MỘT THỜI ĐỂ YÊU, MỘT THỜI ĐỂ VIẾT


Nhà văn Đặng Ái

Nhà văn Đặng Ái

NGÔ XUÂN HỘI

Nhà văn Đặng Ái, tên khai sinh là Đỗ Minh Phong, quê xứ Thanh. Ông nội Đặng Ái người Hải Phòng, trên đường lưu lạc  tới Thanh Hóa thì dừng bước giang hồ. Tại đây ông lập gánh hát tuồng,  vừa là chủ, vừa là thầy trò (đạo diễn), chuyên biểu diễn tại thị xã Thanh Hoá và thỉnh thoảng có đi lưu diễn dọc vùng Nam Định – Nghệ An. Ông mất vì đột quỵ trên sân khấu Thái Mộng Đài, cạnh Cổng Chốt, thị xã Vinh năm 1942, khi mới 51 tuổi.

Bố Đặng Ái tên là Đỗ Minh Vân, từ nhỏ đã theo cha lên sân khấu, chuyên đóng các vai trẻ em, biết hát, biết múa, biết đánh võ và những trò diễn thông thường. Đầu năm 1947 ông Vân lập gia đình.

          Năm đó Thanh Hoá tiêu thổ kháng chiến, ông Vân đưa vợ đang bụng mang dạ chửa tản cư về làng Yên Lai, xã Trường Giang, huyện Tĩnh Gia (nay thuộc huyện Nông Cống). Vợ ông sinh con đầu lòng ở đây. Ông đặt tên con là Phong, Đỗ Minh Phong. Cũng không có ngụ ý gì sâu xa, chỉ bố tên Vân là mây, con tên Phong là gió. Mây sáng, gió sáng cho vui, vậy thôi.

Yên Lai là ngôi làng quê hai nhà thơ: Xuân Sách và Minh Hiệu. Đặng Ái sinh ra ở đây, nghiễm nhiên làng có hẳn 3 “nhà”.

Suốt thời gian ở Yên Lai, ông Vân hành nghề buôn chuyến. Nhưng máu nghệ sĩ trong ông vẫn nổi lên. Thỉnh thoảng  cậu bé Phong lại thấy bố mang về khi thì cây đàn, khi thì sáo nhị, lại có cả đàn an tô, măng đô lin nữa. Vì thế Phong biết gẩy an tô tưng tưng, biết vê măng đô lin rất giòn từ thời đó. Nhưng không chỉ có nhạc cụ, thương nhân Đỗ Minh Vân còn mang cả nghề chằm nón từ Thanh Hóa về phổ biến cho dân làng.

Buôn bán có tiền, ông Vân mua mấy mảnh ruộng cho vợ cấy hái, làm nông. Thóc thu được, vợ ông đóng bịch cất bên kia bờ ao đình. Nhưng làm nông không phải là mộng ước của ông, vì thế xảy tin thế giặc Pháp sắp tan, ông đem số ruộng ấy cho mấy người dân làng. Nhờ việc làm hồn nhiên này mà khi cải cách ruộng đất diễn ra, ông thoát án địa chủ. Sau khi Điện Biên giải phóng ông đưa vợ con về thị xã ngay. Vợ chồng ông được chính quyền cấp một lô đất diện tích gần 400 m2 ngay mặt tiền phố Huế (nay là đường Trần Phú), một phố lớn của thị xã Thanh Hóa.

Ông dựng nhà, mở cửa hiệu buôn bán lá nón. Trong nhà những cái tên Vinh, Kỳ Anh, Ba Đồn… được nhắc đến thường xuyên. Lá nón đã phơi khô đóng kiện đem bán cho người cất lại từ các huyện. Lá còn tươi, ông bà sai các con đem phơi dọc phố vài nắng. Vẫn say mê lang bạt, ông mua một chiếc ô tô tải, chuyên chở khách tuyến Hà Nội – Vĩnh Linh. Khi việc buôn lá nón kém dần, ông Vân bàn với vợ chuyển sang nghề chằm nón. Cả nhà làm việc rộn ràng như một tổ hợp tác sau này. Mười đứa con ông bà, 5 trai 5 gái đứa nào cũng hay lam hay làm. Lớn lên một tí, biết cầm cái kim, sợi móc là biết chằm nón, khâu nón rất đẹp. Nhà ông trở thành một gia đình sản xuất nón lá có tiếng ở Thanh Hoá.

Dù đã làm việc quần quật ngày đêm, nhưng vì con cái đông nên ông bà Vân vẫn không giàu lên được. Tuy nhiên, khi công cuộc cải tạo Tư bản chủ nghĩa xảy ra, cái ô tô nhỏ cũng đủ nâng ông bà lên hàng tiểu chủ. Người ta đến nhà kê biên xe, kê biên cả vài thứ đồ dùng trong nhà, biến chúng thành của công tư hợp doanh. Chỉ thế cũng đủ để ngáng đường vào đại học của cậu cả Đỗ Minh Phong mấy năm sau…

 *

Trong một lần giảng dạy Văn học Việt Nam trước Khóa I trường viết văn Nguyễn Du, Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh nói: “Nước ta có cái lạ, nhiều người khi không biết làm gì nữa thì quay sang làm thơ…”. Đối tượng nhiều người mà ông đề cập ở đây, ngụ ý chỉ những ai mưu sự cuộc đời ngoài văn chương. Dẫu vậy ngẫm lời Giáo sư, tôi thấy Đặng Ái lại không nằm ngoài sự lạ ấy.

Anh học trung học phổ thông trường cấp 3 Lam Sơn, tốt nghiệp niên khóa 1966 – 1967.  Bấy giờ đất nước đang chiến tranh, việc thi Đại học được thay bằng xét tuyển, căn cứ vào ‎ lý lịch. Học sinh hết lớp 10, làm hồ sơ nạp cho ban Tuyển sinh tỉnh, xong, chờ một thời gian sẽ có giấy gọi. Nếu lý lịch tốt còn được cho đi Liên Xô, hoặc một nước nào đó trong phe Xã hội chủ nghĩa.

Lệ thường là vậy, nhưng Đặng Ái không hiểu sao mãi không đến lượt mình ? Cuối cùng anh đánh liều cuốc bộ gần 10 cây số giữa trưa nắng tìm đến nơi sơ tán của Ban tuyển sinh tỉnh. Ông cán bộ tuyển sinh dò tìm trong một cuốn sổ lớn, giọng vô cảm: “Đỗ Minh Phong hả ? Nhưng cậu về đi! ”. Đặng Ái chưa hiểu ý ra sao, đang chần chừ muốn hỏi thêm thì đúng lúc kẻng gọi cơm trưa. Ông cán bộ tuyển sinh nọ liền  mở cánh cửa chiếc tủ gỗ đựng hồ sơ  lấy ra chiếc bát, đôi đũa rồi đi nhanh về nhà bếp. Đặng Ái biết ‎ý lặng lẽ ra khỏi phòng, ngồi bên vỉa hè đắp đất xói lở như một gã ăn mày đói khát, thất vọng. Anh nhìn vào phòng qua cái cửa sổ  khung tre, không có chấn song, thấy rõ cuốn sổ “thiên tào” còn nằm nguyên trên bàn. Chung quanh vắng ngắt, chỉ mấy lùm cây im lìm ủ rũ với tiếng ve rít chói chang. Anh liều lĩnh nhảy qua cửa sổ, vồ lấy cuốn sổ, lật giở vội vã. Danh sách lũ học trò hiện ra, có nhiều đứa học cùng lớp. Cạnh tên đứa nào cũng ghi tên một trường đại học. Cuối cùng Đặng Ái thấy tên mình, bên cạnh ghi: “Tổng hợp văn” nhưng bị gạch ngang bằng bút mực xanh. Ngoài lề có một câu phê, bằng mực đỏ, ngắn gọn sắc lẻm như một nhát dao đâm thấu tim anh:“Gia đình thuộc thành phần bóc lột. Bản thân không phải đoàn viên”.

Mặt mũi tối sầm, Đặng Ái vọt qua cửa sổ, đi như mê ra khỏi ngôi làng nghèo khổ đang nằm rũ dưới nắng hè gay gắt, cảm thấy như mình đã bị cuộc sống gạt sang bên lề…

Thời đó là vậy, ai cũng có cơ quan đoàn thể, nơi làm việc. Bét nhất cũng là xã viên HTX nông nghiệp. Có như thế mới thành người, mới đáng là con người. Anh không thể đứng ngoài con đường lớn cuồn cuộn của dân tộc. Đứng ngoài là một nỗi nhục, một sự phỉ báng. Quá thất vọng, Đặng Ái xoay sang định hướng cuộc đời mình theo nghiệp nhà binh, quyết chí sẽ đi bộ đội trong đợt tuyển quân tới, vì bộ đội chỉ chê con nhà địa chủ chứ không chê tư sản. Trong lúc chờ đợi, anh  xin vào Hợp tác xã nghề mộc gần nhà và gia nhập dân quân tự vệ phường. Vận hạn đến: Bất ngờ một trận máy bay Mỹ ném bom trúng chỗ đơn vị dân quân của anh gác đêm, Đặng Ái không may bị thương, được cáng vào bệnh viện. Mãi hai năm sau vết thương mới ổn định. Thế là chưa kịp tòng chinh, cậu tú Đỗ Minh Phong đã thành “người có công”. Ra viện, anh thương binh trẻ chẳng biết làm gì, để kiếm sống, chàng quay lại hợp tác xã nghề mộc, một vài lần mang cưa đục đi làm nhà thuê cho thiên hạ. Nhưng trong buổi “Trạch quốc giang sơn nhập chiến đồ” (*), điều muôn dân quan tâm là những căn hầm lặn chìm trong lòng đất hơn là những ngôi nhà gỗ hoành tráng. Tay thợ tài hoa của Đỗ Minh Phong vì thế không có cơ hội phát triển. Chàng liền đổi sang nghề phụ bơm vá xe đạp, ô tô với bố ở nhà. Toàn những công việc nặng nhọc.

Nghĩ về bạn bè cùng trang lứa trường Lam Sơn ngày nào đứa quốc ngoại, đứa quốc nội đang sôi kinh nấu sử, chuẩn bị mai này làm kỹ sư, bác sĩ, có lương, có tem phiếu gạo, được vào biên chế Nhà nước, vẻ vang. Đỗ Minh Phong buồn nản, biết là “Lập thân tối hạ thị văn chương” nhưng thấy mình cũng chỉ còn cách ấy: Viết văn! Để công việc thêm phần lung linh, nhà văn tương lai liền đi tìm bút danh. Đây chẳng là điều mới, trước anh mấy thập niên bác Nguyễn Sen cũng đã làm. Nhớ con sông Tô Lịch lịch xưa xinh đẹp, bác lấy bút danh Tô Hoài và chỉ bằng một “Dế mèn phiêu lưu ký” cái tên Tô Hoài lập tức nổi tiếng, át cả tên cúng cơm. Rồi Thế Lữ, Chế lan Viên, Nam Cao, Khái Hưng, Nhất Linh, Hàn Mặc Tử… đều là bút danh cả! Nhưng Nguyễn Sen nhớ sông Tô thì được, Phan Ngọc Hoan hời ông vua Chàm nào đó thì hay…   còn Đỗ Minh Phong mà đi nhớ tru nhớ ngựa (sông Chu, sông Mã) thì vô duyên. Tìm tích để dịch nên tuồng. Phong có một người bạn gái thời phổ thông, tên Sơn, đang học đại học ở Liên Xô. Vậy bút danh của Phong sẽ là Hoài Sơn, đúng quá chứ còn gì nữa. Nhưng Hoài Sơn lại là… củ mài, quý đấy, mà nghe lam lũ sao sao ấy. Nhà văn phải sang trọng, không thể là củ này củ kia được. Không nhớ thì yêu, bút danh Ái Sơn ra đời như thế. Thêm chữ Đặng đằng trước, thành ra Tôi Yêu Sơn! Thông điệp càng rõ ràng hơn. Truyện ngắn “Kể về một tình yêu” với bút danh Đặng Ái Sơn ra đời như thế. Nhưng khi gửi truyện đi, nàng Sơn đã mất hút bóng chim tăm cá, thế là Đặng Ái Sơn chỉ còn là Đặng Ái, Tôi Yêu. Yêu gì ? Tam tài giả, Thiên – Địa – Nhân. Trời –  Đất –  Người, ba ngôi trong vũ trụ này tôi yêu cả, càng rộng đường văn bút. Phải vậy mà ngay ở cuộc thử bút đầu tiên “Kể về một tình yêu” đã đoạt giải cuộc thi truyện ngắn của tuần báo Văn nghệ ? Giải khuyến khích thôi. Nhưng với bất cứ cuộc thi viết nào, được chọn in đã là may, huống nữa đây là một cuộc thi viết truyện do báo Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức.

Từ vô danh thoắt hữu danh, khỏi phải nói Đặng Ái hãnh diện thế nào, sự hãnh diện đã khiến anh có những nhầm tưởng, “mục hạ vô nhân” đến tức cười. Cuộc họp tổng kết báo Thanh Hóa năm ấy tổ chức ở hội trường thị ủy Sầm Sơn, ông Tổng Biên tập để tỏ lòng trọng thị đối với một tài năng văn học của tỉnh, đã thủ vai một công tác viên đến phỏng vấn anh: “Đồng chí thấy tờ báo Thanh Hóa của chúng ta thế nào ?”. Đáng lẽ phải nói những lời có cánh, thì tân khoa văn chương báo Văn nghệ sau vài chén rượu sần sần đứng dậy nói một câu để đời: “Từ bé đến giờ tôi chưa biết có tờ báo nào gọi là báo Thanh Hóa cả…”. Thần khẩu hại xác phàm, sau “phát súng thần công chọc vào lỗ tai”(**) ấy, Đỗ Minh Phong bị ông Tổng Biên tập cấm cửa. Hễ thấy bản thảo nào có tên tác giả như thế, như thế gửi đến, ông lập tức cho vào sọt rác. Cùng tắc biến, dấu mình dưới một bút danh khác nữa Phong tiếp tục “là một cộng tác viên thân thiết” của báo tỉnh. Khi in được 7 bài thơ trên trang Văn hóa – Văn nghệ báo, thấy đã nhiều nhiều anh đến phòng Trị sự xin lĩnh nhuận bút. Vở kịch đến đây hạ màn. Vì sự việc này mà nhà thơ Đỗ Minh Dương, người giữ gôn trang Văn hóa – Văn nghệ của báo sau đó bị Tổng Biên tập đì cho không mọc mũi sủi tăm lên được.

Người khôn vấp ngã ở đâu đứng dậy ở đó, đi tiếp. Đặng Ái vấp ngã, đứng dậy, nhưng không đi tiếp mà đi loanh quanh để vấp tiếp ở đó lần hai. Lần thứ hai, ấy là khi kịch bản phim “Những con đường” của anh được Xưởng phim truyện Việt Nam đưa vào sản xuất. Khi phim quay xong, để tỏ lòng trân trọng Văn nghệ, tỉnh cử hẳn một ông Phó Ban Tuyên huấn tỉnh ủy đi gặp đoàn làm phim vỗ tay mừng buổi chiếu ra mắt. Biết tác giả kịch bản là người Thanh Hóa, ông Phó liền đến bắt tay Đặng Ái, nói giọng nhũn nhặn:

“Tỉnh còn khó khăn lắm anh à, mời anh thỉnh thoảng về góp ý, giúp đỡ tỉnh nhà…”.

Như người khác thì ờ à cho qua, nhưng Đặng Ái ngang cành bứa, thẳng mực tàu cười cười đáp lời ông:

“Không anh ạ, tôi chữa xe đạp ở đầu phố Huế đây. Cần tôi góp ý điều gì, mời anh đến tiệm sửa xe của nhà  tôi, số…”.

Ông Phó Ban Tuyên giáo tỉnh bị một phen tẽn tò.

Rồi lần thứ ba, lần thứ tư…

Nhiều ẩn ức quá mà bộc phát vậy, sự thực Đặng Ái không phải là một người gai ngạnh. Tính anh nhân hậu, thương người, hay mủi lòng trước những phận đời oan trái. Nhưng chưa đầy 20 tuổi đã bị cuộc sống gạt sang bên lề, anh không sao dung được sự giả trá. Khi làm phật ý một vài quan chức là khi anh đã viết hàng trăm lá đơn xin việc, đã đi mòn lối công môn, lặng hơn nước thấp hơn cỏ rạp mình trước cửa người để mong được vào biên chế nhà nước, trở thành cán bộ công nhân viên của một cơ quan, xí nghiệp nào đó. Đáp lại tấm tình của anh chỉ là những lời hứa suông, những cái bắt tay hờ hững.

“Họa, phúc bất sở ỷ…”, trong rủi có may. Chúng ta sẽ không có nhà văn Đặng Ái ngày nay nếu ngày ấy đường đời của anh thanh niên Đỗ Minh Phong thuận buồm xuôi gió, nhưng đường đời bất trắc đã sinh cho đời một nhà văn tài danh. Sau “Kể về một tình yêu” Đặng Ái nhanh chóng vượt lên, viết liền liền. Một loạt truyện ngắn của anh như Đò ơi, Chiếc nhẫn cờ, Cầu đã lao sang, Anh bạn 10B của tôi, Hoa hải sơn, Nhà hàng hải, Nước mắt đồng quê… ra đời, được giới thiệu trên các báo gây dư luận sôi nổi trên văn đàn. Những truyện ngắn đầy chất thơ của anh trong đó nhân vật hầu hết trẻ tuổi, tất cả đều hồn nhiên, phơi phới, khát khao được hy sinh, cống hiến, hãnh diện làm thành viên của một tập thể nhanh chóng chiếm được cảm tình của bạn đọc. Đây  cũng chính là tâm trạng của tác giả ngày nào.

Trong các thể loại văn học, truyện ngắn giữ vai trò xung kích trong việc phản ánh đời sống hiện thực. Mỗi truyện ngắn là sự thể hiện những trăn trở của người nghệ sĩ về cuộc đời. Chúng luôn để lại cho người đọc những bài học qua sự chia sẻ, gửi gắm của nhà văn. Truyện ngắn mang rất rõ cái chất của từng người viết, nhất là cái chất quả quyết, đột ngột. Viết truyện ngắn phải có nghề lắm. Vả lại, phải viết về những cái mới, những cái không dễ thấy, nhưng ở chiều sâu của nó, cuộc đời đang đặt ra… Với người này, truyện ngắn là những lát cắt ngang của cuộc sống; với người khác, mỗi truyện ngắn là một trường hợp. Trong quan hệ giữa con người và đời sống, có những thời gian nào đó, khoảnh khắc nào đó, một mối quan hệ nào đó được bộc lộ đặc biệt. Truyện ngắn phải nắm bằng được các trường hợp ấy. Trên phương diện một người viết, tôi rất chịu ý kiến của Đặng Ái khi anh cho rằng, mỗi truyện ngắn là một câu chuyện. Tôi biết câu chuyện này, tâm đắc với nó và tìm cách kể nó ra với mọi người. Còn kể thế nào, ngắn hay dài, thuyết phục hay nhàm chán phụ thuộc vào bản lĩnh của từng ngòi bút. Quan niệm như vậy, nên cũng như Crixtian Anđecxen “Người kể chuyện cổ tích” (K. Pautovsky), suốt đời Đặng Ái là người kể chuyện cuộc đời: Một cô gái mù lặng lẽ năm này qua năm khác kéo bè sang sông chở bộ đội đi ra chiến trường không cần mọi người biết tên, một phi công bị thương nặng vẫn lái máy bay chiến đấu như anh hùng phi công Meretxep ở Liên Xô (cũ), một cô gái chung thủy đợi người yêu từ chiến trường về, một người thợ say mê học tập để nắm vững tay nghề làm việc cho tập thể, một anh kỹ sư được làng cử đi học đại học vẫn quyết tâm về xây dựng làng quê khốn khó…   Đọc anh là thấy như cuộc đời thực đang chuyện trò, vui cười hay hờn giận trên từng con chữ. Anh không thêu dệt, huyền hoặc hay rảy nước hoa, choàng lụa mỹ miều lên mặt cuộc sống. Anh luôn anh trung thực với cuộc sống, với nhân vật dù họ là ai, ở giai tầng nào trong  xã hội. Với tài hoa bẩm sinh, Đặng Ái đã vẽ nên một một thế hệ, một thời sống tốt, sống đẹp, cống hiến hết mình cho quê hương đất nước trong cuộc kháng chiến ái quốc chống Mỹ xâm lược. Từ những trang văn của anh, người đọc cảm nhận sâu sắc những nét tinh tế, nhân hậu trong tâm hồn người Việt, đặc biệt là người xứ Thanh, trong sản xuất, học tập và chiến đấu trong giai đoạn chiến tranh và sau chiến tranh. Và viết với một tấm tình chân thành, nên truyện của anh sau mấy chục năm đọc lại vẫn có sức lay động. Đây là điều tưởng đơn giản mà không mấy người đạt được.

Nhưng Đặng Ái không chỉ có viết truyện ngắn, anh còn viết nhiều tiểu thuyết, thơ và cả kịch bản. Trong các tác phẩm anh xuất bản đến nay ngoài 9 tập truyện ngắn, còn có 4 tập truyện, tiểu thuyết, kịch,  2 tập bút ký, 2 tập thơ. Đấy là những: Đỉnh Ngọc (tập truyện ngắn, 1975); Bức tranh đẹp (tập truyện ngắn, 1976); Có một mùa hè (tiểu thuyết, 1984); Phía trước đường đời tôi (truyện ngắn, 1986); Tín hiệu bình yên (truyện, 1986); Nhà hàng hải (tập truyện ngắn, 1987); Huyền thoại dốc ba cây sến (tập truyện ngắn, 1987); Mắt buồn (thơ, 1990); Thuở dại khờ (tiểu thuyết, 1991); Giai điệu mùa thu (truyện ngắn, 1994); Biến tấu (truyện ngắn, 1996); Giữa nồng nàn gió thổi (thơ, 2002); Đi đường xa (bút ký, 2003); Đêm có bắn pháo hoa (truyện ngắn, 2004); Tiệm cà phê khói mơ (truyện, 2005); Hồi ức mùa thi (tập truyện ngắn, 2005); Và gần đây để tổng kết cuộc đời viết văn của mình, anh đưa in Đặng Ái tác phẩm, gồm 5 tập theo các thể loại: Truyện ngắn (thành tựu lớn nhất) 2 tập; truyện dài 1 tập; kịch bản và thơ 1 tập; Tạp bút (gồm những bút k‎ý chọn lọc từ hai cuốn đã in và hàng trăm bài bào đủ các thể loại) 1 tập… do nhà xuất bản Thanh Hóa ấn hành năm 2013.

          Một bộ sách đầy sức nặng, nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Những tác phẩm đã đưa anh lên hàng những nhà văn xuất sắc trong lớp nhà văn chống Mỹ.

*

Như nhiều người cầm bút nói chung, Đặng Ái thích “khoác ba lô lên và đi”. Cho vui thôi, chẳng nghĩ gì khác. Bàn chân anh phủ sóng gần như khắp các tỉnh thành trong nước. Ngày tôi công tác ở Hội Văn nghệ Nha Trang, một lần thấy anh xuất hiện ở trụ sở 6A Lý Tự Trọng, tôi cảm khái: “Bác ngậm ngãi tìm trầm”. Đặng Ái cười: “Ta đi chơi thôi mà, có tư tưởng gì đâu…” (***)..

Một đêm năm 1984, hai anh em đang ngủ say trên sàn nhà bỗng nghe rầm một tiếng, liền đó có một cái gì đó thật khủng khiếp đổ xuống đập ngang ngực làm tôi tức thở, đau quằn quại. Trong lúc thần hồn nát thần tính, tôi bỗng nghe giọng ai đó hỏi hốt hoảng: “Có sao không Hội ơi ?”. Định thần lại, tôi nhận ra giọng Đặng Ái và hiểu ngay vấn đề. Do trước khi đi ngủ, chúng tôi bất cẩn buộc hai đầu dây màn vào giá sách. Cái giá sách tôi làm bằng một con dao rựa cùn, chẳng có đinh cũng chẳng có mộng mẹo liên kết. Chỉ cần tôi hoặc anh trở mình cuốn màn vào người là nó lập tức đổ xuống. Phía Đặng Ái nằm các khoang chứa đầy sách. Được sách che đỡ, anh không việc gì. Phía tôi giá trống trơn và tôi lãnh đủ…

Trở dậy, gạt các thứ sang một bên chúng tôi ngủ tiếp. Nhưng không ngủ được, cảm thấy đêm tối có cái gì đó bất an như trước những trận bom Mỹ xưa, chúng tôi rì rầm trò chuyện. Đặng Ái kể tôi nghe cuộc đời anh. Đến lúc ấy tôi mới biết ngày mấy cây bút đồng lứa xứ Thanh cùng tôi ra Hà Nội học khóa I trường viết văn Nguyễn Du (xem “Người tốt trại Vân Hồ”, báo Văn nghệ số 22 (2832), ngày 31/5/2014)  anh cũng muốn đi học, nhưng vì không phải là người trong biên chế Nhà nước nên đành chịu.

“…Khi nên trời cũng chiều người/ Nhẹ nhàng nợ trước, đền bồi duyên sau…”  (truyện Kiều). Ba năm sau, năm 1983 việc “đền bồi duyên sau” của Đặng Ái được Trời tiến hành. Bỗng dưng anh vượt qua chướng ngại, được vào biên chế Nhà nước, trở thành học viên khóa 2 của trường. Từ đó, “…Cửa trời rộng mở đường mây…”, Đặng Ái được đủ thứ, được kiến thức đã đành, mà còn được vợ. Đây thực là một điều đáng kể, vì với anh chọn vợ nghĩa là chọn bà chị cho 9 đứa em. Được việc làm (phóng viên báo Thương nghiệp), nhưng ngoạn mục nhất vẫn là được chức Chủ tịch Hội Văn nghệ Thanh Hóa.

          Chuyện như đùa. Năm 1989, ông phóng viên báo Thương nghiệp Đặng Ái nhân chuyến công tác Thanh Hóa, đến Hội Văn nghệ tỉnh chơi thăm bạn bè. Thấy trong góc phòng Hành chính của Hội có một đống cặp giả da cao bề bộn, hỏi để làm gì ? Ông Trưởng phòng nói quà đại hội. Đặng Ái hỏi xin một cái. Ông ta quan trọng bảo: “Cho răng được. Ông muốn lấy cặp phải đến đại hội…”. Thế là Đặng Ái đi dự đại hội Văn nghệ tỉnh mà mục đích ban đầu chỉ là để kiếm một cái cặp. Tới lúc bầu cử, được nhiều người khuyến khích, anh ra ứng cử và trúng luôn chức Chủ tịch. Trúng thì làm. Tạm xin nghỉ công việc ở báo Thương nghiệp, anh công dân hạng hai Đỗ Minh Phong ngày nào khăn gói hồi hương để làm quan Văn nghệ. Cho đến nay, Đặng Ái có lẽ là người duy nhất ở nước ta làm trưởng một ngành cấp tỉnh khi chưa là đảng viên. Nhiệm kỳ ấy đi qua với nhiều bất trắc, sóng gió nhưng cũng đầy ngẫu hứng.

   Nhiệm kỳ sau Đặng Ái lại đắc cử BCH với số phiếu còn cao hơn. Đến nước này thì Đảng phải ra tay, ông Bí thư tỉnh ủy gọi anh vào tâm tình: “Cậu chưa phải đảng viên, kỳ này làm phó thôi nhé!” Hiểu chế độ ta Đảng lãnh đạo toàn diện, Đặng Ái vui lòng lui xuống hàng hai, làm Phó Chủ tịch Hội.

Thời Đặng Ái tham chính, Hội Văn nghệ Thanh Hóa có nhiều chuyện vui. Vui nhất là năm 1993, Hội xây được nhà cho nhà thơ Hữu Loan, đây là ngôi nhà đầu tiên… (vô tình) dẫn đầu phong trào làm nhà tình nghĩa cho các đối tượng chính sách nở rộ trong cả nước sau này. Để hoàn thành ngôi nhà như tâm nguyện, Chủ tịch Hội, Chánh văn phòng Hội (nhà thơ Nguyễn Văn Túy‎) đã phải chạy đôn chạy đáo xoay tiền đến bạc mặt. Trong lúc  ngôi  nhà đang thi công, một số cụ hội viên vốn không ưa Đặng Ái, nay lại khó chịu với việc ưu ái Hữu Loan (mà các cụ cho là không phải hội viên lại cũng chẳng có đóng góp gì cho văn nghệ tỉnh nhà), tụ tập nhau đến chất vấn ông Chủ tịch: “Sau Hữu Loan Hội làm nhà cho ai ?” Thấy tình hình có vẻ căng, ông Chủ tịch vận hết mười thành công lực thoắt trở lại phong độ của chàng trai thợ mộc ngày nào, trả lời tỉnh bơ: “Sau Hữu Loan đến tôi”. Biết gặp phải cao thủ, các cụ ớ ra nhìn nhau rồi lảng chuyện. Thế là Đặng Ái thoát hiểm.

 Ngôi nhà xây xong, không đóng biển “nhà tình nghĩa” này nọ như thói thường. Nhưng tác giả Màu tím hoa sim đã ở trong ngôi nhà này suốt 17 năm cuối đời, đã gặp gỡ, giao lưu, tâm sự với hàng ngàn người yêu thơ, hàng trăm nhà văn, nhà báo, và đã trút hơi thở cuối cùng tại đây (ông mất ngày 18 tháng 3 năm 2010, thọ 95 tuổi).

 Cảm động vì tấm tình của lớp hậu sinh, hôm khánh thành ngôi nhà Hữu Loan đã có một nhượng bộ đáng kể, đấy là cho phép Hội Văn nghệ Thanh Hóa khi in thơ Hữu Loan được quyền tùy nghi thay đổi kiểu dáng kiến trúc, dẹp bớt một số bậc thang trong thánh đường thơ gập ghềnh của ông cho đỡ… tốn giấy. Tiếp nhận sự nhượng bộ ấy, ông Chủ tịch Hội Đặng Ái mỗi khi có dịp in thơ của tác giả Màu tím hoa sim trên Văn nghệ Thanh Hóa, không những không dẹp bớt mà còn cao hứng xây thêm cho nhà thơ dăm ba bậc thang thơ mới. Sinh thời, Hữu Loan rất khoái điều này. Theo ông, như thế Hữu Loan trông càng Hữu Loan hơn.

                                                Thành phố Hồ Chí Minh, 21 – 6 – 2014

                                                              N.X.H

____

    * Thơ Tào Tùng, đời Hán ?: Trạch quốc giang sơn nhập chiến đồ/ Sinh dân hà kế lạc tiều tô/ Bằng quân mặc thuyết phong hầu sự/ Nhất tướng công thành vạn cốt khô.”

  ** Chữ của Nam Cao.

*** Thơ Trần Nhuận Minh.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s