NGUYỄN TRỌNG TẠO: ĐỌC THƠ THI SẢNH


 Nhà thơ Thi Sảnh từ Hạ Long gửi tặng tôi tuyển tập thơ NHỮNG VÌ SAO BẦU BẠN của anh, gồm 111 bài thơ chọn từ hơn chục tập thơ đã xuất bản. Một tuyển tập, nhẹ nhàng, in đẹp nhưng đã gói trọn đời thơ của một nhà thơ lặng lẽ khiêm nhường giữa làng thơ trăm màu ngàn tía. Xin chúc mừng anh, và xin đăng lại bài TỰA tôi viết cho tập thơ CÕI THIÊNG của anh xuất bản năm 2000.  

Nhà thơ Thi Sảnh (giữa)

Nhà thơ Thi Sảnh (giữa)

 

LỜI TỰA tập thơ CÕI THIÊNG

NGUYỄN TRỌNG TẠO 

     Tôi đọc bài thơ đầu tiên của Thi Sảnh in trên báo Văn Nghệ đầu năm 1965, đấy là bài “Từ Uông Bí”. Bài thơ như tiếng reo vui của một người làm thơ trẻ ngập tràn không khí công nghiệp nơi “Trái tim Đông Bắc”, và anh thấy chính lòng mình cũng “náo nức vui như lòng máng than tuôn”.

     Nhưng gây ấn tượng hơn đối với tôi lại là bút danh Thi Sảnh, bởi lúc ấy ở Hải Phòng đã có Thi Hoàng. Hai tiếng Thi Sảnh dường như đã kích thích tính tò mò ở tôi. Ngẫm trong thiên hạ từng có những từ sang trọng như “thi nhân”, “thi gia”, mà người làm thơ trẻ này chỉ chọn cho mình hai chữ thật khiêm nhường: Thi Sảnh, nghĩa là “phòng thơ” hay đúng hơn là “phòng của khách thơ”. Tôi chú ý đến Thi Sảnh từ đó, và tên anh cũng hiện dần lên trong làng thơ xứ mỏ Quảng Ninh. Mãi vài ba chục năm sau tôi mới được gặp anh, và thật bất ngờ khi biết cái bút danh Thi Sảnh chẳng qua là cách nói lái từ tên thật Nguyễn Thanh Sỹ mà ra.

     Thanh Sỹ – Thi Sảnh quê ở phía bờ Nam sông Hiền Lương, dòng sông như vết chém chia cắt đất nước ngót hai chục năm trời. Lớn lên, anh cũng như nhiều học sinh miền Nam sau năm 1954 được ăn học và trưởng thành ở miền Bắc. Thi Sảnh tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Sử năm 1964, rồi về công tác ở Bảo tàng Quảng Ninh, và với sức phấn đấu bền bỉ của mình, anh đã đóng góp cho xứ này không chỉ những công trình sử liệu, tiêu biểu là bộ sử viết về giai cấp công nhân vùng mỏ, mà cả về thơ và công tác quản lý. Tôi không muốn nói anh là nhà lãnh đạo (Giám đốc Sở Văn hóa-Thông tin) đã bớt chút ít thời gian để làm thơ, mà chính thơ cũng là cái nghiệp đeo bám suốt đời anh. Dường như bài thơ “Tìm hang Hồ Quý Ly” viết năm 17 tuổi (1958) đã báo hiệu một chàng Thi Sảnh mang sẵn trong mình cả nghiệp Sử lẫn nghiệp Thơ: Tôi Thi Sảnh, ông Hồ Quý Ly/ Ông là vua, tôi chẳng là gì”. Vâng, cái giọng tự trào từ hồi còn trẻ đã định chí hướng dấn thân của con người có nụ cười duyên tẩm ngẫm này.

    Và giờ đây, sau ba bốn tập thơ đã được trình làng, Thi Sảnh làm một cuộc kiểm lại hành trang thơ bấy lâu anh đã từng mang vác. Tập Cõi Thiêng là sự lựa chọn của riêng anh hàng trăm bài thơ đã được viết ra suốt bốn chục năm qua, có bài đã in, có bài lần đầu được công bố. Tôi đọc được ở đây tâm niệm của anh đối với mảnh đất chôn rau Quảng Trị, và vùng đất sống Quảng Ninh; tôi cũng đọc được ở đây lòng biết ơn đối với cha mẹ, bạn bè, đồng chí, tình yêu đã nuôi dưỡng, và làm giàu tâm hồn đa cảm của anh. Có lẽ vì thế mà anh đã nhiều lần trăn trở với các tựa đề “Nơi ta khôn lớn”, “Nơi trú ngụ hồn tôi”, và để rồi lắng lại trong hai chữ “Cõi Thiêng”.

    Thơ Thi Sảnh không cầu kỳ kiểu cách, nó giản dị chất phác với nhiều day trở chân thành như con người anh. Dù đi vào đề tài lớn hay nhỏ, dù viết về thế sự hay riêng tư thì cái con người cá nhân-công dân của thi sĩ vẫn luôn luôn hiện diện. Những ngôn ngữ đời thường, những câu chuyện mộc mạc, những ngẫm nghĩ suy tư, những gặp gỡ thoáng qua trong thơ Thi Sảnh đều đem lại cho người đọc những những rung động chân thành. Anh là người có tài kể lại tâm hồn đa cảm và nhân hậu của mình trước cuộc sống đa hình đa sắc, lắm xô bồ nghiệt ngã nhưng cũng nhiều vẻ đẹp thuần khiết dịu dàng:

     Cái lõi sắt vẫn đứng nguyên sau mỗi loạt bom rung
     Khói mềm mại vẽ lên điều yên tĩnh

                                          (Vật chuẩn)

  Có thể nói, Thi Sảnh là người chép hồn mình bằng thơ. Và từ cuốn sử tâm hồn riêng lẻ ấy, ta nhận ra cả một thời anh đang sống.

   Có thể nói, Thi Sảnh là người yêu cuộc sống mà trở thành thi sĩ. Anh có mẫu số chung với các nhà thơ cùng thế hệ, nhưng anh cũng là người đặt được câu hỏi cho chính mình:

     Qua sông Bạch Đằng sao không hát những chiến công?

                                         (Đứa bé hát rong trên bến Bạch Đằng)

     Khép lại tập “Cõi Thiêng” của Thi Sảnh, những câu hỏi trong thơ anh cứ bám riết trái tim và trí não tôi. Những câu hỏi khiến người ta phải tìm cách trả lời trên đường xa của kiếp người.

Hà Nội, ngày Trọng Hạ 1999
Nhà thơ NGUYỄN TRỌNG TẠO

THI SẢNH VÀ  4 BÀI THƠ

Thi Sảnh là bút danh của Nguyễn Thanh Sỹ, một nhà nghiên cứu lịch sử – văn hoá, nguyên là Giám đốc Sở Văn hoá – Thông tin Quảng Ninh. Ông sinh năm 1941 tại Quảng Trị, là người đã dành nhiều tâm huyết để tìm hiểu về lịch sử giai cấp, lịch sử phong trào công nhân mỏ. Ngay từ năm 1974, khi còn là một cán bộ trẻ, ông đã hoàn thành tập 1 cuốn “Lịch sử phong trào công nhân mỏ Quảng Ninh” và năm 1984 thì ra tiếp tập 2. Có thể nói đây là công trình nghiên cứu về lịch sử giai cấp công nhân mỏ dày dặn và công phu nhất. Ông đã xuất bản các tập thơ:

– Điều ước
– Liên tưởng
– Gương mặt bè bạn
– Thức với dòng sông
– Hình bóng xưa
– Ngọn nguồn câu hát
– Cõi thiêng
– Ngọn nguồn câu hát
– Thức với dòng sông
– Hình bóng xưa
– Đồng điệu
– Khi ta hát
– Bóng mình
– Cứ tự nhiên phát sáng
– Những vì sao bầu bạn.

 

ĐANG ĐI NGOẢNH LẠI

Có những lúc đang đi
Bất ngờ tôi ngoảnh lại
Ngỡ có đôi mắt phía sau
Ngỡ có nắm đấm giơ lên hăm dọa
Nhưng khi tôi ngoảnh lại
Chỉ là khoảng không trống trải

Mỗi bước tôi đi về phía trước
Đâu chỉ mang trọng lượng mình năm mươi cân
Mà mang cả cuộc đời trải dài bảy mươi năm
Với bao niềm vui và nỗi buồn thật giả
Niềm vui thoảng qua như cơn gió
Còn nỗi buồn
Kết tủa
Đáy sâu
Nhiều lúc ào lên thành đợt sóng
Dẫu có điều chỉ riêng tôi biết
Vẫm ám ảnh níu kéo tôi
Bám riết tôi
Phấp phỏng về một sự bất an
Khiến tôi đang đi
Bất ngờ
Ngoảnh lại

 

Lưng Mẹ

Lưng mẹ còng như cái thước góc vuông
Cần mẫn suốt ngày trong nhà ngoài ruộng
Mẹ không nhớ từ bao giờ lưng còng xuống
Thành cái thước góc vuông con học ngày xưa

Mẹ khó nhọc từ thuở còn thơ
Lặn lội tháng ngày đồng sâu đồng cạn
Chỗ lưng mẹ còng cái da rộp nắng
Nơi ngày xưa mẹ vẫn cõng con

Nỗi nhớ đứa ở xa nỗi thương đứa ở gần
Sáu đứa con ở sáu miền đất nước
Nhà dựng lại sau chiến tranh mà rộng hơn ngày trước
Lưng mẹ còng nên mái rạ cao lên

Về thăm mẹ con thanh thản sao yên
Nhưng mẹ vẫn vui việc trong nhà ngoài ngõ
Chỉ thương các con ở xa vất vả
Quên lưng đã còng thành cái thước góc vuông

Lưng mẹ còng thành bài học đời con.

Quảng Trị 1980

Cuộc nói chuyện cuối cùng giữa Trần Nhân Tông với các cung nữ dưới chân núi Yên Tử

– Để ta rũ bỏ bụi trần
Thôi thôi cung nữ dừng chân nơi này
Lui về thôn dã cấy cầy
Lấy chồng. Bù lại những ngày ở cung
Trẫm đã quyết khó thay lòng
Thương thay là phận má hồng nổi trôi.

– Thượng hoàng ơi! Thượng hoàng ơi!
Chúng con xin quyết theo người lên non
Dù cho sông cạn đá mòn
Ơn người như núi Thái Sơn vững bền
Chúng con không thể nào yên
Để người lẻ bóng đêm đêm gió lùa
Ai người nấu bát canh chua
Nấu cơm nồi đất sớm trưa hầu Người?

Thượng hoàng ơi! Thượng hoàng ơi
Xin người nghĩ lại cuộc đời dài lâu
Xin người trở lại mau mau
Kinh thành ngơ ngác biết đâu mà tìm
– Lên non đâu phải giấu mình
Cũng không bỏ lại triều đình mặc ai
Ta từng nếm mật nằm gai
Ngựa hồng rong ruổi giáo dài xông pha
Rạng danh Đại Việt sơn hà
Lên non tìm Phật nào ta ngại gì
Ước sao trần thế từ bi
Chúng sinh hỉ sả đời thì bình yên
Trẫm vào núi để toạ thiền
Cho triều thần mãi vững bền muôn sau
Nếu mà còn biết thương nhau
Xin đừng khóc nữa làm đau lòng này!

– Thượng hoàng ơi! Thượng hoàng ơi
Dẫu đêm sương gió dẫu ngày nắng nôi
Chúng con quyết chí theo người
Hoặc lên núi hoặc gửi đời lại đây
Hồn nhập ngọn cỏ lá cây
Nâng chân người bước tháng ngày đơn côi
Cũng là bổn phận làm tôi
Cũng là trả nghĩa mà người ban cho
– Nói sao để hiểu bây giờ
Cà sa đã mặc nam mô đã cầu
Bụi trần phải dứt. Dù đau
Trẫm lên núi. Các nàng mau lui về.
Đây là con suối Hồ Khê
Lấy làm ranh giới chia li đôi đường!

Dứt lời Người vội quay lưng
Bước lên đỉnh núi giữa rừng vút cao
Oà lên cung nữ thét gào
Gieo mình xuống suối. Sóng trào tận mây

Dừng chân bên suối chiều nay
Lắng nghe chuyện cũ. Thương thay kiếp người

 

Hoa trà mi trên núi Yên Tử

Giữa đỉnh núi Yên Tử mờ sương
Tôi bỗng gặp đoá trà mi nở trắng
Hạt sương đậu trên cành hoa yên lặng
Mỗi hạt sương thànhmột bông hoa

Đỉnh núi mênh mang bốn phía trắng nhoà
Sàn đá lạnh và gió từng đợt rét
Đoá trà mi trắng một màu tinh khiết
Như chẳng hề dính bụi đất xung quanh

Hoa rất trắng lá càng xanh
Cánh hoa mảnh mà lá thì rắn rỏi
Đá nâu sậm thân cây như ám khói
Mà hoa thì nở trắng mênh mang

Trời đầy sương chẳng mấy lúc tạnh quang
Ngày trên núi tựa đêm trăng ẩm ướt
Đoá trà mi như ngôi sao trong suốt
Trong rét mưa vẫn dịu dịu toả hương

Giữa đỉnh núi Yên Tử mờ sương
Tôi bâng khuâng trước đoá trà mi trinh bạch
Đoá trà mi toả ngời như ánh mắt
Của ông vua – người lính thuở nào*.

* Ngô Thời Nhiệm viết: Trần Nhân Tông lấy cớ đi tu trên đỉnh Yên Tử để canh giữ miền biên cương Đông Bắc.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s