CÁCH TÂN TRONG THƠ VIÊT NAM HIỆN ĐẠI


(Trích “CÁC CUỘC CÁCH TÂN VĂN HỌC VIÊT NAM, THỰC CHẤT VÀ BIỂU HIỆN CỦA NÓ” của khoa Ngữ văn ĐHSP tp HCM)

logobut2Sự đa dạng về phong cách và sự phong phú về giọng điệu là đặc điểm nổi bật của thơ Việt sau 1975. Nếu trước đây, Tố Hữu và Chế Lan Viên được coi là những người lĩnh xướng của thơ ca kháng chiến thì sau 1975, hiện tượng này không xuất hiện trở lại. Thay vào đó, mỗi người có cách thể hiện cái nhìn nghệ thuật của mình. Sự gần gũi về quan niệm và phong cách giữa một số nhà thơ có thể hình thành một xu hướng, một phái nhóm chứ không xuất phát từ một phương pháp sáng tác độc tôn nào đó. Chính sự đa dạng và sự “phân cực” về tư duy nghệ thuật, về khuynh hướng thẩm mĩ, về bút pháp và ngôn ngữ là một dấu hiệu cho thấy thơ ca sau 1975 đang sải những bước chân mạnh mẽ trên con đường hiện đại hoá.

a. Nội dung
Cuộc sống thời hậu chiến có quá nhiều điểm khác biệt so với cuộc sống thời chiến tranh. Điều đó đòi hỏi nghệ sĩ phải xác lập vị thế của mình sao cho thích hợp với hoàn cảnh lịch sử mới. Từ chỗ là những ca sĩ ngợi ca đất nước và nhân dân bằng cái nhìn sử thi và cảm hứng lãng mạn, giờ đây các nhà thơ chuyển từ “bè cao” sang “giọng trầm”. Cái nhìn sử thi đã dần phai nhạt và thay vào đó là cái nhìn phi sử thi. Đây là yếu tố hết sức quan trọng khiến cho nghệ thuật giai đoạn này thể hiện tinh thần dân chủ hóa sâu sắc. Cảm hứng nhân bản và sự thức tỉnh ý thức cá nhân đã trở thành nền tảng và cảm hứng chủ đạo của văn học và thơ ca sau 1975.

Nhà thơ không còn bị vướng bận với những kiểu hiện thực chủ yếu và hiện thực thứ yếu, không bị bó buộc trong những khung tư tưởng định sẵn mà cố gắng thể hiện tính đa chiều của hiện thực. Nói đúng hơn, hiện thực trong văn học phải là thứ hiện thực của suy tư. Chỉ một khi nhà thơ nhìn cuộc sống bằng đôi mắt cá nhân, nói lên tiếng nói cá nhân, lúc đó mới hi vọng anh ta tạo nên giọng điệu và tư tưởng nghệ thuật riêng. Tuy nhiên, trong những năm đầu sau khi chiến tranh kết thúc, cần chú ý đến hai mạch chính trong sự vận động của tư duy thơ. Thứ nhất, cảm hứng sử thi vẫn được tiếp nối như một quán tính nghệ thuật. Không phải ngẫu nhiên mà giai đoạn này xuất hiện hàng loạt trường ca có ý nghĩa như những bức tranh hoành tráng tổng kết cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Sự thay đổi trong cái nhìn nghệ thuật trong các trường ca này so với thơ ca thời chống Mỹ là ở chỗ, tuy vẫn mang chủ âm hào hùng, nhưng các nhà thơ đã bắt đầu chú ý nhiều hơn đến bi kịch của con người. Nói khác đi, trong khi cố gắng miêu tả sự lớn lao, kỳ vĩ của Tổ quốc, các nhà thơ đã quan tâm trực diện đến số phận của cá nhân, thậm chí nhiều khi số phận của đất nước được đo ướm bằng nỗi đau của cá nhân:

                              “Một mình một mâm cơm
Ngồi bên nào cũng lệch
Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền”

(Hữu Thỉnh – Đường tới thành phố).

Trong những trường ca này, mặc dù cái bi chỉ là yếu tố để làm nổi bật cái tráng nhưng rõ ràng, cái nhìn về chiến tranh đã sâu hơn, gắn nhiều hơn với những suy tư cá nhân về số phận dân tộc và số phận con người. Thứ hai, trong những năm cuối thập kỷ 70 và đầu những năm 80 của thế kỷ XX, “thơ đời thường” xuất hiện nhiều. Chưa bao giờ các nhà thơ thấy nhiều bi kịch đến thế. Thậm chí, cảm giác bế tắc và chán nản là cảm giác khá nổi bật trong tâm trạng nhiều người: Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi/ câu trả lời thật chẳng dễ dàng chi (Nguyễn Trọng Tạo – Tản mạn thời tôi sống). “Từ xa” nhìn về Tổ Quốc, Nguyễn Duy đã thật lòng nói lên nỗi cay đắng của mình khi nhìn thấy sự khổ nghèo và bất hạnh của con người trong cuộc sống đầy khốn khó. Lưu Quang Vũ cũng cay đắng nghẹn ngào khi nghĩ về Tổ quốc. Các hình tượng nghệ thuật mang tính huyền thoại hóa về một hiện thực kỳ vĩ và cảm hứng sử thi không còn xuất hiện như là hiện tượng nổi bật của thơ ca giai đoạn này. Trái lại, bằng cái nhìn tỉnh táo và giàu màu sắc chiêm nghiệm, nhiều thi phẩm sau chiến tranh đã thể hiện một cách khá riết róng những mặt trái của đời sống, những thay đổi các thang bậc giá trị và không né tránh việc nói đến những bất công xã hội. Đây là những cảm hứng hiếm khi xuất hiện trong thơ 1945- 1975, khi mà số phận dân tộc và số phận cá nhân hòa làm một, cái tôi và cái ta hoàn toàn thống nhất.

Những năm đầu thập kỷ 80, nhà thơ nói nhiều hơn về nỗi buồn nhân sinh, về những cảm nhận của cái tôi trước một thực tại khắc nghiệt. Nếu như trước đây, các nhà thơ dường như e ngại nói về nỗi buồn thì trong thơ sau 1975, nhiều nhà thơ công khai bày tỏ nỗi buồn. Có nỗi buồn về thần tượng bị gẫy đổ, ảo tưởng bị tan vỡ khi nhận ra “Chúa chỉ ghép bằng đất đá” (Nguyễn Trọng Tạo), có nỗi buồn vì cuộc sống mưu sinh làm cho con người chỉ chú ý chuyện tồn tại mà “xa dần truyện bớt dần thơ” (Nguyễn Duy) và có những trắc ẩn về riêng tư, đôi lứa:

                                            “Em chết trong nỗi buồn

                                              Chết như từng giọt sương

                                              Rơi không thành tiếng”

(Lâm Thị Mỹ Dạ)

Như vậy, nhìn một cách tổng quát, thơ sau 1975 đã vận động một cách mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa.Công cuộc đổi mới đã mở rộng cánh cửa giao lưu, hội nhập với thế giới, và thơ ca, trước vận hội này, không thể nằm yên trong mô hình nghệ thuật cũ.
b. Nghệ thuật

Màu sắc duy lí “tỉnh táo,” khá đậm trong thơ cho thấy ý thức tạo dựng nhãn quan nghệ thuật mới của nhiều nghệ sĩ. Ý thức ấy bộc lộ qua hai dấu hiệu cơ bản: thứ nhất, thơ ca đã bắt đầu bứt thoát khỏi những trận mưa trữ tình và sự ngọt ngào thường thấy trong thơ 1945-1975 để tiến đến sự đa dạng với những câu thơ trúc trắc, mang tính đối thoại cao, giọng điệu thơ gần gũi với đời sống thường ngày; thứ hai, cái nhìn tỉnh táo của nhà thơ thực ra là cái nhìn giàu chất suy tư, là bề ngoài của một nỗi đam mê lớn bên trong. Gắn liền với những thay đổi ấy trong cấu trúc tư duy nghệ thuật là vị thế của nhà thơ trong hoàn cảnh mới. Nhà thơ không phải là những người rao giảng đạo đức hay minh họa cho một tư tưởng sẵn có mà phải góp phần đánh thức những khát khao, những niềm trắc ẩn của con người trên cơ sở trình bày cảm nhận của mình về các giá trị.

* Sự đổi mới trong thể loại

Trong thời kì này thơ văn xuôi và thơ tự do phát triển mạnh so với các thể thơ khác. Điều này xuất phát từ những lí do sau: đây là những thể thơ cho phép nhà thơ triển khai ý tự do hơn những phức hợp của cảm xúc cá nhân; thể hiện sự giao thoa thể loại, trong đó đáng kể nhất là ảnh hưởng của chất văn xuôi vào thơ ca; thơ tự do khiến cho giọng điệu thơ không còn êm ái, mượt mà như trước mà trở nên nhịp điệu hơn, mang nhiều tính bất ngờ hơn.Thơ tự do khiến cho các nhà thơ có khả năng tạo ra những cú vặn cấu trúc nhằm gây ấn tượng cho người đọc.

Mặc dù thơ tự do và thơ văn xuôi là hai thể thơ chiếm ưu thế trong thơ ca sau 1975, nhưng trên thực tế, các thể thơ truyền thống như thơ lục bát, thơ 5 chữ, thơ 7 chữ vẫn tồn tại, nhưng so với trước đây các thể thơ trên không còn nguyên bản mà đã có những thay đổi đáng kể về cấu trúc bên trong. Thơ 5 chữ, 7 chữ trước đây gắn chặt với kĩ thuật gieo vần và nhịp điệu thơ thường êm ả. Đến sau 1975 cấu trúc thể loại dựa vào nhịp nhiều hơn vào vần, giọng điệu thơ gân guốc hơn, các liên tương thơ ít tuân theo quan hệ nhân quả. Nhiều bài thơ lục bát được trình bày theo thể thơ tự do. Bên cạnh đó còn thay đổi về giọng điệu, bên cạnh chất giọng suồng sã, đời thường như:

                                        “Con ơi cha mắc bệnh thơ
ú a ú á ù à kinh niên”

(Nguyễn Duy)

Nhiều cây bút lại có ý thức đưa ngôn ngữ đậm chất tượng trưng vào lục bát khiến cho thể loại này không chỉ hồn hậu mà còn có khả năng biểu đạt những tâm thức sâu thẳm của người hiện đại:

“Nắng em nắng đến siêu hình
Như môi như mắt như tình như không”
                                                                            (Hoàng Cầm)

Để không hòa tan với các thể loại khác thơ vừa tìm cách níu giữ những yếu tố hạt nhân làm nên cấu trúc thể loại, vừa mở rộng chính nó để thích ứng với điều kiện môi trường và xã hội mới.Trong thơ văn xuôi và thơ tự do, các nhà thơ vẫn kiên trì giữ vững tính ẩn dụ, đồng thời tổ chức nhịp điệu thơ một cách linh hoạt. Các nhà thơ tập trung vào tổ chức cấu trúc chỉnh thể, xây dựng hàng chuỗi biểu tượng và các biểu tượng ấy nhiều khi không dễ nhận ra bằng sự cảm nhận thông thường. Nó đòi hỏi người tiếp nhận vừa giàu trải nghiệm, vừa phải có khả năng tiếp nhận cái chiêm nghiệm trong thơ.Nhiều khi nhà thơ không tự đứng ra giải thích ,chứng minh mà để cho người đọc tự khám phá.


* Những nét mới trong ngôn ngữ thơ:
Thơ ca sau 1975 không còn êm mượt như thơ ca giai đoạn 1945-1975 mà trở nên trúc trắc hơn, ngôn ngữ thơ phong phú, giọng điệu thơ đa dạng hơn. Nhiều khi tính sáng rõ và trong suất của ngôn ngữ thơ nhiều khi được cố ý mờ hóa nhằm tạo nên tính đa nghĩa trong thơ.Chính sự đa dạng về tư duy nghệ thuật và phong phú về giọng điệu đã khiến cho ngôn ngữ thơ có sự phân hóa cả về bề nổi và cả tầng sâu.

Gắn với cuộc sống thường nhật, không ít nhà thơ có ý thức đưa ngôn ngữ đời thường vào thơ. Nhiều nhà thơ sử dụng cách nói dân gian, khiến cho thơ vừa dễ nhập vào người đọc, vừa có khả năng tạo nên tiếng cười trong thơ:

                                  “Tạnh men là tạnh la đa
Tạnh cơn một bóng ảo ra chính mình
Phàm trần bới chút lung linh
Các em bớt xỉnh xình xinh mấy lần”

(Nguyễn Duy)

Ngôn ngữ giầu chất tượng trưng. Đây là loại ngôn ngữ thường gặp trong những nhà thơ có hướng cách tân, hiện đại hóa thơ, mà tiêu biểu là Lê Đạt, Nguyễn Quang thiều…Lê đạt là một trong những cây bút chủ trương tạo sinh ngữ nghĩa, tỉnh lược từ ngữ tối đa để gia tang tính biểu đạt trong ngôn ngữ và buộc người đọc phải có một “ lỗ tai mới” khi đọc thơ.Ngôn ngữ tượng trưng được nhân lên, màu sắc lạ hóa trong ngôn ngữ trở nên nổi bật có thể thấy rõ đều đó trong một số đoạn thơ của Nguyễn Quang Thiều:

“Trên cánh đồng mênh mông, cỏ không đặt ra nghi lễ bốn mùa
Tôi trở về tìm nơi không có tiếng người, không có bóng cây
Bền bỉ hơn sự lặng im, lưỡi cày tháng riêng thủa trước
Dựng lên những luống đất của cơn mơ, người lạ đến gieo trồng.”
                                                                                       (Độc thoại)

Tất nhiên không phải đến thơ ca sau 1975 thì ngôn ngữ thơ giàu chất hình tượng mới xuất hiện. Ngay từ thời thơ mới loại ngôn ngữ này đã xuất hiện trong thơ của nhiều người như “Nguyệt Cầm” của Xuân Diệu; “Nhạc” của Bích Khuê; “Màu thời gian” của Đoàn Phước Tứ…Nhưng ngôn ngữ giàu chất tượng trưng trong thơ sau 1975 là mang tâm thế của một hành trình văn hóa khác, văn hóa công nghiệp và hậu công nghiệp.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s