NGÔ QUANG XUÂN – TỪ NEW YORK ĐẾN GENEVA


Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan và ông Ngô Quang Xuân tại trụ sở LHQ tháng 11-1999

Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan và ông Ngô Quang Xuân tại trụ sở LHQ tháng 11-1999

NTT: Sáng nay, hai ông bạn học tuổi thơ là Đại sứ Ngô Quang Xuân và Ks Cao Thanh Lịch đưa vợ chồng GS Cao Cự Bội đến thăm mình. Thầy Bội thì nhiều người biết vì thầy là người khởi xướng “liệu pháp sốc ngân hàng” đẩy lãi suất lên tới 12%- 18%/4% để cứu đồng tiền VN thoát khỏi lạm phát thời “đổi mới” và là tư vấn kinh tế cho TBT Đỗ Mười và TT Võ Văn Kiệt khi đang đương nhiệm. Nhưng vợ thầy – cô giáo Liêm – thì chỉ bọn tôi, những người học trò của cô thời nhỏ là biết rõ, vì cô rất cưng chiều “bọn học trò nghịch ngợm” bọn tôi. Cô bảo, đã 75 tuổi rồi mà cô vẫn thấy tự hào về những đứa học trò như thế. Bạn tôi, có người cả cha con dâu rể đều là học trò của thầy ở Đại học Kinh tế quốc dân. Bố con tôi cũng có may mắn được làm học trò của cô, thầy. 

Trong bữa cơm trưa, Ngô Quang Xuân ôm cây đàn guitare hát những bài hát do anh sáng tác. Những bài hát thật tình cảm và “chuyên nghiệp”, vì anh từng học thêm chương trình âm nhạc ban đêm thời còn học đại học ở Liên Xô (cũ). Giọng hát của anh ấm áp và truyền cảm. Anh kể, thời còn làm Đại sứ ở Thuỵ Sĩ, anh đã hát “Khúc hát sông quê” cho Việt kiều nghe vào dịp đón Tết và đã lấy được nước mắt của nhiều người. Còn công việc ngoại giao thì từ khi làm Đại sứ tại LHQ ở Mỹ anh luôn thấy phức tạp, phải cần sự nhạy bén để xử trí các tình huống bất ngờ. Nhưng anh đã kiên trì, và trở thành vị đại sứ quan trọng nhất trong quá trình đưa VN gia nhập WTO thắng lợi. Anh cũng được mệnh danh là “đại sứ huyền thoại” của nền ngoại giao đa phương với cống hiến của mình; từ tháng 7.2011, anh đã được Nhà nước sắc phong “Đại sứ suốt đời”. Dưới đây là một bài viết về Ngô Quang Xuân, người bạn mà chúng tôi luôn tự hào.

Từ trái sáng: Cô Liêm, thầy Cao Cự Bội, NTT, Cao Thanh Lịch, Ngô Quang Xuân.

Từ trái sáng: Cô Liêm, thầy Cao Cự Bội, NTT, Cao Thanh Lịch, Ngô Quang Xuân.

Đời đại sứ từ New York đến Geneva

VÕ VĂN THÀNH

TT – Nhắc đến ông Ngô Quang Xuân, nhiều người nhớ ngay đến vị đại sứ đã góp công lớn trong quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) của Việt Nam, và là thân sinh của hoa hậu thế giới người Việt đầu tiên Ngô Phương Lan. Trong cuộc đời đi sứ của mình, ông Ngô Quang Xuân còn có gần bảy năm ở New York (Mỹ) với trọng trách đại sứ Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc (LHQ).

Bơi ra biển lớn

Nghe chất giọng xứ Nghệ vẫn đậm đặc sau nhiều năm xa quê của ông Ngô Quang Xuân, chúng tôi hỏi ra mới biết ông thuộc dòng dõi những sứ thần nổi tiếng trong lịch sử nước nhà, đó là dòng họ Ngô Lý Trai ở Diễn Châu, Nghệ An với hai bố con Hoàng giáp thượng thư Ngô Trí Hòa và con trai là Lưỡng quốc công thần Ngô Sĩ Vinh.

Ông Ngô Quang Xuân được chọn để đảm đương một công việc nhiều thử thách là làm đại sứ, trưởng phái đoàn Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc vào lúc Việt Nam vừa mới mở cửa, chưa bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ…

Mùa hè năm 1993, vừa đặt chân đến thành phố New York nhận nhiệm sở, ông Ngô Quang Xuân đã nhìn thấy trước mắt mình một núi công việc liên quan đến mọi lĩnh vực hòa bình, chiến tranh, kinh tế thương mại, luật pháp, văn hóa, xã hội, nhân đạo… “Lúc bấy giờ tôi hay ví von mình cứ như đang bơi ra giữa biển lớn bao la vậy” – ông Xuân nhớ lại.

Đứng trước khối lượng công việc khổng lồ mà việc nào cũng quan trọng, ông Xuân tự nhủ không được nóng vội để đề ra những ưu tiên dựa trên những yếu tố chính của tình hình lúc bấy giờ. Sau khi ta rút quân khỏi Campuchia, phái đoàn thường trực của Việt Nam tại LHQ không còn là “phái đoàn một vấn đề” nữa, phải chuyển gấp sang phương thức và nội dung hoạt động mới.

Ông Xuân giải thích: “Trước đây gọi là phái đoàn một vấn đề (One Issue Mission) do cả hơn thập niên chúng ta hầu như chỉ tập trung sức lực chống chọi với việc Mỹ – Trung Quốc – ASEAN vu cáo ta trong vấn đề Campuchia. Còn các vấn đề khác tại LHQ ta thường hành xử dựa vào tham khảo quan điểm Liên Xô và các nước bạn bè, kể cả khi bỏ phiếu bấm nút xanh “đồng ý”, nút vàng “phiếu trắng” hay nút đỏ “chống”. Đây cũng là hiện tượng chung của những phái đoàn nhỏ, ít người tại LHQ”.

Phương châm hành động được đại sứ Ngô Quang Xuân đề ra lúc đó là: “Mỗi người trong phái đoàn đều phải cố gắng thực hiện cho được đề án hoạt động mà thông thường đã được lãnh đạo thông qua trước. đối với những vấn đề nảy sinh mới không kịp xin ý kiến đại sứ thì cần chủ động cân nhắc, nếu thấy có lợi cho nước, cho dân cứ linh hoạt mềm dẻo tham gia, cố gắng tránh để lỡ mất cơ hội”…

Một chuỗi chiến dịch vận động ngoại giao đã được ông Xuân và các đồng sự thực hiện vào năm 1997, và đạt được những “lần đầu tiên” khá ngoạn mục. Lần đầu tiên Việt Nam trúng cử phó chủ tịch Đại hội đồng LHQ (khóa 52, 1997-1998). Lần đầu tiên Việt Nam trúng cử phiếu cao nhất (so với các nước) làm thành viên nhiệm kỳ 1997-1998 của Hội đồng Kinh tế xã hội LHQ (ECOSOC). Lần đầu tiên các nước ủng hộ Việt Nam “xếp hàng” làm thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ, để 10 năm sau chính thức bước vào “Câu lạc bộ 15” (15 nước thành viên Hội đồng Bảo an LHQ, trong đó có năm nước thường trực)…

Ông Ngô Quang Xuân bồi hồi nhớ lại những năm tháng đầu thập kỷ 1990 đó, dân ngoại giao ở nước ngoài vẫn còn chật vật, vất vả với đời sống hằng ngày lắm. Chỉ có đại sứ mới được mang theo gia đình nhưng phải tự túc nuôi con cái ăn học, còn các cấp bậc dưới khác hầu hết anh chị em phải chịu cảnh sống độc thân. Ở Mỹ, một vài nhóm người gốc Việt tìm cách chống đối, gọi điện thoại đe dọa an ninh, đe dọa bắt cóc con em cán bộ phái đoàn, đe dọa đặt bom vào xe các đoàn lãnh đạo trong nước sang LHQ họp…

Trong lúc công việc ở LHQ đang khẩn trương, có thêm những đe dọa đó nhiều lúc khiến ông đại sứ thấy cuộc sống thật bề bộn, căng thẳng. Nhưng cũng có những kỷ niệm thật xúc động. Ở New York, có lần đại sứ Ngô Quang Xuân đang cùng anh chị em chuẩn bị bàn thờ tết thì lễ tân báo có khách đến xin gặp riêng. Ra đến cửa mới biết hai người đến thăm đại sứ lần đầu tiên đó là hai vợ chồng trong một gia đình vốn là cựu sĩ quan quân đội Sài Gòn. Họ mang bánh chưng tự gói đến tặng, nhưng dặn kỹ đại sứ là đừng nói họ đã đến thăm riêng, vì họ ngại những người còn hận thù có thể sẽ đối xử tệ với gia đình họ. “Sau này tôi hết sức vui mừng được biết họ đã về thăm quê hương và vận động nhiều bạn bè cùng về trong những chuyến về nước tiếp theo…” – ông Xuân kể.

Phiên bản trống đồng ở LHQ

Ngô Quang Xuân đang hát bài hát do anh sáng tác

Ngô Quang Xuân đang hát bài hát do anh sáng tác

Ở LHQ đã hình thành tập quán khi một quốc gia thành viên biếu tặng một món quà – thường là một hiện vật biểu tượng đặc trưng văn hóa dân tộc – thì bộ phận lễ tân LHQ trình lãnh đạo duyệt địa điểm để đặt trưng bày. Trong dịp Chủ tịch nước Lê Đức Anh dẫn đầu đoàn Việt Nam sang New York dự lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập LHQ (1945-1995), Chủ tịch nước đã mang theo phiên bản trống đồng Ngọc Lũ để làm quà tặng.

Chiều 25-10-1995, Chủ tịch nước Lê Đức Anh chính thức trao quà tặng ý nghĩa này cho Tổng thư ký LHQ Boutros B. Ghali, trước sự chứng kiến của toàn thể quan chức đại diện hầu hết các nước trên thế giới. Và phiên bản trống đồng Ngọc Lũ của Việt Nam được đặt ngay cạnh lối ra vào của Hội đồng Bảo an LHQ – một địa điểm long trọng bậc nhất trong các địa điểm đặt quà tặng.

Nhưng chỉ vài tuần sau khi không khí lễ hội kỷ niệm tưng bừng dần lắng xuống, đại sứ Ngô Quang Xuân được một lãnh đạo LHQ mời đến thông báo chủ trương: “Sẽ chuyển vị trí đặt quà tặng của Việt Nam đến một địa điểm khác, một địa điểm có nhiều ánh sáng hơn và cũng không kém phần trang trọng”.

Nhờ linh tính nghề nghiệp mách bảo, ông Xuân nghĩ ngay đến lý do tế nhị nào đó khác, chứ không chỉ vì vấn đề kỹ thuật, vấn đề “ánh sáng”. Ông Xuân kể lại: “Tôi nhớ là mình đã bị sốc, nhưng cũng không thể nóng nảy nổi giận được. Vì đây là LHQ, là ngoại giao đa phương rất nhiều chiều, và tôi đang đối diện với một quan chức cao cấp làm việc vì tất cả quốc gia chứ không chỉ vì một nước nào”.

Từ suy nghĩ như vậy, ông Xuân kịp bình tĩnh và có một phản ứng nhanh – mà sau này nghĩ lại bản thân ông vẫn thấy tâm đắc vì thông điệp đó đủ mạnh và cũng trở thành cơ sở khá nhất quán cho những lập luận trong đàm phán tiếp theo. Ông Xuân nói rằng: “Tôi sẽ phải báo cáo về Chủ tịch nước, nhưng đề nghị các vị lãnh đạo LHQ cũng hiểu cho rằng vị trí đặt phiên bản trống đồng Ngọc Lũ, quà tặng của Việt Nam đã được cả thế giới biết đến, đã được mấy chục triệu người dân Việt Nam biết đến. Nếu như phải chuyển đặt quà tặng đến địa điểm khác, là đại sứ, tôi biết báo cáo sao đây với lãnh đạo nước tôi, biết giải thích thế nào đây với đồng bào nước tôi? Vì vậy xin hiểu cho rằng tôi không thể nói đồng ý được”.

Sau này, phải nhờ đến một vài bạn bè ở LHQ tìm hiểu, ông Xuân mới biết rằng đã có người nêu yêu cầu LHQ giúp chuyển vị trí đặt quà tặng của Việt Nam ra khỏi khu vực lối ra vào Hội đồng Bảo an. Mặc dù các quan chức của LHQ không tiện nói ra danh tính người nêu yêu cầu trên, ông Xuân và một số đồng nghiệp ở phái đoàn cũng phải mất đến gần nửa năm kiên trì đi lại thuyết phục, và cuối cùng những người có trách nhiệm tại LHQ đồng ý giữ nguyên vị trí đã đặt phiên bản trống đồng Ngọc Lũ.

Giờ đây nơi đặt quà tặng đã trở thành điểm đến thăm không thể thiếu của các đoàn Việt Nam khi làm việc tại trụ sở LHQ.

“Phút 89” Geneva

Gia đình Đs Ngô Quang Xuân (bên phải là Hoa hậu Ngô Phương Lan)

Gia đình Đs Ngô Quang Xuân (bên phải là Hoa hậu Ngô Phương Lan)

Thứ sáu ngày 13 trong quan niệm của người phương Tây có thể là một ngày dễ mang lại những điều không may mắn, nhưng dường như với đại sứ Ngô Quang Xuân thì hoàn toàn ngược lại.

Cuối năm 2013, ái nữ của ông Xuân là hoa hậu thế giới người Việt đầu tiên Ngô Phương Lan đã có một lễ cưới hạnh phúc, đầm ấm vào thứ sáu ngày 13. Và có một thứ sáu ngày 13 khác mà ông Xuân không bao giờ quên – một thời khắc lịch sử với cả đất nước.

Trở lại Geneva

Nhiệm kỳ đại sứ của ông Ngô Quang Xuân ở Geneva (Thụy Sĩ) bắt đầu vào thời điểm Việt Nam bước vào giai đoạn tăng tốc đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Với cá nhân ông Xuân thì Geneva không phải là một địa danh hoàn toàn xa lạ, ông kể: “Năm 1975, ngay sau khi chiến tranh vừa kết thúc, tôi đã được đi một chuyến tàu hỏa ngoạn mục từ Hà Nội tới thành phố tươi đẹp và yên bình nhất thế giới này, để ở lại hơn một năm theo khóa học tại Viện Nghiên cứu cao cấp quốc tế (HEI). Vậy nên khi cùng nhà tôi và hai cô con gái đáp máy bay xuống sân bay Geneva ngay trước ngày lễ Giáng sinh 2002, tôi đã rơi vào tâm trạng xúc động trào dâng của ngày trở lại”.

So với lần “đi sứ” tới New York vào mùa hè 1993, tâm thế của ông Xuân cho cuộc viễn chinh lần này được chuẩn bị tốt hơn nhiều, trong hành trang mang theo có thêm cả kinh nghiệm của một đại sứ gần bảy năm chinh chiến tại chính trường Liên Hiệp Quốc (LHQ). Vậy mà trong lòng ông lúc bấy giờ vẫn canh cánh những lo âu. Vốn là khi ở New York, trong giới đại sứ thường trò chuyện với nhau về công việc bận rộn “tối mắt tối mũi” của mình, nhưng nghe nói những đồng nghiệp ở Geneva còn bận bịu kinh khủng hơn, họp nhiều đến nỗi “thở ra hơi tai”.

Trung bình hằng năm ở New York có khoảng 6.000 cuộc họp, còn ở Geneva trên dưới… 9.000! Geneva cũng là cái nôi của hàng ngàn cuộc đàm phán thương mại với sân chơi trung tâm là WTO. Chính vì vậy, phái đoàn đại diện thường trực của nhiều nước có không dưới ba đại sứ mà họ còn kêu là kham không xuể, huống hồ như Việt Nam chỉ giao phó cho một đại sứ “đơn thương độc mã”…

Chuyện họp hành ở Geneva chưa phải là mối bận tâm lớn nhất. Sau khi Việt Nam kết thúc đàm phán và ký hiệp định thương mại song phương (BTA) với Hoa Kỳ, những yêu cầu và kỳ vọng thúc đẩy khẩn trương các cuộc đàm phán song phương và đa phương để sớm đưa Việt Nam vào WTO trở thành điều trăn trở, làm vị đại sứ lo nghĩ ngày đêm…

Ngô Quang Xuân và Nguyễn Trọng Tạo

Ngô Quang Xuân và Nguyễn Trọng Tạo

Những người bạn mới

Mùa Giáng sinh năm 2002 khi bắt tay vào công việc mới, đại sứ Ngô Quang Xuân hiểu rằng cỗ xe đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam sẽ còn phải lăn bánh trên một chặng đường dài. Ông nhớ đến câu nói của người xưa “đường nhiều bạn dễ đi”.

Ngay trong ngày Giáng sinh, một ngày sau khi đến Geneva, ông Xuân cùng toàn bộ thành viên trong gia đình đến thăm ông Trần Văn Thình, vị đại sứ của Cộng đồng chung châu Âu tại WTO trong suốt gần 17 năm. Ở WTO nhiều người nói đại sứ Trần là một trong những “cha đẻ” của nhiều nghị quyết, quy định, luật lệ của sân chơi thương mại toàn cầu… Qua câu chuyện với ông Thình trong nhiều lần gặp sau đó, ông Xuân đã cảm nhận được trong con người nhỏ nhắn nhưng rất lanh lợi này có cả một kho tàng kinh nghiệm và kiến thức về đàm phán tại WTO, và cả một mạng lưới quan hệ bạn bè hết sức phong phú nữa.

“Khi tôi gặp làm việc với tổng giám đốc WTO lúc bấy giờ là tiến sĩ Supachai Panitchpakdi người Thái Lan và sau này là ông tổng giám đốc Pascal Lami kế nhiệm đến từ Pháp, họ đều tỏ sự kính trọng và nể phục vị đại sứ EU gốc Việt tinh thông lão luyện này” – ông Xuân nhớ lại.

Thành phố ven hồ Geneva luôn yên tĩnh, nhưng đằng sau đó là cả một thế giới ngoại giao sôi động. Những mối quan hệ ngoại giao nhiều khi đưa đến tình bạn không hề xã giao. Ở Geneva, ông Ngô Quang Xuân đã có một người bạn đặc biệt đến từ thành phố Rio de Janeiro của Brazil. Đó là Sergio Vieira de Mello, những năm đầu thập kỷ 1990, Sergio là đặc phái viên của UNHCR tại Campuchia, là một trong những đại diện đầu tiên của LHQ đàm phán với các nhóm Khmer Đỏ còn lại. Tháng 10-1992, Sergio thay mặt LHQ chứng kiến những người cuối cùng trong lực lượng Fulro đầu hàng và chấp nhận giải giáp vũ khí… Biết Sergio mới được cử làm cao ủy nhân quyền của LHQ, đại sứ Ngô Quang Xuân đã đưa tên ông vào danh sách những người ưu tiên nhất cần gặp khi đến nhận nhiệm kỳ đại sứ tại Geneva.

Khi đã trở thành bạn bè thân thiết, một lần Sergio kể với đại sứ Ngô Quang Xuân là gia đình ông và nhất là người mẹ đã ngăn cản và khuyên Sergio đừng đi Iraq nhận chức đại diện đặc biệt của LHQ ở đó, dù dự kiến sứ mệnh này sẽ chỉ kéo dài trong bốn tháng. Bản thân ông Xuân và nhiều người khác cũng khuyên Sergio như vậy, mặc dù giới ngoại giao ở Geneva “nghe loáng thoáng” có nhiều khả năng sau khi từ Iraq về, Sergio sẽ là một trong những ứng viên rất mạnh cho nhiệm kỳ mới của tổng thư ký LHQ.

Và rồi vụ đánh bom đẫm máu ngày 15-3-2003 làm sập Canal Hotel tại Baghdad đã sát hại Sergio cùng nhiều đồng nghiệp khác của ông. Nhớ lại kỷ niệm đau buồn này, ông Xuân trầm ngâm: “Cho đến bây giờ tôi vẫn nghĩ những người như Sergio có thể sẽ làm được rất nhiều, góp phần giúp cho các dân tộc trên thế giới này đỡ hiểu nhầm, hiểu sai về nhau, xung đột nhau vì nhân quyền, dân chủ, tôn giáo, sắc tộc…”.

Chiến dịch đặc biệt

Trở lại với những nỗ lực giúp đẩy tới cỗ xe đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam, đại sứ Ngô Quang Xuân sớm phát hiện vấn đề cấp bách là phải tìm ngay một nhân vật đủ uy tín và năng lực hơn để thay vào vị trí người phụ trách công tác đàm phán của Việt Nam gia nhập WTO (nhân sự của WTO phụ trách trực tiếp việc đàm phán của Việt Nam). Một chiến dịch vận động thay chủ tịch Ban công tác đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam được khởi động. “Việc này làm tôi vất vả gần như cả năm đầu ở Geneva, rồi còn phải hứng chịu những phản ứng không lấy gì làm dễ chịu từ phía người chủ tịch đàm phán cũ và từ nước ông ấy, chỉ vì một số lý do nên họ không muốn rút lui khỏi vị trí của mình. Búa rìu cũng đến từ cả một số người phía “quân ta” nữa, trong đó có một vài vị lãnh đạo nóng tính không có đủ thông tin nhiều chiều” – ông Xuân kể.

Nhưng rồi may mắn đã mỉm cười với vị đại sứ Việt Nam. Nhờ có bạn bè giới thiệu, ông Xuân đã tìm hiểu kỹ và gặp được người bạn đến từ Na Uy là đại sứ Eirik Glenne, một nhà ngoại giao có trình độ và giàu kinh nghiệm đàm phán thương mại hàng đầu. Ông Eirik Glenne đã cân nhắc nhận lời về nguyên tắc với đại sứ Ngô Quang Xuân, và sau khi có được trả lời chấp thuận từ Oslo, ông đã khẳng định “đồng ý” vào vị trí chủ tịch Ban công tác đàm phán Việt Nam gia nhập WTO.

Nhận được tin báo từ Geneva, ở nhà nhanh chóng chấp thuận, tạo điều kiện cho ông Xuân làm các thủ tục cần thiết tại WTO về việc tiến cử đại sứ Eirik Glenne. Vị đại sứ từ Bắc Âu này đã nhiệt thành đóng góp, đồng hành với các nhà đàm phán Việt Nam trong hơn ba năm cuối cùng của chặng đường 11 năm đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam.

Cả đời làm đối ngoại, ông Xuân đã góp sức góp mặt trong nhiều sự kiện quan trọng trên bước đường hội nhập của đất nước, nhưng thời khắc ông nhớ nhất chính là “phút 89” trong hành trình Việt Nam vào WTO… Thứ sáu, ngày 13-10-2006, tại thành phố Geneva, vào lúc 16g45, người bạn thân thiết của ông Xuân, đại sứ Eirik Glenne giơ tay gõ búa tuyên bố với toàn thế giới rằng “Việt Nam đã hoàn tất đàm phán đa phương và song phương” để gia nhập sân chơi thương mại lớn nhất hành tinh. Lúc bấy giờ báo chí hỏi cảm tưởng của đại sứ, ông Xuân đã nói rằng: “Xúc động cao độ!”.

Không xúc động sao được khi cái thời khắc, cái “phút 89” tưởng chừng như đã bên bờ vực vỡ trận đó, đã trút bỏ được gánh nặng đè trĩu vai của 11 năm đàm phán…

VVT.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s