TRẦN HỮU THUNG – NHÀ THƠ XỨ NGHỆ


GS. PHONG LÊ

Nhà thơ Trần Hữu Thung

Nhà thơ Trần Hữu Thung

Nhu cầu sinh hoạt văn nghệ của nhân dân, và đòi hỏi xuất hiện những nhà thơ nhân dân – ấy là một đòi hỏi thường xuyên trong đời sống lao động và chiến đấu của quần chúng; nhưng sự thực có lúc mang tính chất cấp bách khác thường. Buổi đầu kháng chiến chống Pháp là lúc như thế. Khi cuộc sống đầy thiếu thốn, gian khổ, nhưng lại bừng bừng khí thế đổi đời; khi sách vở giấy mực hiếm hoi, mà nhu cầu ca hát, phô diễn thì hầu như ai ai cũng có. Những đêm bập bùng lửa trại, tiễn dân công, đón bộ đội về làng, sinh hoạt tổ đội, mạn đàm, bình nghị, chia quả thực… Những câu hò nối đuôi nhau suốt lượt đoàn dân công tiếp vận, câu này gọi câu kia, như không dứt trong đêm trên đường ra hỏa tuyến… Cộng đồng sáng tạo ấy là đặc điểm của thứ không khí ấy. Linh hoạt, gọn nhẹ, tìm đến ngay với cách nói quần chúng, ấy là ưu thế của thứ văn nghệ ấy. Không thể tách rời dấu ấn thời đại đó với đặc điểm và đóng góp nổi bật của một lớp nhà thơ như Trần Hữu Thung (1923-1999). 

Những ai có tuổi đời lớn lên gắn với Cách mạng tháng Tám năm 1945 và kháng chiến chống Pháp “chín năm” đều nhớ có lúc thơ Trần Hữu Thung thật sự sống động trong sinh hoạt văn nghệ của nhân dân, nhất là nhân dân Thanh – Nghệ – Tĩnh, vùng tự do Khu Bốn cũ. Điều dễ nhận là ông khai thác tốt chất dặm vè truyền thống và có khả năng nhập cuộc vào ca dao. Ông từng viết: “Tôi tập làm ca dao”. Và quả có không ít câu thơ của ông có thể để lẫn vào ca dao:

Lúc đi giáo nỏ cầm tay
Lúc về súng lục cối xay đem về
Lúc sang đại bác moóc chê
Lúc về tàn rách, mũ mê thẹn thùng.

(Đi, về)

Con cóc ngồi trên cọc tre
Nó trách Vĩnh Thụy nó chê Hải Thần
Lời vàng đã hẹn với dân
Cớ sao đem bắc lên cân những chì
Cóc buồn cóc khóc tỉ ti
Cóc thương, cóc giận kiếp bầy chó săn.

(Con cóc)

Thật ra, nhà thơ, người viết chuyên nghiệp làm ca dao, đó không phải là chuyện gì đáng sửng sốt. Có thể có bài hay, rồi theo thời gian, thơ họ lẫn vào kho tàng của nhân dân, và đó là phần thưởng làm vẻ vang cho tác giả. Hoặc không hay, sẽ rơi ngay vào quên lãng, mất tăm trong thời gian. Điều đáng bàn ở đây, đối với một nhà thơ như Trần Hữu Thung, là thi liệu, cảm xúc, giọng điệu, cách nói quả có một dấu ấn ảnh hưởng đặc biệt của văn học dân gian xứ Nghệ; nhờ vào đó, thơ ông đến ngay được với quần chúng, nhập ngay được vào tiếng nói của họ, đáp ứng được ngay các yêu cầu phô diễn của họ.

Tuyên truyền kháng chiến – là mảng thơ Trần Hữu Thung thực hiện với rất nhiều hào hứng, nhiệt tình, và thực sự có hiệu quả. Đánh Pháp, chửi bù nhìn và bè lũ tay sai là việc nhân dân ta tiến hành bằng súng, gươm, cuốc thuổng, gậy gộc, và cả bằng thơ ca nữa, nhưng không phải giới thơ ca chuyên nghiệp đều có thể làm ngay và có hiệu quả. Riêng Trần Hữu Thung có thể làm ngay không chút e dè, ngần ngại, như các bài “ca dao” kể trên, và nhiều bài khác trong các hình thức ru con, dặm vè quen thuộc. Khi thì ông làm lời mẹ ru con, lời vợ nhắn chồng…; Khi thì ông nhân cách hóa thế giới cây cỏ, như bài Cò trắng phát thanh bằng thể thơ 4 chữ, làm lời cò kêu gọi thế giới chim, gồm đến mấy chục loài, mỗi loài tùy theo sở trường và đặc điểm của mình mà phát huy tác dụng, làm nghĩa vụ kháng chiến. Nghĩa vụ chung đó, trong từng việc một, thật nghiêm chỉnh, cao cả; nhưng rút lại, chỉ đơn giản thế này thôi, trong lời cò nhắc lại:

A lô, a lô
Công nhỏ công to
Làng chim nhớ lấy
Đồng tình đồng chí
Giữ nước giữ nhà
Giữ lấy đồng ta
Giữ mùa lúa tốt…

(Cò trắng phát thanh)

“Giữ mùa lúa tốt”, “Giữ lấy đồng ta”; cánh đồng và cánh cò; sự no đủ và cảnh sống thanh bình. Người nông dân gắn với kháng chiến trước hết từ các quyền lợi thiết thân và thường ngày của họ. Trên mạch đó, Trần Hữu Thung sẽ tiếp tục nói tiếng nói của cô gái đi tiếp vận:

Quê em ở cuối Hà Nam
Gửi con sắp sửa nhập đoàn dân công

(…)

Từ Gò Tra mưa ra Phố Sấu
Từ Phố Sấu mưa thấu Chi Nê
Mưa quây rừng núi mưa về
Đường trơn, gánh nặng đêm khuya sá gì!

Phảng phất ở đây hình ảnh người con gái “phá đường” trong cái “Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế”, và bà bủ trong đêm vắng, nhớ con xa, bồn chồn không ngủ giữa tiếng mưa, “Mưa đêm mưa tự chiến khu mưa về…” trong thơ Tố Hữu. Dầu chưa nổi lắm, dầu chưa phải tất cả đã thành thơ, nhưng khi cảm xúc, nghĩ suy của người viết đã hướng được vào nguồn mạch của tâm tình quần chúng thì những đoạn như trên sẽ có được một sức lay động riêng, không dễ quên được.

Bám chắc các chủ trương chính sách lớn của Đảng và Chính phủ, nhằm động viên, tuyên truyền kịp thời nhiệm vụ cách mạng, trong phần thành công của nó, thơ Trần Hữu Thung có giá trị như một thứ sử ca, gồm những việc cần nhớ, lưu lại sâu đậm trong ý thức nhân dân, không phải không có sức hấp dẫn nhất định. Để hiểu giá trị này cần đặt thơ Trần Hữu Thung vào một giai đoạn mà nhu cầu văn nghệ của nhân dân là rất lớn, nhờ ở sức giải phóng của Cách mạng tháng Tám, nhưng do vừa mới thoát khỏi ách thực dân phong kiến nên trình độ văn hóa, tinh thần của nhân dân cần gấp rút được nâng cao. Tuyên truyền kháng chiến, kêu gọi thanh niên nhập ngũ, cổ động dân công tiếp vận, động viên xây dựng hậu phương, giúp đỡ thương binh, bộ đội, cổ lệ phong trào mẹ chiến sĩ, hô hào đóng thuế nông nghiệp…, tất cả đều trở thành chất liệu hồn nhiên, và… vô tận của thơ ca. Phát động quần chúng nông dân đấu tranh với địa chủ, là một cuộc vận động cách mạng dân chủ lớn, đòi hỏi một nhận thức căn bản mới, nhận thức về giai cấp, đối với tất cả đội ngũ sáng tác của chúng ta lúc ấy. Nhưng với Trần Hữu Thung là một bước phát triển tự nhiên, không có đứt nối, không có khủng hoảng. Ở đây không có nỗi xúc động từ ngoài vào mà là cách nói trực tiếp ý chí, hành động của người trong cuộc với một loạt những bài in rất đậm dấu ấn một thời “giảm tô” và “cải cách”: Có chuỗi có xâu (tức bắt rễ, xâu chuỗi), Tố ra(tức đấu và tố địa chủ), Rạch hẳn làm hai, Đừng lầm, Cười được à, Chọn người chủ tọa, Mạn đàm quả thực… Chính do “nhập cuộc” nên ông có thể nói được những điều “gan ruột” của bà con nông dân trong một lối phô diễn tự nhiên không có gì là gắng gượng, khiên cưỡng.

Gắn với đồng ruộng, với chuyện được mất của mùa màng:

Gió mưa chi rứa
Trời hỡi là trời
Lúa ba tháng xuểnh mất rồi
Miếng ăn toan đổ vô nồi trật đi.

Chuyện địa chủ bóp hầu bóp cổ nông dân:

Làng tôi chết héo chết mòn
Nhà xưa trăm nóc nay còn được bao
Tôi nay bảy chục trên đầu
Bảy trăm cái nhục cái đau trong mình
Vợ tôi bụng chửa ngày sinh
Hắn đè hắn đập giữa đình trệch thai

Chuyện nông dân vùng lên:

Nông dân đã nói thì làm
Đã đi phải đến, đã bàn phải thông
Đã quyết là quyết một lòng
Đã phát là động, đã vùng là lên
Đã lật lật dưới lên trên
Đã chuyển là chuyển bốn bên chân trời.

Nhưng phải nói là đôi khi do quá sát gần, không tạo được một khoảng cách cần thiết giữa người viết và đối tượng, nên thơ ông cũng đồng thời mang những hạn chế lịch sử khó tránh trong nhận thức và tình cảm của cả một tầng lớp, của một thời:

Uốn càng cong tre vồng càng mạnh
Bưng càng thẳng trống đánh càng kêu
Nhằm người càng khổ càng nghèo
Càng bị áp bức càng cao tinh thần.

Có áp bức có đấu tranh, đó là kinh nghiệm lịch sử mà Mác đã đúc kết. Nhưng không nhất thiết bất cứ ai đã là người cùng khổ nhất thì đều trở thành người cách mạng nhất.

Ở đây khi nói đến văn thơ phục vụ, văn thơ tuyên truyền cổ động… ta đừng quên bối cảnh xuất hiện của nó: điều kiện sống thiếu thốn, gian khổ, nhưng mặc dù vậy, hay chính vì vậy, mà nhân dân càng cần tìm đến văn nghệ; trình độ văn hóa của nhân dân còn thấp (diệt giặc dốt là một trong ba nhiệm vụ mà Hồ Chủ tịch kêu gọi), nhưng cách mạng lại có yêu cầu tập hợp lực lượng và nhanh chóng nâng cao giác ngộ chính trị cho quần chúng công nông binh. Hoàn cảnh đó đòi hỏi văn thơ phải mang nội dung và hình thức phổ cập, tuyên truyền.

Quen thuộc với lời ăn tiếng nói của quần chúng vẫn là điểm xác định nét riêng, và chỗ mạnh trong thơ Trần Hữu Thung.

Nhưng nếu Trần Hữu Thung chỉ dừng lại ở mục đích tuyên truyền cụ thể, nếu thơ ông chỉ là bản sao mờ nhạt các cuộc vận động quần chúng, các sinh hoạt chính trị qua từng thời kỳ, thì hẳn nó sẽ lập tức rơi vào sự quên lãng và tên tuổi của ông sẽ mai một đi như rất nhiều tên tuổi vô danh. Cái phần giúp cho thơ ông vượt lên, không cần phải dựa vào một chiếu cố lịch sử nào vẫn là một bản lĩnh thơ có nét độc đáo, dẫu chưa phải thật dày dặn và dồi dào tiềm lực, để có thể lưu lại cho ta không phải chỉ một số bài.

Kể chuyện – ấy là sở trường của Trần Hữu Thung. Ông không nặng phô diễn tâm tình. Những bài thơ được nhớ và phổ biến một thời của ông đều là thơ kể chuyện. Điều này một phần do quy định của hoàn cảnh: thơ ít được in mà cần được đọc, không chỉ đọc mà cần phô diễn, nên rất cần động tác, cần diễn biến của sự việc. Và người đọc Khu Bốn cũ nhớ những O Bưởi, Hai Tộ của Trần Hữu Thung chính nhờ vào chấttruyện đó:

Làng tôi có o tên Bưởi
Tuổi vừa đôi tám hai mươi
Bụng dạ như gương, học một  biết mười…

Kể chuyện đồng chí Tô, o Bưởi, hoặc để cho Hai Tộ “hò khoan”, dẫu là trong lối phô diễn gần với cách nghĩ của quần chúng, Trần Hữu Thung đã xác định chỗ đứng riêng của mình, chỗ đứng của người kể chuyện, của người làm thơ. Từ khởi điểm này sẽ có nhà thơ Trần Hữu Thung. Nhưng để phát triển và duy trì được nó lại là con đường khó, và kết quả không thể tính ở số lượng. Thời gian rồi sẽ làm một cuộc sàng lọc để chỉ giữ lại những gì phù hợp với quy luật của nghệ thuật, những gì thật sự mang chất thơ. Sự sàng lọc ấy rồi sẽ giữ lại cho ta bài thơThăm lúa, nơi bộc lộ rõ nhất bản lĩnh thơ Trần Hữu Thung.

Bài thơ, như ta đã biết, làm lời người vợ nhớ chồng trong khung cảnh sinh hoạt bình dị mà sống động, đầy màu sắc của hậu phương nông thôn. Lời người vợ nói chuyện nhà nhưng cho thấy bóng người chồng trong kỷ niệm – nơi tiền tuyến xa. Qua tâm sự người vợ ta thấy buổi tiễn đưa bịn rịn, buồn nhưng không làm con người trĩu xuống, và nỗi nhớ không dứt trong cách xa:

Cam ba lần có trái
Bưởi ba lần ra hoa
Anh bước chân đi ra
Từ ngày đầu cầm cự
Bước qua kỳ phòng ngự
Anh có gửi lời về
Cầm thư anh mân mê
Bụng em giừ phấp phới…
Mùa phản công sắp tới
Lúa em cũng chín rồi…

(Thăm lúa)

một nỗi nhớ vừa kín đáo vừa hồn nhiên, không che giấu:

Xòe bàn tay bấm đốt
Tính đã bốn năm ròng
Người ta bảo không trông
Ai cũng bảo không mong
Riêng em thì em nhớ…

(Thăm lúa)

Nhưng có niềm vui bù lại, trong công việc, trong tình yêu, trong niềm tin ngày chiến thắng, chồng về. Với Thăm lúa, Trần Hữu Thung vẫn như “hóa thân” vào người vợ, vào tâm trạng người hậu phương, người ở nhà. Với Thăm lúa, Trần Hữu Thung vẫn quen thuộc trong thể thơ 5 chữ, kết cấu theo lối dặm vè. Nhưng khác ca dao, khác các điệu dân ca, ru con mà ông thường vận dụng, ở đây Trần Hữu Thung có ý thức giữ cho được bản sắc riêng của mình, bản sắc người kể, nhà thơ. Phong vị dân gian, màu sắc địa phương là cái đã được chuyển hóa vào lời chữ, giọng điệu, vào cách cảm nghĩ của mình, chứ không còn trong dạng của chính bản thân nó, như một sự sao chép, mô phỏng, như một sản phẩm của cộng đồng – cũng là của vô danh, từ xưa truyền lại.

Từ những năm sáu mươi, bảy mươi (thế kỷ trước), thơ Trần Hữu Thung trong những nỗ lực mới nhằm bám sát đời sống lao động, xây dựng trên đất nước, và trên địa bàn Nghệ Tĩnh quê hương thực ra không còn gây được sự chú ý lớn như thời kháng chiến chống Pháp. Tập thơĐất quê mình (1971) và tiếp đó, Tiếng chim đồng (1975) nói chuyện sinh hoạt, làm ăn, cày bừa cấy gặt ở nông thôn; chuyện bà con nông dân đi vào con đường làm ăn tập thể; chuyện những đổi mới thường ngày, rồi chuyện chiến đấu… Chẳng cần kể cho hết cũng đủ thấy đây là đề tài chung mà nhiều người viết cùng hướng tới, nhưng đạt cho được cách nói riêng, có phong vị riêng quả không phải dễ. Thật ra thì không phải là khó tìm trong Đất quê mình một tình yêu không dễ lẫn, một sự gắn bó thiết tha của nhà thơ đối với quê hương, trong cái vẻ khắc khổ riêng của nó, vùng quê Nghệ Tĩnh đất hẹp người đông, quanh năm vật lộn với lụt hạn, gió bão, với thiên nhiên khắc nghiệt hơn nhiều nơi, để giành từng hạt lúa, củ khoai…

Vừa đang chống hạn:

Một gầu nước phải qua mười hai lần múc đổ
Tưới lên ruộng kêu xèo xèo như tưới vào bếp đỏ

Tát từ ngày đầu suốt tới ngày năm
Sông cạn phải thêm gầu,
thêm bậc thứ mười bốn
Rồi mười lăm
Ngã trụi hai lùm tre đánh dây đóng cọc
Mới được một chéo đồng thấm nước.

đã lại lo sang chống lụt:

Cậu ơi, giá cậu được về
Cùng chèo thuyền chở đất ta cơi đê
Cùng thúc trống đổi gầu, trở bơm ngược lại
Chuyển thế trận, ta cùng quay trái.

(Thư gửi một người bạn)

Phóng khoáng, buông thả hơn trong thể thơ tự do, Trần Hữu Thung vẫn đi về trên hơi hướng ca dao truyền thống. Những niềm vui bình dị:

Hè ni con có về không
Thôn ta vui nhất là trong dịp hè.

(Cây tre)

Và nỗi đau dồn nén:

Kể rằng giặc đến dội bom
Cả nhà đang giữa bữa cơm tan tành
Chao ôi trọn một gia đình
Chín người chỉ sót một mình em tôi.

(Thăm em)

niềm tưởng vọng:

Sáng nay Bác gọi tiến lên
Nghe như Bác có nhắc riêng quê nhà.

(Bác gọi)

Những câu thơ tưởng như bình thường, nhưng có lẽ phải là người của quê hương Nghệ Tĩnh mới thấy có một ý vị riêng, một nỗi xao xuyến bên trong của nó.

Dầu sao trong ấn tượng chung, thơ Trần Hữu Thung dường như chưa vươn tới được tầm vóc mới của hiện thực, chưa nắm được thần sắc mới của cuộc sống đang diễn ra. Chưa có một chuyển biến thật mạnh về chất lượng, chưa kịp tự giàu có thêm, và còn ít biến hóa, thơ ông bị chìm đi. Có nhiều điều ông phải nhường cho người khác nói, có những chỗ ông nói thì người khác nói tốt hơn. Nếu có điều đáng chú ý trong sáng tác của Trần Hữu Thung thì đó là một niềm thao thức lớn đối với lịch sử. Lịch sử dân tộc trên mảnh đất Hoan Diễn ngày xưa đầy các sự tích, các chiến công. Niềm thao thức đó từng trở đi trở lại nhiều lần trong ông và từng lúc, ông đã có dịp thể nghiệm như trong Ngày thu ấy – có phụ đề Khúc ca Cách mạng tháng Tám (1957), Cờ đỏ bên sông Lam (1957), Kể chuyện Minh Khai (1961), và tập trung, nâng cao trong truyện thơGió Nam (1962). Gió Nam, như tên gọi, những cơn bão Lào, những vùng đất nóng, những da người xám nắng, cả tiếng to giọng… Gió Nam, đồng vọng tiếng lịch sử, cha ông. Gió Nam, theo nhịp võng ru, quá khứ thức dậy… Cảm hứng lịch sử, màu sắc địa phương, những chân dung người bộc trực kiên cường, những tính cách vừa phóng khoáng vừa khắc khổ, tinh thần khí lực có dư thừa, nhưng “thời thế” không cho thành đạt, những cuộc bạo động bị dìm trong máu, trong uất nghẹn, nhưng lời khảng khái vẫn vang ngân; những chiến sĩ lên giàn lửa, vẫn tiếp tục gọi lửa nơi những người sống… Có lẽ, tất cả đều là ngụ ý của người kể chuyện, qua những khổ thơ lúc dồn nén, khoắc khải, lúc dãn ra, trang nghiêm và cổ kính…

Cho đến khi qua đời, cảm hứng lịch sử dường như vẫn sâu nặng ở Trần Hữu Thung, có điều nó đang tìm sự kết nối với cảm hứng thời sự. Đọc Vinh rực lửa (1969) trong chiến tranh, rồi đọc Ký ức đồng chiêm (1988) như một thứ biên niên sử, một bảo tàng của một vùng đất cổ, tôi cứ băn khoăn không biết cái dòng kênh xanh và cái viễn cảnh đầy lãng mạn của vùng quê sông Bùng có mối liên hệ hoặc duyên nợ gì với cái “dòng sông Cụt”, sản phẩm của cái thời “sắp xếp lại giang sơn” vừa hài hước, vừa bi thảm như trong một truyện ngắn của Trương Huy San? Ông là người đến tận cùng đời mình vẫn gắn bó máu thịt với đất quê, do vậy, điều dễ hiểu ông cũng là người nhạy cảm nhất về những bước đi của nó… Đã từng hào hứng về nó, hẳn có lúc ông đã lao lung nghĩ suy và đau khổ về nó.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s