lấy khước. Du khách chen chúc với bàn tay lên cao để hứng Sữa Mẹ, nhưng không phải ai cũng hứng được…

Vào điện thờ chính trong động lễ bái xong cũng đã 4h chiều. Chúng tôi trở lại bến Trò bằng cáp treo. Chiếc xuồng máy cũng vừa tới đón chúng tôi về bến xuất phát.

Một ngày du lịch Chùa Hương thật nhiều may mắn, suôn sẻ. Trời đẹp, cảnh đẹp, chủ khách trở nên thân quen, vui vẻ. Vậy là chúng tôi đã thăm viếng được 3 điểm chính của quần thể Chùa Hương là Đền Trình, Thiên Trù, Động Hương Tích. Cám ơn các anh  Minh, Tuấn, Bang và nhà chùa đón tiếp thịnh tình.

Chùa Hương – Hà Nội, ngày giỗ Tổ Hùng Vương, 31.3.2012

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s