NHỚ KHÓA ĐẦU TIÊN CỦA TRƯỜNG VIẾT VĂN NGUYỄN DU


Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha (phải) - Ảnh Nguyễn Đình Toán.

Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha (phải) – Ảnh Nguyễn Đình Toán.

NGUYỄN THỤY KHA

Tôi không nhớ rõ câu chuyện chuẩn bị lập ra Trường Viết văn Nguyễn Du như thế nào và mất bao nhiêu năm tháng trình bày, lý giải với Nhà nước với bao tâm huyết của nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học…

Nhưng mùa đông 1979 tựu trường của chúng tôi thì tôi không sao quên được. Trong số hơn 40 học viên về học Khóa 1 thì già nửa là các học viên quân đội trở về từ hai trại sáng tác Vân Hồ và Quân Khu 5. Các học viên khác là từ các tỉnh đến. Đặc biệt, có 6 cô gái là Dương Thu Hương, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Thị Mây, Đỗ Thị Hiền Hòa, Ngô Thị Kim Cúc và Nguyễn Thị Đạo Tĩnh.

Bí thư Chi bộ lớp là nhà thơ Hữu Thỉnh. Lớp trưởng là nhà văn Chu Lai. Ngoài những người có nhà ở Hà Nội và các trại viên quân đội về ở tại trại Vân Hồ, các học viên khác ở nội trú trong một khu nhà cấp 4 mái tranh vách đất gần hội trường. Kỷ niệm những năm học giữa chúng tôi nhiều đến không kể xiết. Nhưng nhân kỷ niệm 35 năm thành lập trường (nay thu gọn thành một khoa và không còn tên cũ nữa), điều tôi muốn viết trong bài viết này là chúng tôi đã học những môn gì để bổ trợ cho nghề cầm bút và được học với những người thầy nào.

Tôi lần giở lại những cuốn sổ ghi chép các tiết học thời kỳ đó, mới thấy rằng mình đã được trang bị một khối lượng kiến thức văn hóa chung khá lớn để làm hành trang bước vào hành trình của những trang viết. Với những người thầy là những nhà văn lớp trước, chúng tôi đã được nghe nhà văn Nguyễn Tuân đến dạy về thể ký từ ngay đầu khóa học. Đó là ngày 17.1.1980. Ông đưa ra một định nghĩa rất độc đáo về nhà văn: “Nghề văn là nghề của chữ. Chữ với tất cả mọi nghĩa mà mỗi chữ phải có được trong một câu, nhiều câu. Nó là cái nghề dùng chữ nghĩa mà sinh sự để sự sinh”. Ông dạy rằng nhà văn phải giàu trí tưởng tượng, hư cấu. Hư cấu không có nghĩa là bịa đặt mà là thực tế được nhào nặn, được cấu trúc. Để viết ký thì phải ghi thật nhiều rồi dám quăng thật lắm. Chỉ giữ lại tinh chất. Hình thức nên giản dị nhưng không giản đơn. Ký có quyền dùng mọi thủ pháp nghệ thuật mà các thể loại văn học khác sử dụng. Nên ít dùng chữ “rất” và chữ “lắm”.

Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha (thứ 4 từ trái sang, bên trái anh là nhà nghiên cứu văn học Hoàng Ngọc Hiến) cùng các học viên cũ của Trường Viết văn Nguyễn Du. Ảnh: NGUYỄN ĐÌNH TOÁN.

Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha (thứ 4 từ trái sang, bên trái anh là nhà nghiên cứu văn học Hoàng Ngọc Hiến) cùng các học viên cũ của Trường Viết văn Nguyễn Du. Ảnh: NGUYỄN ĐÌNH TOÁN.

Nhà văn Tô Hoài và nhà văn Nguyễn Đình Thi đến nói về tiểu thuyết. Ông dặn nên chú ý đến đặc điểm, phong cách riêng, chú ý đến người đọc, nên dùng hình thức truyện dài vừa phải. Chữ nhiều hay chữ ít không quyết định tầm vóc tiểu thuyết. Vấn đề là hay hoặc dở. Ông nói tiểu thuyết xóa bỏ khoảng cách giữa người kể với nhân vật. Chỉ còn lại quan hệ thân tình, có lúc tới mức suồng sã. Ông định nghĩa truyện là đơn thanh, còn tiểu thuyết là đa thanh. Nhà văn Nguyễn Đình Thi thì định nghĩa tiểu thuyết không phải là truyện dài mà là một thứ văn truyện để xem chơi, không chính thống như kinh truyện. Tiểu thuyết được viết bằng ngôn ngữ thông thường, không cần ngôn ngữ bác học. Tha hồ bịa sự việc nhưng con người tham gia sự việc lại rất thực. Con người rất đói sống, nhà văn cần phải tìm thấy cái đói của con người. Truyện ngắn chỉ cần kể, còn tiểu thuyết thì kể bằng sự miêu tả – nhà văn Nguyễn Trọng Oánh thì kể mình đã viết “Đất trắng” như thế nào.

Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh nói về thơ. Ông đưa ra một định nghĩa của Ngô Thì Nhậm: “Tình cảm dồi dào thì thơ nảy sinh”. Ông nói thơ gắn với cuộc sống bằng quan hệ có tầm triết lý. Ông lại đưa ra định nghĩa của nhà thơ Pháp Paul Éluard: “Tôi được cuộc sống sáng tạo ra. Tôi sáng tạo. Đó là sự quân bình duy nhất. Đó là sự công bằng duy nhất”. Sau khi nói về thơ và những vấn đề nóng bỏng của cuộc đời, ông lại khép cuộc trao đổi bằng một câu của Geothe: “Phải vượt trên thiên nhiên để không đứng dưới nó”. Nhà thơ Xuân Diệu đến nói say sưa về mối liên hệ giữa thơ với tôn giáo, với tình yêu. Ông nói hình tượng là cấu trúc chính của bài thơ. Âm thanh thơ có chứa nhạc điệu nội tại và nhạc điệu hình thức và nhạc điệu bao giờ cũng đi trước tới người thưởng thức. Ông nhắc nhở chúng tôi “Thời kỳ thơ khoa thực tế đã chấm dứt. Hãy hướng đến những hình tượng thơ mới và lạ”. Nhà thơ Tế Hanh với vẻ ngoài giản dị lại nói về vấn đề tín hiệu trong thơ. Ông nói thơ và văn đều là sử dụng ngôn ngữ. Ngôn ngữ như gạo thì nhà thơ cất thành rượu. Còn nhà văn thì nấu thành cơm. Ông đưa ra câu nói của Jean Paul Sartre: “Thơ không nằm trong văn học mà nằm trong nghệ thuật”. Nếu một tập thơ và tập văn hay ngang nhau thì tập thơ quý hơn. Nếu dở ngang nhau thì văn quý hơn. Ông nói về sự hiện đại của thơ như dùng ngôn ngữ mới không sáo mòn. Không cần thi vị hóa mà hiện hữu nhiều. Đưa văn xuôi vào thơ, chính trị vào thơ, trí tuệ vào thơ. Cần có giọng điệu châm biếm, hài hước. Không vần, không đều, xúc cảm mới. Ông ca ngợi Phạm Thái là nhà thơ Việt Nam đầu tiên làm thơ tình bằng tiếng Việt và đọc câu thơ thế sự của nhà thơ này: “Ba mươi tuổi nào đâu ta/Năm, sáu triều vua thật chán ghê”. Chúng tôi cũng được nghe nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện đến nói về phương Tây 1960 – 1970 và bác Đặng Thai Mai nói về phương pháp cấu trúc. Bác nói phương pháp cấu trúc là phương pháp để đi vào văn học chứ không phải đi vào ý thức hệ.

Chúng tôi học môn Dân tộc học qua thầy Đặng Nghiêm Vạn. Những tiết học của thầy cho thấy lịch sử hình thành dân tộc Việt Nam qua nhiều biến động và không đồng nhất. Thầy thích một câu của Lenin: “Một nước có nhiều dân tộc là một nước lạc hậu”. Thầy giảng khá kỹ về làng như một quần cư khép kín, là một công xã nông thôn. Mỗi làng đều có một dòng họ lớn và các dòng họ nhỏ. Chúng tôi học thêm về làng qua thầy Từ Chi mới biết nhà cổ Hà Nội là một đoạn nhà nông thôn chặt ra. Làng với nếp sống ngàn đời đã ảnh hưởng không ít thời hình ảnh hệ thống công quyền đất nước như cãi cọ làng biến thể thành cãi cọ cơ quan. Công sở ta vẫn mang tính chất nông thôn. Đặc biệt, thầy đưa ra một định nghĩa về ca khúc rất độc đáo: “Ca khúc là sản phẩm âm nhạc của đô thị”. Chúng tôi học môn Ngôn ngữ qua thầy Nguyễn Tài Cẩn. Quathầy mới thực hiểu thế nào là ẩn dụ, hoán dụ, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. Cũng biết thêm ẩn dụ mang tính chủ quan của từng dân tộc, hoán dụ khách quan hơn. Nhờ thế mà khi học sang ký hiệu học, mới thấy hết cái thầy phân tích 4 câu thơ đầu bài thơ “Tràng Giang” của Huy Cận theo ký hiệu học hết sức mới lạ và khoa học. Từ 4 câu thơ: “Sóng gợn Tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song/ Thuyền về nước lại sầu trăm ngả/ Củi một cành khô lạc mấy dòng”.

Ở 4 câu thơ trên, các cặp câu 1 và 3, 2 và 4 là những cặp đối ngữ. 4 câu thơ ẩn dụ được tạo nên bằng nhiều ẩn dụ. Toàn bộ bài thơ đông đặc ngữ nghĩa, lượng thông tin rất cao nên nó sẽ sống mãi. Ký hiệu học đã chứng minh thơ không bao giờ mô tả cá thể vì cá thể. Có thêm thầy Quang Hồng dạy về Âm vận học cũng rất sinh động. Đề thi môn Ngôn ngữ của chúng tôi là: “Hãy phát biểu suy nghĩ vê câu nói của M.Gorky: “Một lần nữa tôi khuyên các bạn hãy chú ý đến ngôn ngữ, hãy giành giật lấy từ nó sự chính xác. Điều này sẽ đem lại cho nó sức mạnh vẻ đẹp”. Anh chị đã giải quyết thế nào trong sáng tác?

Chúng tôi còn được học về kịch qua thầy Đình Quang, học mỹ thuật với các thầy Nguyễn Trân, Nguyễn Quân; điện ảnh: thầy Nguyễn Thụ. Văn học phương Tây: thầy Nguyễn Đức Nam, văn học Trung Quốc: thầy Nguyễn Khắc Phi, văn học Việt Nam: thầy Nguyễn Đăng Mạnh, Nho học: thầy Trần Đình Hượu. PGS.TS Phạm Vĩnh Cư khi nói về văn học Xô Viết đã cung cấp cho chúng tôi bi kịch thời đại của nhiều nhà văn Xô Viết lúc ấy, dưới ách độc tài của Stalin và các thời sau đó.

Chúng tôi được học Tâm lý học với thầy Hồ Ngọc Đại và thầy Phạm Hoàng Gia. Đặc biệt học Phân tâm học của thầy Hoàng Ngọc Hiến hết sức khúc triết và mới lạ. Thầy đưa ra những khái niệm về ý thức và tự ý thức rất dễ hiểu. Độc đáo là những phân tích về mặc cảm và vô thức. Học sinh học qua thầy Lê Quang Long để thấy sự chiến thắng của thuyết di truyền và cũng thấy bi kịch của Liên Xô khi đày nhà di truyền học 71 tuổi Dubilin đi Siberia, đưa Lysenco lên thống lĩnh sinh học để nền sinh học bị chậm lại 50 năm. Học văn minh nhân loại với thầy Nguyễn Hồng Phong và các thầy Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn và Trần Quốc Vượng dạy về lịch sử, khảo cổ học.

Suốt 35 năm qua, tôi đã gìn giữ những bài giảng này rất cẩn thận. Trong công việc, tùy theo từng vấn đề mà tôi lại giở ra tham khảo. Đó là những kiến thức vô giá đối với tôi trong suốt hành trình sáng tạo. Đối với các khóa sau, tôi chắc giáo trình vẫn vậy, nhưng vấn đề là thầy nào? Bởi vì các thầy đều đã có tuổi, không phải năm nào cũng đủ sức khỏe lên lớp và cũng dần dà đi về cõi xa xăm như Đặng Thai Mai, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Nguyễn Khắc Viện… Nên đối với Khóa 1 chúng tôi, được học các tên tuổi trên, đó là niềm hạnh phúc lớn.

Advertisements

Một phản hồi

  1. Bác Thụy Kha có ý thức học tập và giữ tư liệu rất cao. Nể!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s