QUÁN BIA CHIỀU MƯA LẠNH


Truyện ngắn của NGUYÊN ĐỨC 

Mưa suốt từ sáng. Đúng hơn là từ đêm qua. Ở thành phố này mùa đông thường có những cơn mưa dầm nặng hạt cùng những cơn gió lạnh. Cũng có điều lạ. Lẽ ra mưa gió thế này, người ta nên ở trong nhà. Nhưng ở đây người ta thích tụ tập, thích ngồi ở quán ven đường uống bia hơi, áo ấm kín cổ, ngắm mưa và thỉnh thoảng xuýt xoa kêu rét.

mua2

Đó là quán nhỏ, trong nhà có năm bàn, ngoài hè có mái che thêm bốn bàn. Quán có cái tên khá mỹ miều “Thủy Tiên”, cái tên trước đây vốn là của quán karaoke bị vỡ nợ, chuyển sang bia hơi, hay nói như dân nghiền: bia cỏ. Đồ ăn thì không kể, tùy khẩu vị và túi tiền. Có thể gọi quán hoặc thích thì mang đến. Không thì vài gói lạc rang, dăm cái nem chua. Được cái bia ngon, uống  không đau đầu, uống hết cốc mà bọt vẫn bám trắng từ miệng đến đáy cốc.

Người ta thường hỏi nhau vì sao dân phố này cũng như cả thành phố này thích uống bia hơi như thế. Quán to, chỗ ngồi bạt ngàn, người đông như chợ, xe chở bia ra vào kìn kìn. Quán nhỏ dăm bàn, ngày bán dăm bom. Có lẽ vì người ta đến đây trước hết vì vui, vui vì gặp bạn bè, người quen, vì được nói những câu chuyện vô tư chẳng đâu vào đâu, nhất là uống bia ít say, lâu say, vì thế ngồi với nhau được lâu, nói được nhiều chuyện mà không phải trả nhiều tiền. Nhất là được giao lưu với nhiều người. Hầu như tất cả mọi người đều là thân thiết. Bàn gần thì quay người sang chạm cốc, nói xen, nói đế vào câu chuyện của nhau. Thấy người quen ở bàn xa thì cầm cốc đến, hứng lên thì mời một loạt bia. Còn gì vui bằng. Thêm một lý do nữa là khách uống bia luôn coi chủ nhà hàng, nhân viên phục vụ như người nhà, coi quán là quán nhà, quát tháo thoải mái. Chủ nhà hàng, nhân viên biết mặt, biết tên hầu hết những khách quen, chào hỏi, gọi tên đon đả. Có gì thú hơn là đến quán mà như về nhà, ngồi ở quán mà như ngồi ở nhà. Đấy là nói đại thể. Còn nhiều lý do khác nữa. Cũng có người đến đây để trút những nỗi niềm, nỗi bực dọc, nhưng số đó rất ít.

Hôm nay, có lẽ phần vì trời mưa, phần vì lạnh, bia uống đang vào nên đã hai giờ chiều mà quán Thủy Tiên vẫn còn năm bàn nguyên khách.

Bỗng có tiếng người thét: “Cẩn thận!”. Mọi người đổ mắt nhìn ra phố thì thấy một chiếc xe chở rác cao kều đang ngoắc vào mấy sợi dây điện thoại chăng ngang phố đã bị mưa gió làm chùng xuống, kéo đi một đoạn, may mà kịp dừng. Anh lái xe đội mưa, nhảy lên thùng xe, gỡ cho dây điện khỏi vướng vào cột móc thùng rác rồi vù ga chạy, để lại mấy sợi dây điện bây giờ đã chùng xuống ngang tầm người.

– Cái đồ vô trách nhiệm.

Anh chàng ngồi ở bàn ngoài ngửa cổ tu một hơi hết nửa cốc bia còn lại, dằn cốc xuống mặt bàn nhựa làm mấy chiếc cốc nảy lên đổ nghiêng ngửa, bia chảy lênh láng xuống hè.

– Chúng mày xem, đúng là đồ rác rưởi…kéo thằng bố nó xuống rồi bỏ đi.

– Thôi, không phải việc của cậu. Uống tiếp đi. Chủ quán, cho ba bia!.

Mưa vẫn nặng hạt. Gió thổi mạnh làm mấy sợi dây điện đong đưa rất vui mắt. Bây giờ mọi người ngồi trong quán bia, ngoài niềm vui uống bia, còn có thêm một niềm vui nữa: hào hứng quan sát xem điều gì sẽ xảy ra với người đi đường, với mấy sợi dây điện. Tất cả đều quay ghế ngồi nhìn ra phố.

– Bắt đầu rồi…!

Một cậu thanh niên đang bá vai bạn gái kêu lên vì từ xa có chiếc xe đạp của người đồng nát đang tới. Đó là một phụ nữ, nón che không thấy mặt. Sau xe, đồ đồng nát chất vượt cả đầu, chủ yếu là hộp giấy. Chắc vì giấy bị mưa  ướt nên nặng, lại vì gió ngược chiều nên chị gò lưng cố đạp. Cả quán giương mắt, nín thở, hồi hộp chờ. Quả nhiên chị đồng nát sập bẫy: vì cúi đầu để nón che mưa khỏi tạt vào mặt nên chị không nhìn thấy dây điện. Chị bị nó ngoắc vào cổ, xe nặng nên chân không chống kịp, ngã nhào xuống đường. Cả quán đứng bật lên, vỗ tay, cười hô hố.

Ngoài phố, chị đồng nát đang loay hoay dựng chiếc xe đạp lên nhưng xem chừng rất khó khăn vì đống giấy nặng đã bị kéo lệch ra khỏi yên xe, đè lên bánh sau. Chị đứng trong mưa, đầu trần vì chiếc nón bị đứt quai, rơi xuống đường mà chị không thèm nhặt, bất lực nhìn vào quán cầu cứu. Mọi người vừa tiếp tục uống bia, vừa tiếp tục quan sát xem chị đồng nát làm cách nào để dựng chiếc xe lên.

Bỗng cô bạn gái của cậu thanh niên hất tay cậu ta ra khỏi vai, chạy ra phố. Cậu thanh niên la to:

– Em ơi, uớt hết bây giờ.

Rồi cậu chạy ra lôi cô gái vào quán. Cô gái xô cậu ta ra, gập người lần tìm đầu dây cao su chằng đống giấy. Bỗng cô hét lên một tiếng, ngã phịch xuống đường, hai tay ôm mặt. Thì ra đầu dây cao su có móc sắt buộc đống giấy bị tuột ra, bật đúng mặt cô gái, máu chảy lòa lện. Sau thoáng hốt hoảng, cô để mặc cho máu hòa với nước mưa chảy đầy khuôn mặt thanh tú của mình, tiếp tục công việc như không có gì xảy ra. Chị đồng nát xua tay bắt cô vào quán nhưng cô không chịu. Cô và chị đồng nát gỡ hết các hộp giấy ra, dựng chiếc xe lên.

Đến bây giờ mọi người trong quán như chừng biết lỗi. Vài người chạy ra giúp chị đồng nát. Mấy người dìu cô gái vào quán, hô nhau tìm bông gạc băng vết thương, lau mặt cho cô.

Chị đồng nát đi rồi. Cô gái cũng đứng lên. Mặc cho trời mưa, cô bước ra phố, đi thẳng. Cậu thanh niên bị bất ngờ, im bặt, đứng ngây người nhìn theo.

Bây giờ không khí có vẻ trầm lặng. Mọi người vẫn kêu thêm bia, vẫn uống nhưng không hò hét nữa. Ngay cả chiếc bàn ở góc quán, nơi mấy tay nghiền ngày nào cũng ngồi, cả quán gọi là “bàn nghệ sỹ”, lúc nãy cao hứng đọc thơ, gõ đũa hát, bây giờ cũng im. Tuy vậy, tất cả thỉnh thoảng vẫn đưa mắt nhìn ra phố vì mấy sợi dây điện vẫn là cái bẫy hấp dẫn. Bây giờ chúng bị chùng  thêm gần sát đường. Bỗng có người kêu lên:

– Mùi mắm tôm đâu mà khắm thế ?

– Đúng mùi mắm tôm, mắm tôm ở đâu thế ?

– Bà chủ ơi, đậy ngay cái hũ mắm tôm lại, nổ mũi mất rồi.

Bà chủ và mấy cô nhân viên thấy khách kêu, hớt hải chạy ra:

– Nhà hàng làm gì có mắm tôm…

Chợt một cô nhân viên kêu ầm lên:

– Ôi, mắm tôm đâu mà đầy sàn thế này?

Bây giờ cả quán mới để ý đến chiếc bàn ở góc đối diện với “bàn nghệ sỹ”. Một ông già chừng ngoài sáu mươi đang ngồi một mình với gói thịt chó chặt ăn dở, gói bằng lá sen. Trông ông không hẳn khắc khổ, không hẳn phong lưu. Quần trắng, áo trong màu sẫm, ngoài khoác áo ghi lê nhiều túi. Khuôn mặt hơi gầy, thậm chí má hơi hóp. Trán có nhiều nếp nhăn hằn sâu. Đặc biệt đôi môi thâm sì, khi mím lại thì như một đường chỉ kẽ thẳng. Mọi người hiểu ra ngay: gói mắm tôm bắn tung tóe dưới sàn kia là của ông, do ông vứt xuống. Một tay ở “bàn nghệ sỹ” đứng bật lên, gọi hai cốc bia mới rồi hai tay cầm hai cốc, tiến thẳng về bàn ông già. Mọi người nhìn và đoán: phen này lão già chắc chắn sẽ nhận được một bài học đích đáng nhớ đời. Bỗng nhiên, anh “nghệ sỹ” đứng khựng lại như trời trồng vì thấy ông già điềm nhiên thò tay vào túi rút ra một điếu thuốc lá xì gà to bằng ngón chân cái, dài đến hơn gang tay, gọi mượn cái kéo, cắt bớt đầu ngậm rồi ung dung châm lửa. Ông già bập bập điếu thuốc, nhả khói liên tục. Cả quán như bị thôi miên trong mùi thuốc thơm, trước dáng vẻ quý tộc của ông già. Rồi ông đứng lên, nhặt gói mắm tôm còn non nửa, khoan thai bước ra phố, buộc nó vào dây điện giữa đường. Miệng vẫn bập bập điếu xì gà, ông quay mặt vào quán, nhổ một bãi nước bọt  rồi lững thững đi về cuối phố. Bây giờ mọi người mới thấy ông đi giày trắng.

Không khí càng trầm hơn nhưng mọi người vẫn uống. Tay ở “bàn nghệ sỹ” với hai cốc bia đã quay về bàn của mình, gục đầu xuống bàn, không biết vì say hay vì buồn ngủ. Rồi anh ta bỗng bật dậy hỏi to:

– Đố ông nào biết, thằng cha ấy là thằng nào?.

Cả quán không ai biết ông già vứt mắm tôm lúc nãy là ai. Anh chàng ngồi ở bàn ngoài lúc đầu mắng xe chở rác nói: hình như lão nghỉ hưu. Tay “nghệ sỹ” vỗ đùi:

– Đúng rồi. Chắc hẳn là lão nghỉ hưu.

Rồi hắn đứng giữa quán, hươ tay:

– Tôi nói cho các vị biết nhé. Hưu có năm loại. Thứ nhất “hưu vui”. Hưu vui thì dễ hiểu, lúc nào cũng vui vẻ, tốt. Thứ nhì, “hưu cày” tức là về hưu rồi mà vẫn phải đi cày hoặc vẫn tham nên cố cày. Thứ ba, “hưu hắt”, nói chệch đi là “hiu hắt”. Loại này khổ vì ốm yếu, bệnh tật, suốt ngày buồn rầu, ủ rũ chờ đi Văn Điển. Loại thứ tư là “hưu vượn” tức là “hươu vượn”. Tôi đố các vị loại này là loại người thế nào. Ai nói đúng thưởng ba vại bia.

Cả quán hào hứng tán thưởng, hưởng ứng bằng những tràng vỗ tay, những tiếng “dô, dô”, những tiếng chạm cốc. Nghe tay “nghệ sỹ” hỏi thế, cậu thanh niên bị bạn gái bỏ đi, nãy đến giờ ngồi im như lánh khỏi cuộc nhậu chợt lên tiếng:

– Chắc là loại nói năng huyên thuyên, suốt ngày chém gió chứ gì.

Nghe thế, tay “nghệ sỹ” chạy đến trước mặt cậu thanh niên, chắp hai tay trước ngực, cúi người vái ba vái:

– Lạy cụ. Lạy cụ. Chủ quán…thưởng ba bia!.

Rồi hắn lại quay lại với đám đông:

– Tôi xin tôn chú em này làm sư phụ. Đúng thế. Hươu vượn là loại bất đắc chí, khi nào cũng thấy mình thua thiệt, không bằng người nên phát ngôn  lung tung, chửi bới lung tung. Nói tóm lại, như chú em này nói là chém gió. Tôi cho rằng lão lúc nãy là “hưu vượn”, mặc dù chưa nghe ông ta chém gió.

Hình như đã mệt, tay “nghệ sỹ” dắt tay cậu thanh niên, lảo đảo quay về bàn:

– Vào đây. Sư phụ vào đây nhập hội với bọn tôi. Hươu vượn…hươu vượn. Khá thật …hươu vượn…

– Thế còn loại hưu cuối cùng là gì…là gì? – Cả quán nhao nhao hỏi.

Tay “nghệ sỹ” khoát tay:

– Để bữa bia sau. Thưởng năm cốc mới nói tiếp.

Bỗng xuất hiện một cậu bé đánh giày. Cậu vừa men theo hè phố tránh mưa đến quán. Đến từng bàn, cậu bé gập người, chìa đôi dép nhựa cho từng người, giọng van nài:

– Đánh giày chú. Đánh giày chú.

Người thì ngẩng lên nhìn nó, mắt lạnh tanh tỏ ý bảo đừng quấy rầy. Người thì tỉnh bơ, không thèm để ý. Đến bên tay “nghệ sỹ” giờ lại gục đầu xuống bàn, thằng bé giở thêm ngón khác:

– Chú mệt à? Cháu đấm lưng cho chú nhé?

Tay “nghệ sỹ” vụt ngẩng đầu lên, nhìn nó:

– Cái gì? Mấy tuổi rồi? Quê ở đâu?

Tưởng cá cắn câu, nó đáp nhỏ nhẹ:

– Dạ, cháu mười hai tuổi ạ. Quê cháu ở Thanh Hóa.

– Sao lại bỏ học đi đánh giày? Về đi học đi. Không học thì làm được cái gì. Đánh giày suốt đời à?

– Dạ, trường cháu bị sập, bọn cháu được nghỉ học nên cháu theo mẹ ra đây. Khi nào trường sửa xong, cháu lại về đi học.

Tay “nghệ sỹ” hơi bị cụt hứng, khoát tay:

– Ra kéo mấy cái dây điện kia lên. Tao cho mỗi dây mười nghìn.

Mọi người trong quán hùa theo :

– Phải đấy. Thằng này làm được đấy.

Có lẽ bây giờ thằng bé mới nhìn thấy mấy sợi dây điện đang lõng thõng ngang phố. Nó hiểu ra yêu cầu. Mấy sợi dây điện được chăng qua phố bằng hai chiếc cột xi măng. Người nó bé và nhẹ, leo lên cột điện kia, rút mấy sợi dây điện cho căng, tìm cách buộc chúng lại, dễ ợt. Nó để hộp đồ nghề đánh giày xuống thềm quán, chạy qua cột điện dễ trèo hơn phía bên kia phố, xăng xái định leo lên. Bà chủ nhà đang đứng ngắm mưa ở thềm hiểu ra sự tình, quát:

– Này, đừng có trèo. Nhỡ rơi chết trước cửa nhà bà thì bà bị vạ à!

Nó quay về quán, ngửa mặt trông lên đám giây chằng chịt trên cột điện trước cửa quán. Nó biết có trèo lên cột điện này thì chủ quán cũng chẳng cho. May là bên cạnh cột điện có một cây hoa sữa. Không chần chừ, nó nhảy phốc lên, ôm lấy thân cây hoa sữa, thoăn thoắt trèo. Đến ngang tầm chỗ buộc dây điện thì không có chỗ cho nó đứng để kéo. Phía trên có một cành to. Nó liền đu người, ngoắc tréo hai cổ chân vào cành hoa sữa đó, treo mình như con khỉ, với tay lần lần từng dây, rút lên. Một dây. Hai dây… Mọi người trong quán hét:

– Căng chút nữa. Căng chút nữa.

Cuối cùng thì việc cũng xong. Thằng bé nhảy xuống đất. Mặt nó đỏ rần, đỏ hơn cả mấy người đang say bia trong quán. Nó xoa tay cho sạch rồi vuốt nước mưa trên tóc, trên mặt, đứng nhìn tay “nghệ sỹ”, nhìn mọi người, vừa có ý hãnh diện, vừa chờ đợi. Tay “nghệ sỹ” chống tay đỡ cằm, ngó lơ lên trần nhà. Hầu hết mọi người cũng hoặc là vờ đưa cốc bia lên môi nhâm nhi, hoặc vờ say gục đầu xuống bàn. Thằng bé đứng mãi. Cuối cùng chắc vì không chịu được sự im lặng, tay “nghệ sỹ” quát:

– Mày đứng đó làm gì ?

Mọi người nhao nhao:

– Đi đi. Đi đi để bọn tao uống bia.

Thằng bé giật mình nhưng vẫn đứng. Mắt nó ráo hoảnh, trân trân nhìn mọi người. Một người đã có tuổi đứng lên, chống nạng đi ra, rút ví đưa cho nó mười ngàn. Thằng bé lắc đầu. Giọng một người hơi lè nhè:

– Đừng sỹ diện… cầm lấy…cầm lấy…cho thì cầm lấy…

Giọng người khác:

– Chê ít à? Bằng công đánh một đôi giày rồi.

Người vừa đưa mười ngàn lại rút thêm mười ngàn. Thằng bé vẫn lắc đầu.

Thấy vậy, tay “nghệ sỹ” bước ra, túm cổ áo thằng bé:

– Oắt con, mày muốn gì? Hả? Mày muốn gì?

Thằng bé không có vẻ sợ hãi nhưng nó bật khóc:

– Cháu muốn…muốn chú và mọi người cảm ơn cháu…

Mọi người trong quán nhìn nhau: nó có làm gì cho mình đâu mà cảm ơn nó nhỉ?

Chờ một tý, không thấy ai nói gì, thằng bé xách hòm đồ nghề bước đi theo hướng lúc nãy nó vừa đến quán. Và người vừa cho thằng bé tiền cũng  lóc cóc chống nạng cố đuổi cho kịp nó.

Mưa lại nặng hạt. Và một cơn gió lạnh lại thổi.

Tây Hồ, tháng 3 năm 2014

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s