NHỚ PHÙNG QUÁN VÀ DOÃN TRANG


NGUYỄN SỸ HOÁ

Nhà văn Phùng Quán

Nhà văn Phùng Quán

Tôi ít tuổi hơn các anh, sinh ra trên mảnh đất nghèo khó, vả lại bố mẹ nghèo có một không hai trong xóm nhỏ ở “ thôn Đồng Tâm, xã Quỳnh Hậu, Quỳnh Lưu, Nghệ An.”

Không có năng khiếu âm nhạc, thơ ca nhưng tôi vô cùng yêu mến và kính trọng những nhạc sĩ, nhà văn, nhà thơ… nổi tiếng mặc dù chưa một lần gặp.

Những năm tháng học Đại học Y Hà Nội ( 1970 – 1976), phần lớn thời gian trọ, sơ tán trong những lán trại, nhà dân ở Bình Đà, Thượng Thanh( Hà Tây), Thanh Thuỷ( Phú Thọ)… cũng không có điều kiện được tiếp xúc với văn học, nghệ thuật nhiều…

Ra trường, tôi xung phong về công tác tại “ Trại Phong Quỳnh Lập”, gần nhà để có điều kiện giúp đỡ gia đình.

Về Quỳnh Lập, một cơ sở điều trị bệnh phong lớn trực thuộc Bộ Y Tế, tôi có điều kiện được tiếp tục học chuyên môn, ngoại ngữ ở Hà Nội. Nhất là sau khi được cử làm Giám Đốc khu điều trị Phong Quỳnh Lập năm 1985, tôi có điều kiện đi công tác ở Hà Nội luôn. Rứa là cái “ duyên phận” hay may mắn, tôi được gặp các Anh: Nguyễn Kế Nghiệp, Doãn Trang ( hồi đó mọi người thường gọi Chương Voi), Đào Ngọc Chung, Hoàng Lân, Hoàng Long, Nguyễn Giang, Tố Uyên (vợ Lưu Quang Vũ).… Trong số bạn bầu, anh em.. tôi có điều kiện được gặp các anh Kế Nghiệp, Doãn Trang, Hoàng Long, Hoàng Lân nhiều hơn…

Anh Nghiệp ngâm thơ “cực hay”, hát nhạc tiền chiến, nhất là những bài của Đoàn Chuẩn, thơ Hữu Loan cùng với chị Lưu Nga (mẹ ca sĩ Bằng Kiều). Doãn Trang thì hát ca trù “thôi rồi”.. đặc biệt ngâm bài thơ “ Bài ca Nguyễn Văn Trỗi” của Phùng Quán. Doãn Trang nghèo lắm, nhưng sống vô tư, thậm chí lãng tử. Doãn Trang học chuyên nghành Lý- Hoá tại Đại học Bách Khoa, thế mà cứ “lang thang theo nghiệp văn chương, nhưng thơ văn không đâu vào đâu, chỉ “dẻo mỏ” thôi, hai bà vợ, các con của anh cũng ngán ngẩm, xa anh. Anh thường kể với tôi về chuyện Anh Phùng Quán, Dương Trung Quốc, và một số bạn bè thân của Anh.

Nghe đến Phùng Quán, tôi “chớp” luôn: “Hôm nào anh cho em gặp Phùng Quán với được không, em ngưỡng mộ ông ấy lắm, ngày học cấp ba phổ thông (1968- 1970) sách văn học hiếm lắm, muốn đọc Victohuygo, Thép đã tôi thế đấy, Vượt côn đảo… khó lắm.”

Thế là Doãn Trang dẫn tôi lên nhà Phùng Quán sau đó hai ngày. Ba anh em ngồi chuyện trò rôm rả lắm, mặc dầu được gặp Anh Phùng Quán lần đầu, nhưng trước đó Doãn Trang đã “bốc” về Sỹ Hoá rất nhiều, nên Anh Phùng Quán cũng coi tôi như người đã quen biết từ lâu. Gần như cả buổi hôm đó chỉ dành cho thơ ca và những chuyện tiếu lâm của hai Anh, nhưng tôi xúc động nhất là bài ca Nguyễn Văn Trỗi của Phùng Quán viết sau khi Liệt Sĩ Nguyễn Văn Trỗi mới hy sinh được mấy ngày. Nội dung bài thơ hay, vừa có tính thời sự, vừa xúc động, mất mát, đau thương bởi sự tàn khốc của chiến tranh.

Doãn Trang muốn “khoe” với Anh Phùng Quán giọng ngâm của mình, tôi biết lắm, Anh đọc qua một lượt rồi thả hồn vào bài thơ với giọng ngâm đầy cảm xúc. Không hiểu sao, Doãn Trang vừa ngâm, tôi vừa khóc, khóc như đứa trẻ lên năm. Doãn Trang dứt lời, tôi ôm Phùng Quán, cứ thế khóc và nghẹn trong câu hỏi: Anh Phùng Quán? bài thơ từ gan ruột Anh ra, cách mạng thế này, yêu đồng đội thế này mà tại sao họ “kết anh là nhân văn giai phẩm”. Thực sự hồi đó tôi chưa hiểu hết “ nhân văn giai phẩm” là thế nào? Chỉ biết Anh bị đưa đi cải tạo ở vùng Thái Nguyên. Rồi Phùng Quán nhỏ nhẹ nói với tôi “Cảm ơn chú, xúc động quá đó, thôi đi!!” Rồi Phùng Quán muốn xua đi cái không khí buồn của quá khứ, thủ thỉ giọng Huế, Anh kể?

Hoá biết không, cách đây mấy tuần có ông bạn từ miền Nam ra thăm mình. Vừa vào nhà, biết mình hay uống, anh ta bảo: “có gì nhắm không Anh? May quá, mình mới câu được con Ba ba ở Hồ Tây khoảng hai, ba cân gì đó, không có rượu nên cứ nhốt trong chum mấy ngày ni, chắc nó gầy lắm rồi”. Phùng Quán nói trong giọng buồn buồn vì thiếu chất cay.

Ông bạn hỏi “tại sao không có rượu? em mà có con Ba ba to thế này, em không thể để một giây…” Phùng Quán cười “mi ra mà mua rượu, tau hết tiền lâu rồi, in chui được mấy bài, chúng đã trả tiền cho mô”. Rồi ông bạn hỏi “mua rượu ở quán nào để em đi”. Quán bà già ngay đầu ngõ. Anh bạn cầm chai một lít ra mua rượu, đúng quán này rồi, bà già lớn giọng “Lại mua rượu cho ông Phùng Quán chứ gì? Tôi không bán chịu nữa đâu, đấy anh nhìn xem, nhìn cái cột kia kìa, chịu gì mà gạch kín cả cột không thèm trả, ai mà chịu nổi ông ấy, có thì uống, không có thì thôi, chịu, chịu, chịu, anh về đi…” (chả là, mình quy định với bà ấy, cứ một hươu là gạch một gạch, một ô vuông là một lít – kín cả cột rồi thì biết bao nhiêu thẩu?) Rồi ông bạn nhỏ nhẹ với bà cụ, “cháu trả tiền ngay, còn Anh Quán chịu, cháu sẽ bảo Anh ấy trả sớm cho bác”.

Rứa là có bữa nhậu say tuý luý. Trong cơn say, thằng bạn tìm cái khăn ướt đi một mạch ra cổng bà già, leo qua tường, chó sủa, chờ mãi, chó đi ngủ mới leo qua được tường lau hết sạch các ô trên cột. Về nhà, ông bạn bảo “Em trả nợ tiền rượu cho anh hết rồi”. Phùng Quán cười ha hả, cảm ơn chú lắm, nếu chú không ra, biết khi nào tui trả hết được, hết bao nhiêu chú?. Anh cứ yên tâm – không phải lăn tăn, anh ta trả lời trong giọng đầy khảng khái. Hai thằng ngủ một giấc ngon lành đến chín giờ sáng. Đói, sờ vào nồi vẫn còn cơm và nửa nồi thịt Ba ba. Ra làm một xị nữa mày, vâng em đi ngay.

Vừa ra đến quán, bà già chửi té tát “Thằng Quán xoá của tao chứ gì, không ai vào đây cả, không có thì xin, chứ làm trò đểu này, tao sẽ rêu rao khắp khu phố này, nó sẽ không dám đi đâu đâu…”

Ông bạn bảo “bác cứ bình tĩnh – đâu còn đó. Rồi ông bạn thú thật “Tối hôm qua cháu xoá đó –bao nhiêu cháu trả. Cháu đùa Phùng Quán cho vui thôi. Bà già như nở gan, nở ruột “mọi ngày cứ đầy một cột này là hai, ba trăm đồng gì đó”. Ông bạn rút ra năm trăm… rứa là bà già cười khì khì. Hôm sau gặp tui, bà ấy cười như mới trúng xổ số, thằng bạn anh thoáng thật, đúng là dân Anh Hai…

Chờ mãi, Phùng Quán kể chuyện, rồi như một phản xạ, tôi “bắt” Doãn Trang đọc lại “Bài ca Nguyễn Văn Trỗi” và một mạch tôi chép vào tờ giấy nháp. Về nhà cẩn thận chép vào sổ nhật ký của tôi, đến nay những nét chữ vẫn nguyên vẹn trên ba trang giấy đã úa vàng theo thời gian.

Mấy hôm sau, tôi lên phố Hàng Bài mua một Catsette và mấy cuốn băng mới. Về nhờ Doãn Trang ngâm lại để ghi và sao lại nhiều băng cho người thân, bạn bè nghe…

Hôm đưa tang Phùng Quán, tôi không được dự vì không thể về kịp sau chuyến đi công tác xa. Mấy hôm sau tôi lên nhà thắp hương khấn Anh, tôi cũng nhắc lại bài thơ này trước vong linh Anh và sau đó gửi lại chị Trâm. Đọc xong, chị Trâm (vợ Phùng Quán) bảo “Cũng rơi rớt đôi câu, đôi từ nhưng cơ bản là được”

Anh Doãn Trang ơi! Hôm em ngồi nhậu với bạn bè của Lê Gia Vinh (bạn học cùng thời Đại Học Y) có cả Dương Trung Quốc, Đặng Vũ Minh (con trai thầy Giáo Sư Đặng Vũ Hỷ)… Anh Quốc có nhắc đến Doãn Trang. Anh Quốc nói: thực ra Doãn Trang chơi thân với anh tôi, nhưng tôi quý Doãn Trang lắm, người hiểu biết nhiều, tâm hồn, tính cách nghệ sĩ hơn là nhà khoa học”. Trong men say, em ngâm một đoạn thơ Phùng Quán, nhưng một phần giọng không hay, một phần không nhớ hết bài thơ. Nghĩ mình có lỗi với các Anh, thế là hôm sau em lục suốt cả buổi, may quá còn nguyên vẹn bài thơ:

Bài ca Nguyễn Văn Trỗi

Ơi cô! ơi bác, ơi chị, ơi anh
Ơi trái dừa xanh, ơi con chim trắng
Ơi dòng sông nắng, ơi ngọn núi mưa
Ơi tím hoa cà, ơi vàng nong kén
Ơi mù động biển, ơi mây Trường sơn
Ơi Cửu long giang, ơi trang sách mở
Ơi khăn quàng đỏ, ơi ngó sen hồng
Ơi gậy tầm vông, ơi đồng hợp tác
Ơi thơ, ơi nhạc, ơi, ơi, ơi ơi!

Ai muốn tìm chi? thì tôi xin chỉ
Ai muốn tìm đất, lên vùng khai hoang
Ai muốn tìm non, thì lên Việt Bắc
Tìm rừng chôn giặc, thì vào Tây Nguyên
Tìm buồm, tìm thuyền thì đi ra biển

Muốn tìm mùa xuân thì theo cánh én
Tìm trăng kháng chiến thì vào miền nam
Tìm người trung kiên, gan vàng dạ sắt
Bốn phía thù vây, hai tay trói chặt
Mười họng súng giặc chỉa thẳng vào tim
Vẫn lấy niềm tin làm gươm chém trả
Lấy mắt làm lửa, tiếng nói làm cờ
Tấn công kẻ thù, thì tìm anh Trỗi

Ơi ai muốn tìm người thợ VIỆT NAM
Như muôn người khác,
Rất mực bình thường
Như tre đầu thôn
Như dừa cuối ngõ
Như tên trên nỏ
Như cây giữa rừng
Như gậy tầm vông
Như chông chờ giặc

Vì yêu sâu sắc
Vì thù nấu nung
Không muốn nhân dân
Sống quỳ , sống khổ
Chiều hôn tóc vợ
Đêm ra chiến trường
Sống thì xả thân
Chết thì chiếu sáng
Thì tìm Anh Trỗi
Ơi ai muốn tìm người thợ thanh niên
Mặt như gương rọi
Hạnh phúc vừa hái
Cầm chưa ấm tay
Vợ yêu chăn gối
Tuần trăng chưa đầy
Nghe nhiệm vụ gọi
Dưới cờ có ngay

Cần thì nhẫn cưới kéo thành dây bom
Cứu nguy đồng đội
Cực hình nhận phần
Đánh cầu không thắng
Thì đánh pháp trường
Biến cọc xử bắn, thành luỹ tấn công

Trên nắp áo quan, cắm cờ quyết thắng, thì tìm anh Trỗi
Anh Nguyễn Văn Trỗi
Anh Nguyễn Văn Trôi
Anh Nguyễn Văn Trội
Cả ba cách gọi
Đều là gọi anh

Như hoa, như huê, đều là thơm ngát
Như đàn như đờn đều ngân tiếng nhạc
Như hận, như hờn đều là bất khuất
Như nỏ như ná đều là giết giặc Trang 5
Như biển, như bể đều là mêng mông
Như hường, như hồng đều sắc cờ Đảng
Như đào, như điều đều là nhiễu thắm phủ lấy giá gương

Ơi cô! ơi bác, ơi chị, ơi anh
Ơi ai muốn tìm Anh Trỗi, Anh Trội
Trở ra nghĩa địa
Tìm mồ cỏ xanh
Cây thập tự trắng
Cái quan tài xanh
Một người như Anh
Chúng chôn sao nổi
Không chôn nổi núi mẹ, núi con…
Đến ngọn Trường Sơn
Chúng chôn sao nổi
Huống là chôn Anh
Anh Nguyễn Văn Trỗi
Anh Nguyễn Văn Trôi
Anh Nguyễn Văn Trội
Cả ba tên gọi
Đều là gọi Anh

Anh Doãn Trang ơi!

Tối qua (30.4.2014), em ngâm lại bài thơ “Bài ca Nguyễn Văn Trỗi” cho cả nhà nghe, mọi người rưng rưng nhớ về quá khứ tàn khốc của cuộc chiến tranh đeo đuổi gần nửa cuộc đời của những người còn sống sót đến bây giờ. Nhớ đến các Anh Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Viết Xuân và biết bao đồng đội, đồng bào hy sinh ..trong cuộc chiến kéo dài hàng thế kỷ qua. Rồi em nghĩ lại ”Giá như Doãn Trang còn sống nhỉ, Anh sẽ ngâm cho mọi người nghe, họ sẽ khóc nhiều hơn…”

Doãn Trang ơi! Sao anh lại ra đi sớm thế, những ngày này em nhớ Kế Nghiệp, nhớ Anh, nhớ Phùng Quán, nhớ Lê Công Cần…không lời nào tả hết được…

Thôi cũng một kiếp người, ai rồi cũng phải ra đi. Nhưng Anh ra đi sớm quá. Người ta thường bảo đại ý: “ người bạn trong khó khăn mới thực sự là người bạn”

Ngày ấy cả hai ta cùng khó khăn, vẫn có nhau, vẫn đem lại cho nhau những giá trị tinh thần không gì mua được. À, em còn nhớ lại, những ngày cuối, Anh nằm điều trị tại Bệnh Viện Việt Đức. Anh gầy da bọc xương bởi căn bệnh ung thư di căn, chị Dĩnh (vợ Anh, làm kế toán Bệnh Viện Việt Đức) chăm Anh. Vợ chồng em đến thăm Anh, Anh bảo: “Anh sẽ đi thôi Hoá, Thuỷ ơi! không sống được nữa với các em rồi”. Rồi Anh dàn dụa với những giọt nước mắt yêu thương, tiếc nuối. Em cũng là thằng mu khóc, nhưng cố nén và động viên Anh một câu của Phùng Quán khi em lên thăm Anh ấy những ngày cuối như Anh “Hoá ơi! Anh gần được xuống uống rượu với dòi bọ rồi”

Với giọng vừa nói vừa cười trong tiếng thở hổn hển của căn bệnh gan hiểm nghèo. Thế mới biết Phùng Quán coi cái chết như thế nào!

Mấy ngày sau, Phùng Quán ra đi. Nghe nói bạn bầu tưới rượu lên mộ Anh nhiều lắm.

Anh Doãn Trang ơi! Sau một năm ở nước ngoài về, em đến thắp nén hương thơm thương nhớ Anh. Chị Dĩnh kể lại trong chớp chớp của những giọt nước mắt không thể nào nuốt vào khúc ruột đớn đau, yêu thương, không gì bù đắp được: Chú Hoá, cô Thuỷ ơi! Hôm vợ chồng em lên thăm Anh, chú “cho” mấy xê xê mật gấu để anh uống cho đỡ đau. Anh bảo, “cám ơn các em, anh sẽ uống”. Thế mà các em ra về, anh ấy bảo “bán đi em ơi, thế nào anh cũng chết, anh chịu được mà, bán đi để có mấy đồng…” Chị Dĩnh kể lại mà tôi lại dâng trào trong nỗi nhớ Doãn Trang. Hoá ra mấy tháng trước mình đưa cho ông ấy mấy chục xê xê ông đều bán hết, ông này giỏi thật, biết trước cái chết của mình. Trời không cứu được, mật gấu là cái gì.….

Anh Phùng Quán ơi! Doãn Trang ơi! Rồi sẽ có một ngày chúng ta cùng nhau uống rượu với dòi bọ đó, không thoát được mô…Chúc các Anh yên giấc ngàn thu – Nhớ, Nhớ lắm!

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s