PHẠM NGỌC SAN, “CHẠNG VẠNG HOA ĐÈN” THẮP SÁNG THƠ


PhamNgocSanNTT: Pham Ngọc San còn có bút danh là Thôn Nhân Phạm sinh ngày 10-01-1944 tại xã Song Lãng, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, hiện sống tại Đội 8, Yên Xá, Tân Triều, Thanh Trì, Hà Nội, hội viên hội Tự động hoá Việt Nam. Thời trẻ anh vào bộ đội tham gia chiến đấu ở chiến trường C, rồi được đi đào tạo tại Liên Xô (cũ). Về nước anh tiếp tục tham gia quân đội. Vết thương chiến tranh khiến sức khỏe anh ngày càng hao mòn và chủ yêu trên giường bệnh, nhưng anh vẫn làm thơ, vẽ tranh giữa những cơn đau. Sáng tạo nghệ thuật cũng là một thứ thuốc sống của anh. Những ngày gần đây với tuổi 70, anh vẫn viết những câu thơ trẻ  trung, tinh tế và giàu khao khát đúng như tâm hồn thầm lặng đầy ý chí chịu đựng của mình. Ngoài những tập thơ đã xuất bản, đã in báo, còn rất nhiều thơ chưa in, được đưa lên FB Thôn Nhân Phạm từng ngày. 

Dưới đây là bài viết của Nguyễn Đình Xuân sau khi đọc tập thơ “Chạng vạng hoa đèn” (NXB Hội Nhàvăn, 2011) của Phạm Ngọc San:

Chạng vạng cuộc đời, “Chạng vạng…” thơ

NGUYỄN ĐÌNHXUÂN

QĐND Online – Cách đây mấy năm tôi gặp tác giả Phạm Ngọc San ở Trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam, số 9, Nguyễn Đình Chiểu, Hà Nội.Ông giới thiệu với tôi, quê ông ở huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, đã từng tham gia quân đội, vào chiến trường miền Nam. Người gầy, ốm yếu do vết thương và di chứng chiến tranh để lại, song ông có nghị lực phi thường, hằng ngày làm thơ và vẽ, ngay cả khi trên giường bệnh. Các sáng tác thơ của ông đã được tập hợp in trong các tập “Vầng trăng trong mưa” (NXB Mỹ thuật, 2002), “Hoàng hôn không yên lặng” (NXB Văn học, 2008). Mới đây nhất, ông ra mắt tập thơ “Chạng vạng hoa đèn” (NXB Hội Nhàvăn, 2011) gồm 54 bài, chủ yếu ông làm trong thời gian điều trị tại bệnh viện và giữa hai cơn đau.

Tôi nhớ có lần đã trao đổi với ông về một chữ trong bài thơ “Nhớ Tây bắc”. Bài thơ hay, song câu “Heo may xao xác hàng cây/Thu đi không để dấu giày thời gian”, tôi đề nghị thay chữ “giày” bằng “gầy”. Theo tôi, chữ “gầy” làmcho câu thơ thanh thoát hơn, thể hiện được phong cảnh đang miêu tả, ngữ cảnh của bài thơ; đồng thờinói được bước thời gian rất nhẹ, không để dấu vết mà vẫn hằn lên cuộc đời. Phạm Ngọc San tâm đắc với góp ý trên và bảo, thế hệ làm thơ chúng tôi vẫn còn tư duy cụ thể lắm. Ông hơn tôi hai giáptuổi, đã là khoảng cách một thế hệ, song điều đó không quan trọng, mục tiêu là có thơ hay.

Cầm trên tay tập thơ “Chạngvạng hoa đèn” ông tặng, tôi nhận thấy niềm yêu thơ của Phạm Ngọc San sâu sắc và thủy chung nhườngnào. Nhà thơ Phùng Quán từng viết “Có những phút ngã lòng/tôi vịn câu thơ mà đứng dậy”. Còn PhạmNgọc San vịn vào câu thơ để chống chọi với bệnh tật. Vì thế, thơ của ông chân thật, tâm sáng, hồnhậu. Khi ở buổi chạng vạng cuộc đời, ông suy nghĩ về con đường đã qua, những bon chen được, mất; những giá trị thật ảo. Trải qua những biến đổi thăng trầm, cuối cùng con người ta cũng trở về nơi cần đến, cái bến cuối vĩnh hằng. Vậy thì khi sống làm sao để mỗi ngày thật ý nghĩa, bao dung, nhân ái, “người với người sống để yêu nhau”.

Thực tại là nguồn cảm hứng sáng tác thơ của Phạm Ngọc San, dù đó là thực tại nghiệt ngã. Ông có cái nhìn về sự yên bình trongso sánh giữa thời chiến tranh bom đạn và hòa bình: “Thuở bom đạn dội sớm trưa/Bình yên nhẹ giấc võng đưa ấm lòng/Bây giờ gió rít đồng không/Nghe như đạn réo bom rung chiến trường” (Yên bình). Đấtnước hòa bình, nhưng chiến tranh chưa đi qua người lính, nó nằm trong những vết thương trên cơ thể và hằn trong ký ức con người. Phạm Ngọc San là thương binh nên ông mong: “Đồng xanh, bến nước thânthương/Gió đừng rít để quê hương yên bình”. Trái gió trở giời làm vết thương tái phát, lúc ấy ngườita mới cảm nhận được chiến tranh khốc liệt thế nào. Nhà thơ Trần Nhuận Minh cũng từng đề cập đến chiến tranh trong ngày hòa bình qua “Chị Hai Vui”. Bài thơ khiến mọi người xúc động,cảm thông sâu sắc khi người phụ nữ thường phải chịu đựng những trận đòn của chồng – người thươngbinh bị tâm thần gây nên khi mỗi lần trái gió, trở giời. Còn Phạm Ngọc San viết về nỗi đau, những vết thương chiến tranh hành hạ của những người đã từng đi qua cuộc chiến tranh, nay sống trong hòa bình.

Cũng mạch đề tài thương binh,trong bài “Khúc giao mùa”, Phạm Ngọc San viết những câu thơ làm xúc động người đọc: “Lối đi, lạclối/Vấp vào ngày xanh/Lối về-quên nhớ/Sương muối mặn cành”. Tôi rưng rưng trong lòng khi đọc từngchữ, từng câu của Phạm Ngọc San viết về chiến tranh, như trong những bài “Hội nhập sẹo”, “Dấu lặngtrên khuông nhạc”, “Rừng xanh một thuở”… Ông viết về chiến tranh thông qua người mẹ cụ thể củamình và cũng là của những người mẹ Việt Nam: “Chiến tranh mấy cuộc kéo dài/Gồng vai thay bố nơingoài chiến khu/Tay kim chỉ, miệng hát ru/Khêu đèn lụi bấc, trăng lu tảo tần” (Con dâng mẹ bát chè xanh).

Thơ viết ở buổi chạng vạngcuộc đời, nên Phạm Ngọc San có nhiều tâm sự. Ông nhìn lại hành trình sống, đã hoàn thành nhiệm vụ với trách nhiệm công dân đối với gia đình, xã hội. Ông căn dặn từ vợ đến con trai, con gái “giấy rách phải giữ lấy lề”. Phạm Ngọc San trăn trở với những biến đổi làm mất đi vẻ đẹp văn hóa làng quêđã bao đời, từng gắn bó với bao người: “Nắng tãi bê tông nhòa mặt ngõ/Đồng xanh dự án khóibâng khuâng/Tìm đâu giếng nước, cây đa cổ/Ấm bụi tre làng lúc bão giông” (Phố làng). Vật đổi sao dời theo thời gian âu cũng là quy luật, song sự biến đổi lòng người mới là sự trăn trở nhất, ông phải thốt lên: “Phù vân giăng lối đỏ xanh/Phía sau xanh đỏ mong manh kiếp người” (Mong manh).

Phạm Ngọc San làm thơ lúchoàng hôn cuộc đời, song không vì thế mà thơ ông thiếu đi sự lãng mạn. Trái tim nhạy cảm, đa cảmcủa ông mở ra nhiều hướng, thấm những giọt sương mai và đón ngọn gió xuân vào lòng. Ông bồi hồi khithời khắc chuyển mùa, xao động trước heo may thu về. Những bài thơ Gọi mùa, Khúc mưa, Nụ hôn mưatrái mùa, Giọt nắng, Khúc hát dòng sông, Mùa thu tới, Nét thu quê… đậm chất trữ tình, nhẹ nhàngvà sâu lắng. Đây là những câu thơ hay: “Rượu quê/một chén mơ màng/Về đi/trăng ủ tàng tàng men quê”(Đường heo may). “Nhấp nháy trong đêm sao ngà say/La đà sợ lạc mây ngại bay/Đáy chén lung linh, ôi bóng bạn/Uống bạn hay là uống bóng mây” (Đối ẩm)…

Phạm Ngọc San làm thơ để giãi bày lòng mình, nên câu thơ mộc mạc, chân chất, dường như không dụng kỹ thuật, ít được trau chuốt. Những bài thơ trong “Chạng vạng hoa đèn” chủ yếu viết trên giường bệnh, cho thấy tình yêu thơ và nghị lực chiến thắng bệnh tật của ông, thật trân trọng.

Phạm Ngọc San (phải) và Nguyễn Trọng Tạo

Phạm Ngọc San (phải) và Nguyễn Trọng Tạo

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s