TRƯỜNG CA NGUYỄN THỤY KHA – THÔNG ĐIỆP MỘT THỜI


BÙI VĂN KHA

(Đọc “Trường ca ngắn – Kịch thơ” của NGUYỄN THỤY KHA, Nxb HỘI NHÀ VĂN, H, 2014).

Nhà thơ NGUYỄN THỤY KHA

Nhà thơ NGUYỄN THỤY KHA

Khi dân tộc bước vào cuộc chiến tranh giải phóng một mất một còn với chủ nghĩa thực dân đế quốc Pháp – Mỹ, thì trường ca xuất hiện. Và lịch sử văn học ghi nhận những gương mặt tiêu biểu của trường ca trong thơ chống Mỹ: Thu Bồn với Bài ca chim Chơ Rao, Nguyễn Khoa Điềm với Mặt Đường Khát Vọng, Nguyễn Đức Mậu với Nấm Mộ Và Cây Trầm và Trường Ca Sư Đoàn, Trần Mạnh Hảo với Đất Nước Hình Tia Chớp, Thanh Thảo với Những Người Đi Tới Biển, Hữu Thỉnh với Đường Tới Thành Phố, Nguyễn Trọng Tạo với Trường Ca Đồng Lộc,…(cũng có thể kể thêm những bài thơ dài có dáng vóc trường ca như Bằng Việt với Trở Lại Trái Tim Mình, Phạm Tiến Duật với Lửa Đèn, Dương Hương Ly với Bài Thơ Hạnh Phúc,…).

     Xét một nền văn học trong những giai đoạn lịch sử nhất định thì trường ca là thể loại văn vần mang nhiều đặc trưng nhất của nội dung thời đại.

     Từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 trở về đấy, văn học Việt Nam trải qua 2 giai đoạn lớn: 1945 – 1975 là thời kỳ hai cuộc Kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ; 1975 đến nay là thời kỳ đất nước thống nhất xây dựng xã hội mới. Nhưng ngay cả trong 2 thời kỳ này cũng có thể chia làm nhiều giai đoạn với các nội dung đặc trưng riêng, nổi lên quy định tính chất của giai đoạn đó, như 1954 – 1975 thì miền Bắc vừa là Hậu phương lớn cho Tiền tuyến lớn miền Nam đánh Mỹ, vừa bước đi ban đầu quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hay trong thời kỳ 1975 đến nay, thì có giai đoạn Hậu chiến 1975 – 1985 (trong đó xảy ra 2 cuộc chiến tranh ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc 1978- 1979, kéo dài đến 1985 còn chưa dứt hẳn. Hậu chiến là chỉ sự kéo dài của cuộc kháng chiến chống Mỹ, thực ra cũng chỉ đến 1980 là hết, sau này, nội dung xã hội đã sang giai đoạn khác, Nga gọi là Glanot – công khai và Perextôika – cải tổ). Rõ rệt nhất từ năm 1986 cả nước bước sang Thời kỳ Đổi Mới mà thành tựu của nó in dấu ấn ở tất cả mọi ngóc ngách của đời sống vật chất – tinh thần trong xã hội, tác động đến bối cảnh khu vực và quốc tế.

     Trường ca, theo truyền thống, sử dụng bút pháp anh hùng ca và sử thi, nhiều lúc kết hợp lại thành sử thi – anh hùng ca. Ở nước ta, Đẻ đất Đẻ nước là sử thi cổ tích; Trường ca Đam San là anh hùng ca thần thoại. Như vậy, thể loại này ra đời rất sớm trong cái phông chung của văn hóa dân gian.

     Khi dân tộc bước vào cuộc chiến tranh giải phóng một mất một còn với chủ nghĩa thực dân đế quốc Pháp – Mỹ, thì trường ca xuất hiện. Và lịch sử văn học ghi nhận những gương mặt tiêu biểu của trường ca trong thơ chống Mỹ: Thu Bồn với Bài ca chim Chơ Rao, Nguyễn Khoa Điềm với Mặt Đường Khát Vọng, Nguyễn Đức Mậu với Nấm Mộ Và Cây Trầm và Trường Ca Sư Đoàn, Trần Mạnh Hảo với Đất Nước Hình Tia Chớp, Thanh Thảo với Những Người Đi Tới Biển, Hữu Thỉnh với Đường Tới Thành Phố, Nguyễn Trọng Tạo với Trường Ca Đồng Lộc,…(cũng có thể kể thêm những bài thơ dài có dáng vóc trường ca như Bằng Việt với Trở Lại Trái Tim Mình, Phạm Tiến Duật với Lửa Đèn, Dương Hương Ly với Bài Thơ Hạnh Phúc,…).

     Có một quãng thời gian trường ca thưa thớt do cảm hứng chủ đạo ít nhiều thay đổi. Những khái niệm chính trị đã khai thác hết, cũ không cẩn thận thành sáo cạn, cần phải cải cách; mới thì chưa hoặc đang định hình. Nội dung kinh tế đời sống thường ngày lấn át, bao trùm với một khái niệm mới: Thị trường (định hướng xã hội chủ nghĩa – tôi để trong ngoặc vì đây là một nội hàm chưa có định tính rõ ràng và định lượng tiêu chuẩn). Xã hội Việt Nam ba mươi năm trở lại đây có lúc chao đảo ghê gớm, nhiều lúc mất lòng tin, nhất là khi Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa sụp đổ. Trong nước thì giá lương tiền đảo điên. Bóng ma Bao cấp nặng nề, như bi, như hài. Đây là giai đoạn tích lũy cho một quá trình nhận thức lại, máu, hoa, bánh mỳ và bùn nhơ xen trộn.

     Trường ca phải mang trong nó bi kịch. Và vai trò của người kể chuyện phải ở vị trí hàng đầu. Tuyến nhân vật phải xuyên suốt với diện mạo mà nó đại diện. Giọng điệu ngoài tự sự, trữ tình còn cả văn xuôi. Thể loại thì đa dạng, nhưng thơ tự do hay được dùng hơn cả trong trường ca hiện đại. (Ta đã biết các truyện thơ truyền thống hầu như đều là lục bát như Truyện Kiều của Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, hoặc song thất lục bát như Chinh Phụ Ngâm qua bản dịch của Đoàn Thị Điểm; Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều). Và trên hết, là thái độ của tác giả. Idiat và Odyxe là anh hùng ca về các anh hùng, tất nhiên phần lớn nghiêng về Hy Lạp. Vai trò của đỉnh Ô lanh phơ trộn vào vai trò của các anh hùng trần gian. Các câu chuyện dân gian được nhiều đời, nhiều người, nhiều nơi sáng tác thi vị hóa và Hômerơ là người sáng tạo cuối cùng để thành kiệt tác.Và đó là bài ca của thế giới con người thần thánh hóa trong buổi bình minh của nhân loại văn minh. Dông dài một chút để nói không phải ai cũng  làm trường ca thành công khi mà tư tưởng và hình thức nghệ thuật phải tuân thủ theo nguyên tắc mỹ học cao nhất: sự chân thực lịch sử!

     Trong Trường Ca Ngắn và Kịch Thơ (ở đây tôi chỉ bàn về trường ca ngắn; Kịch thơ sẽ nói ở một dịp khác, nhất là có một người Hải Phòng là nhà văn Hoàng Công Khanh với Bến Nước Ngũ Bồ, Cung Phi Điểm Bích đã là một tượng đài về kịch thơ Việt Nam), Nguyễn Thụy Kha đã xây dựng những khái niệm đặc trưng cho từng nội dung giai đoạn: như cảm hứng lấy từ Điện Biên năm 1954 đến nay là Lòng chảo; Đoàn tàu không số thì là cực sóng;  rồi những Biến tấu Souliko, Màu Quảng Trị, Hà Nội tháng Chạp nóng, Gió Tây Nguyên, Mùa xuân trắng, Những người bốc vác. Việc chọn chính xác khái niệm sẽ đưa đến một nội hàm chuẩn để triển khai ngoại diên tức là tập hợp các đối tượng phản ánh. Hơn nữa, khi mở rộng khái niện ban đầu, ngòi bút sẽ tự do đề cập  hơn, mà vẫn chặt chẽ về cấu trúc. Âm hưởng bi kịch anh hùng ca có đất dụng võ. (ở đây là nhân vật tập thể – có những cá nhân có tên hoặc không tên cũng đều nằm trong tuyến anh hùng tập thể). Các anh hùng tập thể hoặc nhân vật anh hùng tập thể đại diện cho chính nghĩa chiến đấu chống cái ác phi nghĩa: ở đây là bọn đế quốc, thực dân, bành trướng, phản bội, đói nghèo, tham nhũng, (có cả hoàn cảnh như trong Những người bốc vác).

     Thái độ của nhà thơ là đứng về phía dân tộc và nhân dân, về phía lẽ phải và nhân văn. Nguyễn Thụy Kha không một chút nào ảo tưởng hòa bình kiểu dĩ hòa vi quý. Hòa bình chỉ có được khi đấu tranh giành giữ nó! Nhà thơ dứt khoát gọi tên kẻ thù, tôn vinh quá khứ hào hùng của dân tộc, của những anh hùng dân tộc, của nhân dân nước Việt ngàn đời cũng như những hy sinh trong thế kỷ XX vì độc lập tự do và dân chủ hạnh phúc.

     Sự hấp dẫn của trường ca ngắn Nguyễn Thụy Kha đến từ cách kể. Giọng trữ tình xen với tự sự, mà tự sự là chính, cuốn ta vào sự việc. Tác giả chắc tay trong kết cấu, trong suy lý chính là bởi vì nhà thơ rất sáng tạo khi đưa ra một khái niệm, và một tuyến nhân vật và bối cảnh để triển khai ý đồ tư tưởng. Xét trường ca Lòng Chảo: Từ một lòng chảo thật là Điện Biên, đưa đến một loạt lòng chảo khác như Khe Sanh, Hà Nội tháng Chạp lòng chảo ngược trên không, đến lòng chảo hôm nay. Mỗi lòng chảo là một thử thách, một cuộc chiến đấu. Và tại sao lại là lòng chảo mà không phải là thung lũng hay vùng lõm. Chúng ta tìm hiểu kỹ trường ca này để thấy logic tư tưởng tác phẩm liền mạch qua các chương đoạn.

     LÒNG CHẢO

     “lòng chảo/ nơi thời gian phải lòng không gian/ nơi không gian giao hoan thời gian/ những điệu xòe Thái đầy nước mắt/ vọt lên tiếng sáo Mông/ rập rình cơn địa chấn”. Nhà thơ cũng khẳng định: “mảnh đất nào chẳng có sự tích riêng”. Sự việc biện chứng “trái đất đứng im/ thì lòng chảo ngay cái tên Điện Biên/ chắc gì đã có/ mà có rồi thì chắc gì ai biết/ nhưng giặc Pháp đã chọn thung lũng này/ làm tập đoàn cứ điểm/ cái chốt cứng ngã ba biên giới”

“và lòng chảo Điện Biên/ đã bước vào sử sách”. “Điện Biên!/ chỉ thế thôi để hai tiếng ấy/ in khắc vào tinh cầu/ ra đi vô danh bao người lính/ năm mươi sáu ngày đêm/ dẫu máu hoen chồng chất/ vẫn là khiêm nhường/ cho một chiến công long trời lở đất”.

     Người ta đã nói về Điện Biên rất nhiều. Vấn đề là nếu nói bây giờ khi thời gian đã lùi xa mấy chục năm thì phải nói thế nào? Nhà thơ đã cho một nhân vật Pháp Lê dương, tù binh Điện Biên Phủ, nói cảm nghĩ của mình . và tiếng sáo Mông, âm thanh nguyên thủy làm con người ở hai bên xích lại và cảm thông:

     “bây giờ phải không anh/ tôi có thể nói về quá khứ/ quá khứ khủng khiếp không hiểu sao khi đó/ tôi may mắn sống bằng khẩu phần tù binh/ quá khứ rùng mình”.

     “buổi ấy tôi không sao hiểu được/ khi vết tích hồi thất thủ Pa-ri/ như vết bỏng mặt người chưa lành hết/ chính phủ La-ni-en/ buộc chúng tôi đi “đánh giặc”/ giặc gì ở Điện Biên?”

     “tôi vốn yêu âm nhạc mà anh/ thích ngồi bên dương cầm chứ không phải là trọng pháo/ thế mà hy vọng để có ngày ngồi bên dương cầm/ tôi đã phải đến Điện Biên/ dập tắt những điệu xòe tiếng sáo/ ôi tiếng sáo Mông ngọn lửa giữa mù sương”

      “Người Pháp đã làm gì ở Việt Nam một thế kỷ thực dân?/ Xây dựng cầu Đu-me ư?/ Mang ca khúc vào Hà Nội ư?/ kiến tạo Hà Nội thành thủ phủ liên bang Đông Dương ư?/ văn minh khai hóa/ nhuốm quá nhiều máu ”

     “ôi giá như mùa đông năm 1946/ khi các anh rút khỏi Hà Nội sau hơn một tháng quyết tử kiên cường/ người Pháp phải nhận ra các anh sẽ trở về Hà Nội/ như người Pháp từng rút khỏi Pa-ri để trở về Pa-ri/ thì chắc chắn/ đã không dẫn tới Điện Biên”

     “nhưng sự thật phũ phàng sự thật có Điện Biên/ người ta cố tình quên những cái không được quên/ như thế kỷ hai mươi từng nghi ngờ Anh-xtanh, Xi-becnitich/ tại sao hồi đó thế giới đã sản xuất ra đèn bán dẫn/ mắc mớ gì mà Pháp lại sa lầy ở Việt Nam”

     Nguyễn Thụy Kha có lối dẫn chuyện rất ngọt. Từ kháng Pháp sang kháng Mỹ được thể văn chính luận ngắn gọn, súc tích làm câu thơ văn xuôi dễ hiểu nhưng cũng đầy chất thơ: “Từ lòng chảo Điện Biên/ những người lính chiến thắng/ lại tiếp tục hành trình”- “tất cả quân phục xanh cùng xuyên Trường Sơn/ tất cả đều mang trong đáy lòng mình một lòng chảo/ của một dân tộc đã bị dồn xuống đáy sâu/ buộc phải vùng lên đứng giữa trời chiến đấu/ và để nhận ra sức mạnh chiến thắng của mình/ phải bật từ lòng chảo/ mà bắt đầu từ lòng chảo Điện Biên”

     “lòng chảo Tây Nguyên/ …tháng 10 năm 1965”, “ xuân Mậu Thân 1968 tại lòng chảo Khe Sanh”, “cuối đông 1972 bầu trời Hà Nội thành một lòng chảo ngược/ trận Điện Biên trên không/…hắt oán hờn tới lòng chảo trời xanh”- “lòng chảo khiến phải tin những ngày không thể tin”.

     Từ cụ thể đến trừu tượng là một thao tác của tư duy. (khác với từ trừu tượng đến cụ thể của suy lý diễn dịch). Lòng chảo hư cấu trong tôi, trong chúng ta, qua nhà thơ, lại thành có lý: “nhưng ngừng tiếng súng đâu phải ngừng gió bão/ gió bão vẫn lật tung từ số phận người/ người bỏ quê hương di tản những chân trời/ người trở về ôm nhà tranh vách nát/ bao hố bom bao căn hầm khắp nước/ lõm vào ta một lòng chảo âm thầm/ với bao băn khoăn với bao phân vân/ trên từng ô ruộng nghèo trên từng ô tem phiếu/ ai đã hiến dâng bây giờ mới hiểu/ mọi điều diễn ra chẳng giống những ước mơ”

     “rồi tiếng súng lại nổ vang biên giới Cămpuchia/ áo lính cởi ra lại mặc vào áo lính/ lại dâng hiến lại hy sinh tình nguyện/ cứu những con người lò diệt chủng dã man/ cùng lòng chảo kia vẫn day dứt khôn lường/ người lính giấu mình vào câm lặng”

     “rồi tiếng súng lại nổ vang biên giới phía Bắc/ những định nghĩa bạn, thù, đồng chí thêm lần ngẫm nghĩ lại qua chiến hào máu đổ/   /lòng chảo trong ta lại lõm thêm trận đánh”. Song hành với kẻ thù phương Bắc ấy, là nỗi đau riêng của người lính khi trở về: “kẻ thù của chúng tôi bây giờ là chính chúng tôi/ lòng chảo của chúng tôi ở trong chính chúng tôi/ chịu thua thiệt tức là biết chiến thắng/ chẳng AQ cũng chẳng Chí Phèo cứ một mình lẳng lặng/ ”

     “người bạn thương binh từ trận Iađơrăng/ hay từ Khe Sanh hay từ bao mặt trận/ không hiểu sao những ngày mình ra đi đánh giặc/ bao nhiêu mùa là bấy nhiêu mùa vợ con ở nhà nợ thóc hợp tác xã/ anh trở về với vết thương cắn xé/ lại cắn chặt răng làm trả nợ từng mùa/ cho lũ cường hào mới nhởn nhơ/ giở giọng dạy đời thạo thông chính sách”. Tôi thấy câu kết chương hai này không cần bình thêm nữa: “cứ âm thầm giành giật trong lòng chảo của mình/ để tồn tại một gia đình để không thua cuộc”.

     Trong một vài lần gặp nhạc sĩ Doãn Nho ở 19- Hàng Buồm, tôi được ông nói về cái sự khác nhau của thời điểm. Ông bảo khi sáng tác “Chiếc khăn Piêu”, “Năm anh em trên một chiếc xe tăng”,…lòng ông trong vắt. Bây giờ thì không được thế.  Đoạn thơ này chính là viết về ông nhưng là đoán định. (từ danh xưng có thật đến phiếm danh được tác giả sử dụng ở các trường ca ngắn là theo thủ pháp của văn hóa dân gian, nhưng trên nền hiện thực chứ không phải tưởng tượng): “Người nhạc sĩ bật lửa châm hương cắm vào từng ngôi mộ nghĩa trang Điện Biên”

     “và nhặt về một chiếc khăn Piêu/ lạc giữa điệu dân ca Khơ Mú”

     “bài ca về Kpa- kơ- lon là trận đầu tiên/ anh tuyên chiến với lòng chảo của mình/ trận Điện Biên của những người lính nhạc sĩ/ chính là cuộc chinh phục những giai điệu dân ca đồng bằng miền núi/ biến hóa thành giai điệu hôm nay”

      “những giao hưởng tưởng niệm/ vẫn day dứt anh năm tháng thanh bình”

     Còn đây là tranh miêu tả Đại tướng nhân dân Võ Nguyên Giáp:

     – “Vị tướng già thêm một mùa xuân/…/từ một thày dạy sử và yêu sử nước nhà/ ông đã đi theo Hồ Chí Minh viết thêm trang sử mới”

      “lòng chảo thành chiến lược của ta/ dựng tầm vóc giữa tinh cầu nhân loại/ như tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi/ dù thăng trầm dù bão tố thời gian/ ông đã sống với những suy tư như lòng chảo trong mình/ biết đau đớn trước sai lầm nông nổi/ biết đứng cùng nhân dân chống lại những lộng hành giả dối/ hóa giải mọi bất đồng, đại đoàn kết Việt Nam/ sau tất thảy bao nhiêu chiến thắng/ chiến thắng lớn nhất đời ông là chiến thắng chính mình”.

     Khép lại một trang lịch sử chiến tranh cũng phải có một cá nhân. Đoạn nói về tổng thống Pháp Phờ- răng- xoa Mít- tơ- răng: “Mit tơ răng khẽ thở dài giữa Hà Nội thanh lịch/ một bình minh thả bộ quanh Hồ Gươm/ xứ sở nơi ông có một ấu thơ lãng mạn vô chừng/ lại là xứ sở mà ông phải có những quyết định hóa giải khi đương nhiệm tổng thống”.

     Để làm rõ hơn sự chặt chẽ giữa tư tưởng và hình thức nghệ thuật trong trường ca ngắn của Nguyễn Thụy Kha, ta cũng nên đi sâu hơn ở một  trường ca nữa: CỰC SÓNG (Kính tặng những Thủy quân “Đoàn tàu không số”).

Đầu tiên là một đoạn tự sự trữ tình: “Tôi con dân chính gốc Hải Phòng”

     “Năm ấy tôi mười ba tuổi”

     “Cũng là biển nhưng biển ở Đồ Sơn/ Một bán đảo mang hình quả đấm/ ”

     “Năm ấy chúng tôi đâu biết có một chuyện bất ngờ từ đây sẽ xảy ra/ Chúng tôi thì lạc đường nhưng những người lính hải quân lại đang tìm đường mới/ Và cái vịnh khuất nẻo này sẽ là nơi xuất phát/ Của một đoàn tàu dũng cảm ra đi/ Họ sẽ từ đây xuyên qua mọi hiểm nguy/ Mọi cản ngăn mọi soi lung kẻ địch/ Họ mở ra một hành trình đặc biệt/Đưa vũ khí từ đây vào đến tận Cà Mau/ Như đưa niềm tin thống nhất sắt son/ Thắp sáng giữa miền Nam tăm tối/ Hành trình này như thu nhỏ hành trình năm xưa của Bác/ Hành trình đại dương tìm đường cứu nước/Làm nên một huyền thoại biển Đông ”

     Đến tự sự chân dung:

     “Họ là ai?”

     “Bông Văn Dĩa mỉm cười chào tạm biệt lên đường/ Nụ cười xanh lá đước”

     “Lê Văn Một cũng cười vang”

     “Họ là ai/ Năm tháng cứ âm thầm/ Những chuyến tàu đâm qua cơ thể địch/ Những người thủy quân bình thường người sau người trước/ Nhập vào cuộc ra đi khát vọng dâng trào”

     “Đặng Văn Thanh và Huỳnh Văn Sao/ Trụ lại tàu dưới tầm không lực Mỹ/ Họ vừa chuẩn bị kíp mìn để nổ tung con tàu/ Vừa dọn ra mâm cơm thản nhiên ngồi uống rượu/ Những ly rượu cụng nhau hai cái đầu đấu trí/ Thử thi gan xem ai được ai thua”

     “Nhưng có lần con tàu bất ngờ bị máy bay bắn phá/ …/ Cuộc đọ súng ngày càng quyết liệt/ Vũ Văn Ruệ, Võ Nho Tòng, Phạm Văn Kiểm hy sinh/ Và 12 thủy quân bị thương”

     “Ai bây giờ ra Trường Sa yêu thương/ Sẽ gặp đảo nhỏ có tên Phan Vinh/ Anh chính là một người anh hùng của đoàn tàu không số”.

     Thế mạnh của trường ca chính là ở những đoạn kiểu thơ văn xuôi miêu tả như trên.

     Ngoài ra, tất cả các trường ca khác đều có thể đọc như truyện vừa để biết được các nhân vật với số phận và cuộc đời họ. Tôi xin được trình bày những chính yếu nhất, bắt đầu từ  BIẾN TẤU SOULIKO (Tưởng niệm chị Thùy)

     “Không biết tự khi nào chị mê bài dân ca Grudia độc đoạn “Souliko””

     “Souliko! Souliko!/ Điều bí ẩn gì mà từ Grudia xa lắc/ dáng hình vô hình của nàng đã lan trùm mặt đất/ đã nhập vào chị như nhập đồng/ đã tỏa trong chị như một sức mạnh phi thường/ và chị đã hóa Souliko ngày ấy/ chia tay người nhạc sĩ chiến binh vào chiến trường lửa cháy/ rồi chính chị cũng bước lên đường/ Souliko như định mệnh bi hùng/ Chị đã luyện vào mình viết ra bao biến tấu/”

     “Anh ơi!/ không phải là chàng trai đi tìm Souliko/ mà là em, nàng Souliko của anh, đang ròng rã/ theo dấu chân anh đã từng xuyên Trường Sơn hoang dại/ con dốc này còn in bóng anh có phải/ mà nụ cười ai khiến time m nghẹn thắt lưng chừng”

     “nỗi nhớ trong em ngày mỗi lớn dần/ lớn đến nỗi biến tấu chừng rạn vỡ/ lớn đến nỗi chính em luôn bỡ ngỡ/ chẳng khốc liệt nào chặn đứng nổi nhịp tim/ Chẳng gian nan nào hạ gục được em/ Chẳng khổ đau nào làm en vấp ngã/ nơi đầy bóng thù là nơi anh súng nổ/ tỏa nhớ thương về phía em đi”

     “Ai cũng nghĩ khi ta gặp nhau là có thêm một lễ cưới giữa chiến trường/ nhưng chuyện chúng mình có lẽ còn tiểu thuyết hơn ngàn trang tiểu thuyết/ người lính có thể mất ba tháng vượt Trường Sơn là thỏa thuê đánh giặc/ em đằng đẵng trăm ngày tới đây để vĩnh viễn không anh/ tình yêu éo le đến mức chẳng cuộc chiến tranh nào hòa giải nổi cho mình/ sao anh có thể làm xước con tim em rỉ máu/ Souliko không chịu bị lãng quên Souliko biến tấu/ âm hưởng đạn bom gầm rú xung quanh”

     “hỡi những thủy thủ tàu không số ít lời/ những anh hùng đường mòn Hồ Chí minh trên biển/ Chắc các anh không ngờ giữa tuyệt vọng tử sinh/ đã có một phép màu chợt hiện/ đưa các anh tới bệnh xá này/ các anh làm sao biết được giữa xa lạ nơi đây/ Lại có một cô gái Hà Nội, một nàng tiên áo trắng/ nâng các anh về đời giữa nát tan chiến trận/ để lại được an lành để được phục sinh/ điều thần kỳ của chiến tranh nhân dân/ ta đã biết không bao giờ biết hết/ ta đã hiểu để sẵn sang dám chết/ vẫn ngạc nhiên như ở cõi tâm linh”

     “Nhưng cũng chiến tranh/ chẳng những cho ta thấy được những tầm cao không ngờ/ mà còn tỏ tường với ta những vực sâu/ trong lòng con người cực hiểm/ không thể hiểu nổi sao một con người lại có thể mang nhiều bộ mặt đến nhường kia/ để tốt xấu cứ thoắt chìm thoắt hiện/ ”

     “Nhưng còn điều này ghê gớm đến tận cùng/ mà khi sống, dù rất thông minh chị vẫn không thể nào đoán định/ kẻ đã bỏ mặc chị với thương binh đói trong vòng vây để tìm đường lẩn tránh/ sau cái chết của chị cái chết của Souliko/ Hắn lại điềm nhiên vẽ ra một kịch bản/ lại bịa ra một nhân chứng để giấu che sự hèn nhát của mình/ để yên tâm sống tiếp những tháng năm tẻ nhạt/ những kẻ như thế trong chiến tranh giờ vẫn còn nhởn nhơ không ít/ chúng mang những bộ mặt kia/ len lỏi giữa con người dọa dẫm/ giờ không còn những Souliko chết trận/ nhưng vẫn còn những Souliko oan khuất/ giữa đời/ biến tấu này/ phải thét lên/ nhạc rock/ mới người”.

     MÀU QUẢNG TRỊ

     Chương 1: Cát trắng. mùa hè 1972, những người lính trẻ măng từ miền Bắc vào châu Ô châu Lý giống như những người lính thời Lý cách 1000 năm đã đến đây. Họ hát những hành khúc ra trận, thế là khác với câu Nam ai Nam baifnh thuở công chúa Huyền Trân trên đường vào Chiêm Quốc. Quảng Trị “Một hang rào điện tử Mắc na ma ra khét tiếng”.

     Chương 2: Đất đỏ. Từ trước, đất nơi đây đã là đất đỏ. “Đến mùa hè 1972 thì đất nơi đây hóa thành siêu đỏ/ Chẳng thể nào đỏ hơn được nữa”. “Ngày chủ nhật đẫm máu/ Đất nơi đây đỏ đến tận bàn thờ những căn nhà yêu dấu/ Nơi ra đi của những tân binh mười tám, đôi mươi/ Những giọt máu trong trắng đỏ tươi/ Nhuộm đỏ Hiền Lương, sông Hiếu, Thạch Hãn/ Nhuộm đỏ trời xanh/ Nhuộm đỏ sang Pa-ris bàn đàm phán bốn bên/ Nhuộm đỏ cả những đoàn biểu tình đất Mỹ/ Nhuộm đỏ vào ý chí/ Nhuộm đỏ thời gian nhuộm đỏ không gian/ Máu người máu ta máu bao dân lành/ Hoen đỏ tới cả dòng Mỹ Chánh”.

     Chương 3: Cây xanh. Những vết thương chiến tranh “Bời bời cỏ lút đồng hoang/ Chimkeeu cành cụt chang chang nắng cồn/Tả tơi mấy ấp khu dồn/ Mái tôn rào kẽm tháp đồn chơ vơ – Tố Hữu” đã được “…màu xanh thanh bình đã xóa dần đi/ Màu xanh từ Trường Sơn tràn về/ Trời lại xanh một màu xanh Quảng Trị (câu thơ Tế Hanh)/ Những dòng sông xanh thảnh thơi ra với biển xanh/ Cũng màu xanh, nhưng màu xanh ở Quảng Trị khác bao lần màu xanh nơi khác”. Tại sao vậy? vì  ở đây “Cỏ Quảng Trị viết xanh bản giao hưởng không đoạn kết/ Về một thời máu xanh/ Về một thời mỗi người lính là một giọt máu xanh/ Chảy lặng lẽ trong thân hình bán đảo/ Đã từng chảy cắt ngang Thạch Hãn/ Và máu xanh đã hóa máu đào”.

     Trong trường ca này có những đoạn nói về Bắc Triều Tiên – Nam Hàn, Đông Béc lin – Tây Béc lin, Đông Đức – Tây Đức, về Thành Cổ Quảng Trị mùa hè 1972 với Hà Nội mùa đông 1946. Những câu thơ làm ta phải suy ngẫm về ý thức tự hago và lòng yêu nước, về truyền thống dân tội và chân lý thời đại.

     HÀ NỘI THÁNG CHẠP NÓNG

     Chương 1: Trời thiêng và sóng thần. Hà Nội tháng Chạp năm 1972. “Trời vẫn mây, trăng vẫn như qura tim/ Qura tim trời trên quả tim Việt Nam/ Cộng hưởng cùng nhịp đập/ Trời Hà Nội tháng Chạp này không giống trời nước khác (so với câu thơ Việt Phương năm 1971 trong “Cửa mở” thì ý thơ và hình ảnh nó người hơn, thân thiết chứ không dụng nhưng ráp)/ Trời thiêng lại thành mặt trận trên cao”. – “Trời thiêng tháng Chạp này sẽ thành nơi tiêu diệt/ Ý đồ xâm lăng trên cánh pháo đài bay/ Sức mạnh Mỹ ngông cuồng chứa chật B 52”. Với “Những dàn ra đa tỏa những ngọn sóng thần” – bảo vệ từ xa, phát hiện mục tiêu để rồng lửa Võ Nguyên Giáp vút bay B52 tan xác. “Cùng những con rồng lửa, máy bay ta bay lên/ Đối đầu những pháo đài bay hung hãn”.

     Chương 2: Dân lành và lính trận. Tháng Chạp năm 1972, những dân lành Hà Nội phải hứng chịu trận thù điên cuồng của bọn hiếu chiến Ni-xon. Em bé An Dương, cụ già Khâm Thiên, bác sĩ bệnh viện Bạch Mai, nghệ sĩ ca Huế Châu Loan ở Đài phát thanh Mễ Trì,…đau thương dồn trên nòng súng. Những người lính cao xạ và tên lửa ngày đêm chiến đấu. Và trả lời cho dã tâm ngược ngạo của các Tổng thống Mỹ cuồng chiến muốn ném bom hủy diệt miền Bắc hòng đưa một nửa nước ta về thời đồ đá, chúng ta vững vàng với chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”cùng niềm tin “Không sự hủy diệt nào hủy diệt nổi sự sống/ Không sự hủy diệt nào hủy diệt nổi tình yêu”.

     Chương 3: Đất thánh cà làng hoa. Hà Nội đất thánh, mãi mãi là đất thánh, “Từ thuở Đại La, Long Đỗ đuổi thày Tầu/ Hay trước lũy tre đằng ngà Thánh Gióng/ Hoặc từ thời Lý, Trần, Lê rồi Quang Trung đại thắng/ Gò Đống Đa vùi xác giặc Thanh”. “Từ đất thánh hoa vẫn thơm ngát nở/ Từ làng hoa, hoa vẫn về ngập phố/…/ Sao có thể thiếu hoa/ Thiếu những nụ cười mơ ước”.

     Đoạn kết về những bạn bè: Nga, bạn Mỹ phản chiến, Cu Ba, Venexuela, Thụy Điển, Bun ga ri,…là những đoạn ấm áp thật lòng “Tổ tiên xưa dạy ta thật thà lọ khôn ngoan/ Thì ta cứ thật thà mà sống/ Cứ thật thà cấy gieo đồng ruộng/ Cứ thật thà yêu nhau/ Dẫu mất mát chất chồng tang thương/ Vẫn dựng giữa trời xanh tầm vóc”.

    GIÓ TÂY NGUYÊN

     “Mùa này bên nhau ta lên Tây Nguyên/ băng qua bao năm cách vắng/ mùa này ta là cánh nhạn/ bay theo hương sắc hoa quỳ/ dốc tức Mang Giang ta đã vượt xa/ nâng cánh ta bay bàn tay ngược gió/ miền chiến khu xưa khi chợt trở về/ nhắc một nỗi Trường Sơn quặn nhớ/ ơi những con đèo trên đất đá hoang sơ/ ơi An Khê Mang Giang/ hai con đèo như hai cái nấc thang/ nối hôm nay với thuở máu xanh/ đưa ta tới căn chòi cao ngất/ Tây Nguyên/ đưa ta lên chòi gác/ của sông núi Việt Nam ”.

     Và đây: “Tây Nguyên/ như có ai đặt lên một đồng bằng/ rồi rắc mãi màu đỏ nâu thuốc vẽ” – “ơi những mái nhà sông cao vút giữa trời/ như ngọn núi sừng sững/ như ngọn mác sắc nhọn/ như ngọn lửa bừng bừng/ ơi/ những mái nhà rông/ như cột mốc/ dọc lối Tây Nguyên/ đi tới/ bỗng hôm nay mọc giữa ngực ta/ trái tim cao vút…”.

     Những người lính lên cao nguyên chòi gác lập căn cứ để ngăn bàn tay tội ác của “thằng Mỹ đến tấy mưng ung nhọt/ nhói buốt ngày ngày giật thột muốn vỡ ra/ ngổn ngang gác hai gác ba/ những khu kìm kẹp/ nóc nhà rông nhọn mái tôn hầm hập/ bao cát xếp đầy rách đốt dây thép gai/ nhung nhúc lính quỳ tuyên thệ quân đoàn Hai/ Heerroin Mỹ tiêm vào thuộc địa/ Tây Nguyên sờn mòn lở ghẻ/ giầy Mỹ dẫm nhừ Ta man/ rừng tả towinhuwxng chiến dịch trực thăng”.

     Người kể chuyện đi tìm liệt sĩ: “Gió vẫn hoài lay động quá em trai/ anh lấy tay mình ấp lên bàn tay lá”. Rồi bắt đầu Nhịp điệu tháng Ba với người chỉ huy sư đoàn, Xoáy lốc, Hồi tưởng, Giã từ, Về biển: “Người chỉ huy sư đoàn thoáng lúc tần ngần/ giọt nước mắt chợt lăn trên gò má/ biển mặn ngoài kia giọt mặn này mặn quá/nỗi nhớ Tây Nguyên chạy ngược những hang quân”.

     Khi ta đọc đến phần Lựa chọn, Nguyễn Thụy Kha bằng giọng trữ tình gói vào đó tâm sự của người con gái, của một người bạn nữa với lời khuyên với người lính Giải phóng. Tiếp tục với lời người đã khuất để rồi lại tiếp tục dòng tự sự miêu tả: “các bạn về đông đủ nghĩa trang/ những con thuyền đã cập bề lịch sử” – đó là một ghi nhận! Trở về mẹ”tự bao đời những ngọn nguồn của mẹ” là “hạt mồ hôi như hình hạt thóc/ bữa cơm ăn xong đôi đũa hai đầu” – một thực tế chịu đựng!

     Phần kết Sóng rừng thông kết hợp tự sự với trữ tình: “Tôi đã ăn ở thung lũng/ suốt đêm ngày gió trở trăn tù túng/ như dân tộc bị vây trong đói nghèo/ nhiều lúc muốn vươn mình bay bổng/ vẫy vùng chẳng thể thoát ra”- “những tường nhà cô độc/ bức bối nỗi buồn lê thê quãng đời xưa/ những dân làng bị cưỡng làm lính ngụy/ tâm hồn họ như ngọn gió kia/ nhốt trong bộ rằn ri quái dị”. kêu trời! “trót vì tay” đã nhúng chàm/ Dại rồi còn biết khôn làm sao đây! Ba trăm năm cụ Nguyễn ơi, kiếp người. “cứ thế/ gió chà đi xát lại/ trên Tây Nguyên chiều cao trần trụi/ để tìm ra trung thực con người”! thơ đã nói hộ ta chân đích, và giờ “gió đã bay ngang dọc trời xanh”!

      MÙA XUÂN TRẮNG

     “năm một- nghìn – chín – trăm – bảy – chín, mùa xuân/ phía Tây Nam lui bóng thù tàn ác/ đại bác thù lại gầm lên phương Bắc/ cửa Hữu Nghị thành một mũi xâm lăng/ xe tăng lúc nhúc/ luồn rừng những sư đoàn sơn cước/ đâm láng giềng gần/ chem họ hàng xa/ tay vấy máu tay bắt tay nhận quà/ nanh vuốt thù xòe nhọn gió bấc/ cuộc tranh chấp giữ đất”. (thực ra là xét bình diện pháp lý quốc tế, chứ thực tế là bọn Bành trướng Đại Hán ăn cướp đất nhà người khác). Chuyện rằng, thời chống Mỹ, cậu bé mười lăm tuổi ở cùng Mẹ cửa biển: “Ơi Hải Phòng ngõ lớn biển Đông/ …/ “phố Khách” đổi thành “phố Trung Quốc” từ lâu/…/ chúng con lớn lên quanh mình bom dội/ căm giận khát làm viên đạn/quên trên đất này/ có người Hoa kiều bày cờ thế/ lão chợt đến chợt đi như mây đen/ áo bí ẩn ôm khư khư trước ngực/ lão vừa rời khỏi đâu là đấy đầy bom trút/ mẹ nghe chuyện mà không lạ lung/ như cha ông ngàn đời đã biết/ ơn trả ơn, oán thì trả oán/ mẹ công bằng trong mọi phép tính chia”. (chú ý giữa nhân vật Mỵ Châu trong truyện An Dương Vương trái tim lầm chỗ với nhân vật mẹ ở đây, tình cảm và lý trí đã thời cuộc – thời đại – phải chăng theo Nguyễn Thụy Kha, chỉ có như thế mới có thể tồn tại được!)

     Những anh lái đò, anh thương binh, người bạn xách va li của ký ức ông cha và hiện tại đã qua mùa xuân trắng để “kể nhiều cho đường đê ngắn lại/ đất nước dị kỳ bạn vừa thóat khỏi/ đất nước từng ngỡ học được điều hay/ đang mê cuồng dúi vào mọi bàn tay/ quyển thánh kinh núp trong màu đỏ/ quyển thánh kinh giơ lên/ chết tiệt giống một loài chim sẻ/ quyển thánh kinh giơ lên/ sinh viên thành tiểu tướng/ sinh viên là gậy sinh viên là dao/ giảng đường thành nơi giam thày giáo/ thành đại dương của máu/ quyển thánh kinh lọc lừa/ như đồng tiền giả”. Cuồng tín và độc tài – con đường tội ác ngắn nhất! nhận chân kẻ thù là biết – có biết địch biết ta mới trăm trận trăm thắng. Nhưng sức mạnh dân tộc trong thời kỳ mới không chỉ dựa vào một cá nhân hay các cá nhân riêng rẽ. Với lại nâng cao cá nhân quá mức sẽ rơi vào vấn nạn sùng bái lãnh tụ. Ở đây, Nguyễn Thụy Kha tiếp tục đà logic của tư tưởng, nhưng bằng thơ: “Tôi đã yêu bằng tình yêu đầu tiên tập thể bé nhỏ này/ Mỗi tập thể – đất nước thu hẹp lại”- dũng cảm quá Nguyễn Thụy Kha – khi mà hôm nay ai cũng tựa như có quyền công kích cái tư tưởng tập thể một thời – khi mà nhóm lợi ích hẹp hòi ích kỷ đang làm đất nước khốn đốn, thì phải nhận chân lại đâu là tập thể đúng nghĩa cao đẹp của nó! “Tôi lại tìm thấy riêng mình trong khu vườn tập thể/ Vượt ghềnh thác tất cả ghép bè nứa/ Hát đồng ca lại giọng bổng, giọng trầm”, thế thôi!

     NHỮNG NGƯỜI BỐC VÁC

     Từ những “cu li pooc tê/ phu khuân vác/…/ gào mòn mỏi trên lưng ngày tháng/ lời kêu rên tối tăm u uẩn/ cơn bão thực dân”

Đến với Cách mạng tháng Tám năm 1945, họ đúng là đã được cải tử hoàn sinh. Hôm nay hay có những luận điệu kiểu giải thiêng, bắn súng trường vào quá khứ, hay giá mà lịch sử như thế này hoặc như thế kia, cũng là tuồng kịch cả. (tôi chợt nhớ đến đoạn Cu- tu- dốp nghe An-đrây thuyết trình bản kế hoạch rất hay, cũng như nhiều người khác đã trình bày với ông những bản kế hoạch rất hay của họ – ôi, Lép Tôn – xtôi thiên tài!).

     Trong Lời ru là tấm lòng của cha qua câu hát của mẹ nói với con về sự lam lũ trong trắng. Đến Giới hạn lại là sự thông báo: chúng tôi như mọi người “không có gì khác biệt chúng tôi/ cũng thịt da đâu phải đồng sắt/ không hơn thánh thần/ nhưng hình như hơn thế”. Đó không phải là sự lạc quan tếu nếu xét bình diện chung của xã hội. Tầng lớp khốn cùng (chữ của Huy- gô) là tầng lớp nhân ái nhất, và trước đó Phật Hoàng Trần Nhân Tông cũng bảo đó là tầng lớp cứu nước nhất! trong Hồi tưởng, lúc đánh Mỹ, những người bốc vác đã thể hiện tập thể tính và lòng yêu nước giữa khi cảng bị phong tỏa, trên đầu máy bay thù, ngoài khơi tàu chiến thù, những chuyến tàu bạn bè giúp ta đã chuyển đến khắp chiến trường gần xa qua những người bốc vác.

     Đọc đến đoạn nói với em đừng buồn “ai cũng cao sang lượt là rong chơi/ còn ai bốc vác giúp cuộc đời”; Đoạn lục bát nói với Bác, như lời con nói với cha: “Xin cho từng giọt mồ hôi/ hòa tan vào mạch vữa vôi công trình/ xin cho từng dấu tay mình/ in trên đá lát Ba Đình mùa thu/ xin cho nguôi nỗi ưu tư/ như dựng lên giữa ước mơ…Lăng người”. Sống gửi thác về. Tôi không muốn so sánh với Lăng vua triều Nguyễn. Nhưng thiếu nó, Huế còn gì nhỉ? Mà thôi…cùng Nguyễn Thụy Kha, tôi đứng với anh như “lẽ thế tự nhiên/ trong tôi có một công nhân bốc vác”!

     Vài lời cuối bài: Gần đây, trào lưu “giải thiêng”, “công kích 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ”, “phủ nhận hoặc tầm thường hóa nền văn nghệ kháng chiến”, …đã trở thành “mốt” đối với một số người. Tôi tâm đắc với nhà thơ nguyễn Thụy Kha ở chỗ đứng của anh: dân tộc, nhân dân, bạn bè, chủ nghĩa yêu nước và sự hi sinh cho sự nghiệp chung của đất nước. Tôi viết bài này chỉ mong rằng cái tình với thế hệ cha anh cách mạng, với tổ tiên ông bà vẫn thiêng liêng trọn vẹn – và cao đẹp như thơ. Trường ca ngắn Nguyễn Thụy Kha, với tôi, là hữu ích.

Hà Nội,Tháng 9/2014

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s