Kẻ tử tội của CCRĐ thoát chết nhờ Hồn thiêng Nữ Liệt sĩ Đinh Kế Thị Tường Vi?


LÊ QUANG VINH

Ảnh chỉ để minh họa

Ảnh chỉ để minh họa

Người con gái mà đại tá Lê Phương nói đến trong Hồi ký “Trên Chiến khu Ba Lòng” bị giặc giết trong một trận càn, đó là chị Đinh Kế Thị Tường Vy (con cụ Đinh Kế Tác – Người làng Vĩnh Lôc, xã Qung Lc, huyn Qung Trch, tnh Qung Bình):

Tôi cm phc người bn gái cùng quê đã anh dũng chng li bn lính gian ác khi chúng toan hãm hiếp ch. Ch đã b bn chết trên bãi cát, vi thân th lõa l, tang thương”.

Đoạn hồi ký kể về cuộc càn của giặc Pháp trên Chiến khu ba Lòng năm 1951, được ông Lê Phương viết bằng cả trái tim yêu thương đồng chí đến nao lòng và hờn căm chất chứa bởi sự dã man của giặc khiến Trời xanh phải thấu. Hồi ký của người chiến sĩ trong cuộc “Trên chiến khu Ba Lòng“, nóng bỏng đến ngày nay: 

Tôi cảm phục người bạn gái cùng quê đã anh dũng chống lại bọn lính gian ác khi chúng toan hãm hiếp chị. Chị đã bị bắn chết trên bãi cát, với thân thể lõa lồ, tang thương”.  Đoạn hồi ký kể về cuộc càn của giặc Pháp trên Chiến khu ba Lòng năm 1951, được ông Lê Phương viết bằng cả trái tim yêu thương đồng chí đến nao lòng và hờn căm chất chứa bởi sự dã man của giặc khiến Trời xanh phải thấu. Hồi ký của người chiến sĩ trong cuộc “Trên chiến khu Ba Lòng”, nóng bỏng đến ngày nay:

Chị Tường Vi

Chị Tường Vi

“Tôi nhớ đến mùa chiến dịch, cùng cán bộ cơ quan về xuôi đi chiến đấu. Lúc này, tôi không trực tiếp cầm súng nhưng không phải ở mãi sau trận tuyến. Chúng tôi phải “nhanh như điện”, chuyển tải những lời động viên của cấp trên, những tờ báo theo sau gót người chiến sĩ. Cùng ém quân phục kích đoàn xe lửa trên cầu Mỹ Chánh, đánh ở Liêm Công Tây, Liêm Công Đông. Chiến dịch Lê Lai, Phan Đình Phùng đều có mặt. Trong cuộc chiến đấu đó, tôi đã bị thương, nhỏ giọt máu đào cho Tổ quốc.Tôi nhớ trận địch lùng ở Phong Thu, vì sơ hở mà của mất người hy sinh. Cả cơ quan bị bao vây như trong một cái túi. Trên Trời máy bay, sau lưng quân bộ, dưới sông ca nô. Chúng tôi – những người lính văn phòng – không một tấc sắt để chống cự; chỉ kịp tiêu hao tài liệu, công văn. Mở đầu trận lùng, bọn giặc trên máy bay bắn bị thương đồng chí Dung nằm cách tôi một thước. Tiếng Dung gọi: “Phương ơi, tao bị thương rồi”! Trong tay không có một cuộn băng nào, phải mau chóng đưa Dung vào nấp trong bụi rồi xé áo băng bó cho bạn. Tôi cảm phục người bạn gái cùng quê đã anh dũng chống lại bọn lính gian ác khi chúng toan hãm hiếp chị. Chị đã bị bắn chết trên bãi cát, với thân thể lõa lồ, tang thương. Tôi mến thương người chị gái nuôi quân (lâu ngày quên mất tên), lấy thân mình che đạn cho mẹ con một cháu bé. Chị hy sinh cách tôi không đầy một cánh tay.

   Giờ phút nguy cấp, tiếng loa của giặc rõ dần, không còn cách nào khác là vứt hết đồ đạc, chôn tài liệu và bơi qua sông. Sông không rộng, nhưng nước chảy mạnh. Tôi cố lấy hết sức bơi sang đến bờ thì kiệt sức, nằm sóng sượt. Tiếng ca nô của địch ầm ầm, các đồng chí đều phải chạy, hướng thẳng lên rừng, sau lưng đạn bay như mưa.

   Sau trận lùng ấy, mỗi người chỉ sót lại chiếc quần đùi mặc trên người, bụng thì đói, cắn răng thoát hiểm tìm về căn cứ. Các đơn vị bạn mở cuộc “lạc quyên” giúp đỡ chúng tôi, cùng nhường cơm xẻ áo. Chúng tôi lại bắt tay xây dựng nhà cửa. Lao động quần quật suốt ngày. Trận lụt năm 1951 phá hoại ghê gớm tài sản của đồng bào. Bình Trị Thiên đã nghèo lại nghèo thêm, đã khổ lại khổ thêm. Bao kho gạo dự trữ cho kháng chiến bị ngập. Gạo ngâm nước lụt lâu ngày phơi khô mốc ẩm, lên men. Nấu cơm lên thối đến nỗi cho chó chó chê, cho lợn lợn không ăn. Cơm nấu xong, xới ra trên lá môn quạt hết hơi đến nguội để bớt thối. Thế nhưng, mấy hôm đầu không ai ăn được. Cái đói giày vò, cái bụng bắt phải nuốt, công việc bắt phải ăn, nhắm mắt nhắm mũi mà đút vào mồm. Anh em ăn vào đi lỏng, ra toàn vỏ gạo (vì gạo chưa xát). Dần dần bụng chúng tôi cũng phải quen với loại cơm  đáo để này và phải đành “làm bạn” với nó hàng tháng trời.

   Ăn uống như thế, nên nhiều đồng chí đã “quỵ xuống” vì mệt nhọc, vì sốt rét… Gạo đã thiếu thuốc càng thiếu hơn. Lên cơn sốt rét thì đắp chăn mà run. Có được viên thuốc quinine vàng liền hoà ra hàng lít nước để chia nhau.

Trong gian nan mới thật thương nhau. Tình đồng chí xây bằng máu. Cứ mỗi lần đồng chí nào về xuôi lên mang theo được lon gạo nếp, không nỡ ăn một mình, mà mượn cái nồi to đổ thật nhiều nước, nấu cháo húp mỗi ngưòi một bát.

  Gian khổ, đói rét không làm chúng tôi lung lay, lòng vẫn lạc quan tin tưởng. Những ngày ở chiến trường Bình Trị Thiên thực  sự là “trường học” rèn luyện thử thách, đào tạo nên người chiến sĩ. Song cũng có những kẻ hèn nhát, tham sống sợ chết, dao động hoang mang, không chịu nổi đã đầu hàng giặc.”

Chị Đinh Kế Thị Tường Vi trong đoạn văn trích, được kể lại chân thực vô cùng kiệm lời, nhưng đủ để hình ảnh chị hiển  hiện lên là một nữ “Anh hùng Liệt sĩ” cực kỳ tiêu biểu: anh dũng, kiên trinh, hy sinh lẫm liệt đến giọt máu cuối cùng giữa bầy lang sói; chị quyết không thể cho chúng làm nhục nhằm giữ nguyên phẩm tiết của người con gái tuổi xanh, hiến dâng trọn vẹn cuộc sống tươi đẹp nhất cho Tổ quốc lúc lâm nguy. Vậy chị Tường Vi trong lòng quê hương Vĩnh Lộc, anh em, người yêu “đã hẹn ước” cùng con cháu…nay được nhớ lại và lưu giữ như thế nào và gia đình của chị sau sự hy sinh đó?

Ông Đinh Duyệt, năm nay 95 tuổi – Cán bộ Tiền Khởi nghĩa, Huy hiệu 65 tuổi Đảng (2012), nguyên Chuyên viên cao cấp công tác tại Toà án Nhân dân Tối cao; hiện nghỉ hưu tại quê nhà là thôn Vĩnh Lộc, xã Quảng Lộc, Thị xã Ba Đồn (huyện Quảng Trạch cũ), tỉnh Quảng Bình; khi được tiếp xúc Hồi ký  “Trên chiến khu Ba Lòng” của em trai vợ mình (Bà  Lê Thị Toán) – Đại tá  Lê Phương, lòng bồi hồi xúc động nhớ lại: Chị Đinh Kế Thị Tường Vi có Thân phụ là cụ Đinh Kế Tác, tục danh “Xu Tác” – Một nhà thầu khoán (Sur veilzan) có tiếng thời Pháp thuộc; rất yêu nước và có nhiều công lao đóng góp đối với quê hương. Cụ cùng nhà thấu khoán và là bạn thân quê ở làng bên Hoà Ninh (nay là xã Quảng Hoà, Thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình) tên là Đoàn Phiến, tục danh “Xu Phiến” cùng chung tiền của công sức xây dựng nên Trường tiểu học Élémenter Hoà Ninh  cho con em mấy làng vùng Nam phủ Quảng Trạch thời đó: Hoà Ninh, Vĩnh Lộc, Vĩnh Phước, Minh Lệ, La Hà…có nơi học tập. Riêng với mảnh đất chôn rau cắt rốn là làng Vĩnh Lộc, cụ Đinh Kế Tác đã bỏ công của vật lực đắp xếp 2 con kè lớn bằng đá hộc lẫn đá sa thạch để ngăn luồng nước xiết chống xói lở phía Rào Đơờng (Nguồn Nậy sông Gianh, nhánh chảy qua các làng Vĩnh Lộc, Cồn Sẻ và Văn Lôi). Hai con kè đá này sau gần cả trăm năm hiện vẫn còn y nguyên tác dụng (đắc dụng). Nếu chiến tranh Pháp – Việt không nổ ra, cụ đã hoàn thành tâm nguyện xây dựng một cây cầu cho cả 2 làng Vĩnh Lộc – Hoà Ninh liền bờ, vị trí định xây dựng gần lối bến sông cạnh nhà ông Đoàn Phụng, để đi ra đường “Kiệt Ngang” Hòa Ninh qua chợMới (Minh Lệ).

Chị Đinh Kế Thị Tường Vi là một cô nữ sinh rất hiếm hoi thời đó ở vùng quê nghèo Vĩnh Lộc, được bọ mạ (cha mẹ) gửi vào Kinh đô Huế cho ăn học tại Trường Đồng Khánh – Ngôi trường dành riêng cho nữ giới con nhà quyền quý, quan lại và công chức trong chính quyền thuộc Pháp. Khi học xong chương trình “trung học” (?) Trường Đồng Khánh – Huế, chị trở về gia đình ở quê hương Vĩnh Lộc dự tính sẽ tiếp tục học lên. Thế rồi cuối năm 1946, Pháp núp bóng quân Anh trở lại đánh chiếm Sài Gòn – Gia Định và cả Nam bộ. Hưởng ứng “Lời Hiệu triệu cứu nước” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ vẻn vẹn trong 2 tháng cuối năm 1946 – đầu năm 1947, nhân dân Thẻ Làng (riêng Làng Vĩnh Lộc phía Bắc sông Hoà Ninh goị là “xứ Đông”, không có Xóm Vụng (Xóm Vũng) – một phần làng Vĩnh Lộc ở phía Nam sông Hoà Ninh goị là “xứ Đoài”) đã có 3 đợt nam nữ thanh niên xung  phong “Nam Tiến” để cùng quân dân Nam Bộ đánh giặc. Đợt “Nam Tiến” đầu tiên, có 4 anh chị em, trong đó có chị Đinh Kế Thị Tường Vi.

Ông Dinh Duyệt nhớ lại như in, hình ảnh cô em gái nhỏ nhắn, tóc dài, nước da trắng nõn nà nhưng bặm trợn khi lên vị trí diễn giả để tranh luận với đám thanh niên cũng đang hừng  hực khí thế “Nam Tiến”. Khi mấy cán bộ Việt Minh thấy rõ mồn  một chị Tường Vi  là cô gái còn quá nhỏ tuổi (chị là bạn học  với anh Lê Phương – sinh năm 1932, so các anh cùng đăng ký “Nam Tiến” đợt này ít hơn ngót chục tuổi), thân hình lại “liễu yếu  đào tơ”, “chưa lấm bụi đời”, dứt khoát không tiếp nhận và để chị kê khai lý lịch cũng như viết quyết tâm bày tỏ nguyện vọng lên  đường …; chị Đinh Kế Thị Tường Vi liền nhảy phốc lên cướp lời mọi người, với giọng vô cùng dõng dạc, dứt khoát: “Ông cha ta đã dạy rồi, giặc đến nhà, đàn bà cũng phải đánh. Tui (tôi) tuy là “đàn bà con gái” nhỏ tuổi, nhỏ người nhưng ăn thua là ở cái tinh thần đánh giặc cứu nước chứ không phải vì con gái hay tuổi nhỏ, người nhỏ mà bỏ qua”. Thế là không ai còn cản được chị Đinh Kế Thị Tường Vi lên đường “Nam Tiến” cùng 3 trai làng khác là anh Đinh Xuân Dật (tên trong Bằng Tổ quốc ghi công: Liệt sĩ Đinh Thụy Sơn), Nguyễn Đăng Khoa và Đinh Như San. Chị Đinh Kế Thị Tường Vi, hai anh Đinh Xuân Dật và Đinh Như San hy sinh trong những năm đầu và giữa cuộc kháng chiến chống Pháp; còn anh Nguyễn Đăng Khoa (sinh năm Quý Hợi – 1923)  may mắn sống sót, tiếp tục chiến đấu suốt gần 30 năm trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp – Mỹ và xây dựng quân đội trong Hoà Bình, là sĩ quan với cấp bậc “Thiếu tá”. Cụ qua đời cách đây 17 năm (27/11/Đinh Sửu – 1997) sau khi về nghỉ hưu tại quê nhà.

Buổi đăng ký cho thanh niên lên đường “Nam Tiến” đợt đầu tiên này diễn ra tại đình Vĩnh Lộc (ngôi đình giữa cánh đồng,  đã bị triệt phá sau Cải cách ruộng đất mấy năm). Thời điểm  này, ông Đinh Duyệt là phó Chủ nhiệm Việt Minh xã Vĩnh Trạch (xã Quảng Lộc sau này). Anh Đinh Như San có người anh ruột là Đinh Như Hằng, tham gia lực lượng vũ trang tại địa phương và cũng hy sinh anh dũng trên quê hương thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Hai anh em Đinh Như Hằng và Đinh Như San là con trai cụ Đinh Thị Vặt – tục danh “Giang Ưa”. Cụ là O ruột (cô ruột) của ông Đinh Duyệt. Hiện địa phương đang làm các thủ tục để đề nghị Chủ tịch nước Truy tặng Danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” cho cụ Đinh Thị Vặt.

Thạc sĩ Nguyễn Bá Sinh, con trai thứ 5 của cụ Nghè Cơ – Nguyễn Bá Ky (cụ Nghè Cơ – Nguyễn Bá Ky cũng  là  cậu  ruột  của  ông  Đinh Duyệt), trên Comment (lời góp ý) bài hồi ký “Trên Chiến khu Ba Lòng” – “QTXM”, đã chia sẻ cùng bạn đọc những tư liệu rất quý về mối tình đầu và bức ảnh “duy nhất còn lại” mà gia đình đang thờ phụng người nữ anh hùng liệt sĩ này: “Những ngày sau CM tháng 8, chị Đinh Kế Thị Tường Vy là một nữ sinh trung học nhưng đã tham gia hoạt động phụ nữ cùng chị gái tôi là Nguyễn Thi Ngọc Lan. Chị Nguyễn Thi Ngọc Lan sau này trở thành vợ của người cán bộ Việt Minh – Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên (Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng).

Dạo đó, chị Đinh Kế Thị Tường Vy hay sang nhà tôi (ởxóm Vụng – Xóm Vũng) – một phần làng Vĩnh Lộc ở phía Nam sông Hoà Ninh, người xưa goị là “xứ Đoài”) để cùng chị Lan trù tính công tác đoàn thể. Dáng người chị Tường Vi thanh mảnh, xinh xắn; nước da trắng trẻo, mái tóc tha  thướt tôn vẻ đẹp dịu hiền như người con gái xứ Huế. Tôi có người chú họ, tên là Phầu cùng làng với chị Đinh Kế Thị Tường Vy nên hai người biết nhau từ tấm bé. Chú Phầu tôi (học trường Khải Định ở Huếu); lúc còn lứa truổi “học sinh”, đã rất mến rồi đâm lòng yêu  thương chị. Có lẽ do “Duyên Trời” (Thiên duyên) nên hai người dễ dàng có “hẹn ước”. Ôông mệ (ông bà) tôi đã có “cơi trầu”, “chai rượu” sang thưa với Ôông mệ bên nhà chị xin được kết giao thông gia. Nhưng rồi, còn đâu ! Kháng chiến bùng nổ. Sau khi mặt trân Huế vỡ, quân Pháp đánh lan ra Quảng Trị, Quảng Bình. Khói lửa ngút trời. Những chàng trai cô gái làng tôi như anh Lê Phương, chị Tường Vy, chú Phầu tôi… rời làng  lên đường đi chiến đấu. Khi chia tay, chị Tường Vy tặng chú tôi một tấm ảnh nhỏ làm kỷ niệm – như lời “hẹn ước trăm năm” của đôi trai gái.

Chị được tổ chức điều vào Phân khu Bình Trị Thiên làm công tác điện đài (mật mã); còn chú Phầu tôi ra Bắc học Trường sỹ quan lục quân. Rồi một hôm từ Việt Bắc, chú Phầu tôi nhận được  tin sét đánh: Trong một trận càn của giặc, chị Tường Vy đã lọt vào tay giặc và anh dũng hy sinh như lời kể của anh Lê Phương trong hồi ký “Trên chiến khu Ba lòng”. Từ đó, bức hình chị Tường Vi đối với chú Phầu tôi là “chứng nhân” của mối tình nồng thắm “thuở ban đầu” trong ba lô người chiến sỹ và cả quê hương yêu dấu trên mỗi bước hành quân suốt cả chiều dài hai cuộc kháng chiến đánh Pháp và đánh Mỹ.

Nhiều năm sau khi đất nước đã hòa bình, anh trai chị là ông Đinh Kế Nhậm đã dày công tìm kiếm được hài cốt chị Tường Vy đưa về an táng tại quê nhà. Thời điểm này, chú Phầu tôi cũng đã ở tuổi tám mươi, mái tóc bạc phơ, chân đi chầm chậm về thăm quê. Trước đó, tại Thủ đô Hà Nội, chú tôi đã thuê in tấm ảnh của người yêu cũ vô vàn yêu dấu lên chất liệu sứ men nung. Chính trong dịp về quê này, ông đã cùng con cháu ra nghĩa trang liệt sĩ xã Quảng Lộc và đến bên mộ người yêu – người đồng chí lặng lẽ gắn lên bia mộ bức hình men sứ chụp năm xưa (còn lại duy nhất trong đại gia đình và bè bạn) của nữ Liệt sĩ Đinh Kế Thị Tường Vy, cùng những bông hoa cúng trắng muốt trong làn khói hương bay não nùng…”. Sự ra đi “một không trở lại” từ ngày “Nam Tiến” 1946  rồi hy sinh lẫm liệt vào năm 1951 tại Chiến khu Ba

Lòng của người con gái nhỏ đầy khí phách; nhưng vô cùng đau  thương đối với cha mẹ, anh chị em trong đại gia đình cụ Xu Tác – Đinh Kế Tác. Vết cắt đau đớn tột cùng như cứa đôi mỗi cuộc đời trong gia đình chị Tường Vi từ già đến trẻ bởi niềm thương tiếc người ruột thịt vẫn chưa nguôi ngoai cùng sự ngăn cách  hai miền đất nước Nam – Bắc tại Vĩ tuyến 17 Vĩnh Linh – sông  Bến Hải; đúng 8 năm sau ngày lên đường “vô định” đó và 3 năm  sau sự hy sinh của chị, tai ương của cuộc Cải cách ruộng đất lại nhằm đúng gia đình người nữ liệt sĩ: Anh trai trưởng trong gia đình chị Đinh Kế Thị Tường Vy là Đinh Kế Nhậm, bị  Đội “Cải cách” quy “Địa chủ” – “Cường hào gian ác” –”Phản động” và “Có nhiều nợ máu với nhân dân”. Phiên tòa “Nhân dân” của Cải cách ruộng đất được mở ra đấu tố suốt 2 – 3 ngày liền cùng mấy người nữa y tội danh. Tại trường bắn “dã chiến” Hòn Sả (địa điểm này hiện là chân cầu phía Nam của cầu Quảng Hải – Vĩnh Lộc),  Lời “tuyên án” vừa đọc xong (thực tế là một đứa không biết chữ “hô chay” bằng mồm), một đứa “cốt cán” rất “tử tế” đã đến bịt mắt ông Đinh Kế Nhậm. Ba đứa “dân quân” ôm súng đang chực sẵn để lắp đạn lên nòng đợi giây phút hành hình người anh trai Liệt sĩ Đinh Kế Thị Tường Vy.

Oan ức của gia đình chị Tường Vi chắc chắn cũng “thấu trời xanh”, hay chính là Hương hồn người em gái này quá thiêng; một “Lệnh trên” như của viên tướng Từ Hải xưa kia trong truyện Kim Vân Kiều giúp Vương Thúy Kiều lập “Tòa án” báo ân báo oán xử bọn hãm hại nàng suốt 15 năm trời lưu lạc, khiến nàng phải “Thanh lâu hai  lượt, thanh y hai lần”, từ Trung ương (nghe đâu của Bác Hồ?) kịp về trong nháy mắt đã giải thoát cho ông Đinh Kế Nhậm được sống.

Qua vụ này, người làng Vĩnh Lộc và mấy làng cạnh bên, đa phần có biết tiếng tăm công đức của cụ Xu Tác và cuộc hóa thân của thiên thần Đinh Kế Thị Tường Vy vào khí thiêng non sông đất nước; đã tin như “đinh đóng cột” là chính công đức cha mẹ và Hồn thiêng em gái đã cứu mạng ông Đinh Kế Nhậm – kẻ “tử tội” của Cải cách ruộng đất, chứ không một ai hay một phép màu nào khác!

Ông Đinh Kế Nhậm đi bộ đội (vào “Vệ quốc đoàn” năm 1947). Năm 1952, bị ốm nên cùng được đi “an dưỡng” với ông Nguyễn Bá Sinh – người viết Comment đã giới thiệu ở phần trên (đang học trường “Thiếu sinh quân” – Khu 4). Hai anh em cùng quê tình cờ gặp nhau tại “Đoàn thu dung Lê Lợi” – Quân khu 4, đóng quân ở huyện Can Lộc – Hà Tĩnh. Năm 1954, ông Đinh Kế Nhậm về quê Vĩnh Lộc tham gia công  tác tại địa phương; rồi gặp luôn đại họa CCRĐ với cách  làm “khoán theo chỉ tiêu”, nên đã tiêu diệt và làm oan  khuất rất nhiều người vô tội.

Ông Đinh Kế Nhậm về sau trở thành cán bộ  của ngành Ngân hàng, công tác suốt mấy chục năm liền trong cuộc kháng chiến chống Mỹ – cứu nước và sau  này nữa, tại các địa phương tỉnh Quảng Bình. Những  năm tháng về quê Vĩnh Lộc nghỉ chế độ hưu trí, ông tham gia tích cực công tác xã hội; đóng góp nhiều công sức cùng con em xây dựng “Nông thôn mới” ở quê  nhà như gương sáng và sự hy sinh của cha và em gái.  Ông Đinh Kế Nhậm qua đời năm 2005 – thọ trên 80

Vĩnh Lộc, 14 giờ 52’ ngày 18/10/2014

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s