MỘT NHÀ THƠ – MỘT TRÁI TIM NGƯỜI LÍNH


Nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh - Ảnh Nguyễn Đình Toán

Nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh – Ảnh Nguyễn Đình Toán

NTT: Phạm Ngọc Cảnh, sinh ngày 20 tháng 7 năm 1934 tại thị xã Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, hiện sống ở Hà Nội. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1974).

Ông còn có bút danh nữa là: Vũ Ngàn Chi.

Giải thưởng Nhà Nước về VHNT.

Sinh trưởng trong một gia đình tiểu thị dân, Phạm Ngọc Cảnh được cha mẹ cho ăn học tử tế. Cách mạng Tháng Tám thành công, Phạm Ngọc Cảnh mới 12 tuổi đã tình nguyện đứng vào hàng ngũ Vệ quốc quân, làm liên lạc viên, rồi tham gia vào đội tuyên truyền văn nghệ của trung đoàn 103 Hà Tĩnh rồi trở thành diễn viên kịch nói. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông ở đoàn Văn công quân khu Trị Thiên, từng biểu diễn giữa thành phố Huế trong chiến dịch Mậu Thân. Về sau ông là diễn viên trụ cột của đoàn kịch nói Tổng cục Chính trị. Cuộc đời vẫn có những nẻo đi bất ngờ. Làm diễn viên nhưng ông say mê sáng tác thơ. Vì vậy ông được điều về tạp chí Văn nghệ quân đội là biên tập thơ, rồi cán bộ sáng tác của tạp chí trong 20 năm lại đây. Ngoài sáng tác thơ, ông còn viết kịch phim, đọc lời bình, dẫn các chương trình thơ trên sóng phát thanh, truyền hình và đóng một số vai phụ trong các phim.

 Tác phẩm đã xuất bản:
Gió vào trận bão (thơ, in chung, 1967)
Đêm Quảng Trị (thơ, ký tên Vũ Ngàn Chi, 1972)
Ngọn lửa dòng sông (thơ, 1976)
Lối vào phía Bắc (thơ, 1982)
Trăng sau rằm (thơ, 1985)
Đất hai vùng (thơ, 1986)
Miền hương lặng (thơ, 1992)
Nhặt lá (thơ, 1995)
Bến tìm sông (thơ, 1998)
Khúc rong chơi (thơ, 2000)

Văn xuôi:
Góc núi xôn xao (1999)
Cát trinh nguyên (2003)
Ký (2006)

Một nhà thơ – một trái tim người lính

PHAN THẾ CẢI

Trong những năm tháng của tuổi trẻ, nếu chúng ta không chịu khó suy nghĩ thì tuổi trẻ sẽ trôi đi một cách vô tình. Không ai giằng níu được cái tuổi, nhưng cái sức trẻ thì ta phải giữ lấy, bởi mỗi con người cầm bút  đều mang trong mình sức nổ tầm xa”.

Một lời tự bạch bỗng hóa lời tuyên ngôn của nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh được in trên báo Tiền Phong cùng với chùm thơ, gồm bốn  bài Mẹ, Sư đoàn, Tiếng chiêng A Túc, Lời diễn viên vào tháng ba năm 1975, đã khiến cho tôi ngưỡng mộ anh.

Tôi đã đọc thơ Phạm Ngọc Cảnh từ hồi còn bé, thuộc thơ Phạm Ngọc Cảnh trên lưng trâu, khi được các chú bộ đội  qua làng tặng cuốn Tạp chí văn nghệ  quân đội. Đã không ít lần trong bài  văn phân tích  hay bình luận về thơ ca chống Mỹ cứu nước, tôi lại lấy bài thơ ” Quảng Trị” của ông  ra dẫn chứng, cho tới bây giờ bài thơ ấy vẫn còn neo vào đáy dạ tôi

                           ” Nơi đất nằm yêu thương

                              Nơi đất bừng mãnh liệt

                              Một đường Chín anh hùng

                               Thơ chào không kịp viết ”

Nhà thơ  cho đọc giả hiểu thêm về khốc liệt mảnh đất này :

                             ” Pháo và gió đặc trời

                            Xe tăng gào tới khản

                            Đầy vơi lại đầy vơi

                          Sau lưng là túi đan.. “

Khi  tôi lên đường nhập ngũ, lại được một người bạn thân gửi tặng chiếc khăn tay và tập thơ ” Đêm Quảng Trị“. Tập thơ ấy hồi tân binh, tôi đã cho cả trung đội mượn đọc, người nọ chuyền người kia đến nhàu nát cả sách. Không ít những anh lính trẻ trước khi ra chiến trường đã chép bài thơ ấy gửi về cho người yêu của mình. “Một ba một, tâm hồn chiến sĩ ” cuộc đời của người chiến sĩ đã sống đẹp những tháng năm như thế.

 Tôi yêu thơ Pham Ngọc Cảnh, bởi thơ ông có một phong cách riêng, ông đúng là một nhà thơ lao động nghiêm túc, không bao giờ dễ dãi về câu chữ. Đọc thơ Phạm Ngọc Cảnh chan chứa tình người, nhưng cũng đầy chất trí tuệ, (tuy có đôi bài mang chút cầu kỳ lạm dụng phương ngôn về vật lý hay toán học). Dầu viết về quê hương, đất nước hoặc ca ngợi lãnh tụ, đối với Phạm Ngọc Cảnh bao giờ cũng khám phá cho mình một tứ thơ độc đáo. Bài ” Trăng lên ” không chỉ hay ở bài hát khi nhạc sĩ Thuận Yến phổ nhạc mà chính trong bài thơ đã lung linh vẻ đẹp của ” ý tại ngôn ngoại” rồi. Hay bài ” Lý ngựa ô ở hai vùng đất ” mỗi lần đêm khuya nghe nghệ sĩ Kim Cúc ngâm, thính giả ôm đài mà trái tim như muốn nhảy ra khỏi lòng ngực, nhập cùng dòng cảm xúc tột đỉnh của thi sĩ :

                                      Anh đa tình nên cứ muốn nhìn theo

                                      Xấu hổ gì đâu mà anh dấu diếm

                                      Đêm đánh giặc tràn lên cao điểm

                                      Vạch lá rừng nhìn xuống quê em

                                      Mặt đất ra sao mà thúc vào điệu lý

                                   Khuôn mặt ra sao mà suốt đời chống Mỹ

                                      Lý ngựa ô hát đến mê người..    

Nhiều người yêu thơ ông còn biết đến Phạm Ngọc Cảnh với một bút danh khác là Vũ Ngàn Chi. Ông là người con của Hà Tĩnh và cũng là một cộng tác tích cực của Báo Hà Tĩnh. Với nhà thơ Duy Thảo, Minh Nho, Nguyễn Quốc Anh… đã trở thành bạn bè thân thiết. Có lần trên đường vào  miền Nam  công tác, ông đã mang ba lô bách bộ trên thị xã Hà Tĩnh, tìm đến tòa soạn Báo Hà Tĩnh nghỉ và đàm đạo với anh em văn nghệ sĩ tỉnh nhà. Tại tòa soạn ông  đã sáng tác ngay bài thơ ” Sáng mai này” gửi nhà thơ Duy Thảo để  báo in số đặc biệt mừng miền Nam giải phóng. Tháng 10 năm 1991, khi tỉnh Hà Tĩnh chia tách, anh em văn nghệ sĩ Hà Tĩnh xúc động khi nhà thơ lại lặn lội từ Hà Nội về  thăm bạn bè và quê hương. Hôm đó tôi nhớ tại hội trường của Công ty lương thực Hà Tĩnh, ông Phạm Ngọc Cảnh nói : ” Mới chia tỉnh tôi nhìn quê mình còn nghèo và anh em còn vất vả lắm, nhưng có một điều ta hơn thiên hạ là người Hà Tĩnh giàu tình nhân nghĩa. Vì lẽ đó mà người Hà tĩnh làm thơ hay, tôi tin quê mình rồi sẽ khác đi bằng trí, bằng tâm của người Hà Tĩnh “.

Mới đó mà đã hợn hai thập kỷ rồi, ông không có dịp để tận mắt nhìn quê mình đổi thay như niềm tin của ông ngày mới trở về nữa. Căn bệnh tai biến mạch máu não đã hành hạ trong năm tháng cuối đời. Nhà thơ Phạm Ngọc cảnh ra đi lặng lẽ ở tuổi tám mươi, nhưng chắc hẳn vẫn còn đau đáu với quê hương với những gì ông đang khát vọng.

Ngần ấy trong cuộc đời  với những tập thơ : Đêm Quảng Trị , Ngọn lữa dòng sông, Xa Ma Khi, Lối vào phía Bắc,  Trăng sau rằm, Đất hai vùng, Miền hương lặng, Nhặt lá, Bến tìm sông, Khúc rong chơi.. thế cũng đủ cho bạn đọc và giới văn nghệ sĩ phục tài năng và sức lao động của ông rồi. Người đọc còn khâm phục ở ông là nhà viết ký, với nhiều tác phẩm như  Gió núi xôn xao, Bài hát về cây ngãi cứu.

Nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh là người đa tài, ông  sinh năm 1934 và vào lính năm 1947, trước lúc xuất hiện tên tuổi trên văn đàn ông là diễn viên sân khấu. Ông đã từng tham gia viết nhiều kịch bản phim,  viết lời bình cho các bộ  phim tài liệu thời sự và có lúc còn  tham gia cả làm  diễn viên điện ảnh cho một số phim truyện nữa.

 Nhà thơ Pham Ngọc Cảnh là một nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh. Thời đại đã nuôi dưỡng tâm hồn ông  và cây bút ông đã trở thành vũ khí sắc bén thổi bừng thêm sức sống mãnh liệt của dân tộc.

Tiễn ông về nơi chín suối,  chắc không có nhạc của Lý ngựa ô, nhưng những người miền Trung và nhân dân cả nước vẫn thương ông, tiếc ông và trận trọng những di sản văn chương ông để lại cho đời. Trân trọng một nhà thơ bừng bừng sức nóng trái tim người lính.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s