VÀI SUY NGHĨ VỀ THƠ TÂN HÌNH THỨC


NGÔ MINH

logobut2Tạp chí Sông Hương có ý định tổ chức cuộc hội thảo về thơ Tân hình thức trong tháng 11/2013. Tổng biên tập mời tôi viết bài tham luận. Nhưng cuộc hội thảo đến nay vẫn chưa tổ chức được, không rõ lý do gì. Nên xin công bố bản tham luận để những người yêu thơ cũng chia sẻ. Bản mệnh của thơ là phải luôn luôn mới. Mới ý để sâu hơn, mới tứ để bất ngờ hơn, mới thi ảnh để lung linh hơn, mới chữ để cuốn hơn, mới cấu trúc để lạ hơn, mới nhịp điệu để lay động hơn… Thơ Việt Nam trăm năm qua đã qua rất nhiều sự chuyển động hướng đến sự mới. Từ thơ Nôm, thơ Đường đến Thơ Mới , rồi thơ trừu tượng, thơ siêu thực…Trong đó sự ra đời của thơ Mới là một cuộc cách mạng thơ thực sự. Ngày 10 tháng 3 năm 1932, bài thơ Tình già của Phan Khôi ra mắt bạn đọc trên báo Phụ nữ tân văn số 122  được xem là bài thơ mở đầu cho phong trào Thơ mới. Ngay sau đó, cuộc tranh luận giữa lối thơ mới và thơ cũ diễn ra vô cùng gay gắt, quyết liệt. Mãi đến năm 1941, cuộc tranh luận mới chấm dứt bằng sự thắng thế của  thơ mới, khép lại mấy trăm năm thống trị của thơ Đường. Chỉ 10 năm thôi, Thơ Mới đã tự khẳng định mình mà chiếm lĩnh văn đàn với sự ra đời của Thi nhânViệt nam của Hoài Thanh- Hoài Chân và kéo dài đến tận hôm nay. Đó là  thời kỳ vàng son của thơ Việt Nam. Thơ Mới bắt nguồn từ thơ Pháp, nhập vào hồn các thi sĩ Việt để thành tâm thức, tâm cảm, tâm tình. Về hình thức, thơ Việt bắt đầu từ lục bát, song thất lục bát, rồi đến thơ ngũ ngôn, thất ngôn, bát ngôn, rồi thơ tự do không vần của Nguyễn Đình Thi, Thanh Tâm Tuyền, thơ  bậc thang của Hữu Loan, Trần Dần, Trần Mai Ninh, thơ tượng trưng, siêu thực của Ngô Kha, Hàn Mạc Tử, thơ tự do của Chế Lan Viên, Nguyễn Quang Thiều…, rồi thơ văn xuôi…, thơ Rokc, thơ Rap, thơ sắp đặt, thơ tân hình thức của nghệ thuật đương đại. Hiện nay các nhà thơ Việt Nam vẫn sáng tác thơ theo nhiều hình thức, có rất nhiều bài thơ hay, nhưng không có một cuộc cách mạng tôn vinh một trường phái thơ nào xảy ra cả.

         Vậy THƠ TÂN HÌNH THỨC có phải là một cuộc cách tân thơ Việt? Đọc và cảm nhận về Thơ Tân hình thức (THT) , tôi thấy đã có một kết nối, một lĩnh xướng, một phụ họa. Những năm 90 của  thế kỷ XX, thơ THT ra đời. (Theo nhà phê bình Đặng Tiến, tên Tân Hình Thức dịch từ tiếng Anh New Formalism, một trường phái thơ Mỹ, thịnh hành những năm1980 – 1990). Nó được các nhà thơ Việt ở Hải ngoại, đặc biệt là nhà thơ Khế Iêm nhiệt liệt hưởng ứng và “chuyển lửa về quê nhà”. Khế Iêm chủ trương tạp chí THƠ 20 năm nay đăng nhiều thơ THT, lập trang thotanhinhthuc.org để đăng thơ, giới thiệu tác giả, bàn luận. Anh còn bàn luận, suy tư, giới thiệu về thơ THT trong các tác phẩm Vũ điệu không vần – Tứ khúc và những tiểu luận khác, Tân Hình Thức (nxb Văn Mới, 2003). Ở trong nước, nhà thơ Inrasara hết sức cổ vũ rất nhiệt tình cho thơ tân hình thức. Trên Inrasara.com mở chuyên mục Thơ tân hình thức Việt. Anh còn  tổ chức tọa đàm Thơ tân hình thức Việt, nhìn từ tiến trình văn học đương đại Việt Nam tại Salon Văn hóa Cà phê Thứ Bảy Sài Gòn. Trước đó, hai tạp chí cũng thử nhập cuộc bàn về tân hình thức. Tạp chí Sông Hương, số 280, 6-2012, có chuyên đề về thơ tân hình thức; sau đó ít lâu tạp chí này đã làm số đặc biệt về thơ tân hình thức vào tháng 12-2012. Đây là tạp chí Văn học nghệ thuật đầu tiên trong hệ thống báo chí văn nghệ Việt Nam giới thiệu thơ THT. Rồi báo Nghệ Thuật Mới do Nguyễn Quang Thiều tổ chức, số 8, 9-2012, có bài phê bình về thơ tân hình thức. Và hôm nay, cuộc hội thảo do Tạp chí Sông Hương  tổ chức.v.v… Như vậy đã có một quá trình tổ chức, vận động, cổ võ.  Cho đến nay, đã có ba tập Thơ Hình Thức đã xuất bản: Trong nước: Đoàn Minh Hải, Đại Nguyện của Đá, 2002. Tại Hoa Kỳ: Lưu Hy Lạc, 26 Bài Thơ Tân Hình Thức, Giọt Sương Hoa, 2002; Hà Nguyên Du, Gene Đại Dương, nxb Tạp Chí Thơ, 2003… Tất cả những khởi động bền bỉ, nhẫn nại trong 20 năm qua đã khẳng định một khái niệm, một niêm luật, một phong trào và một đội ngũ. Người Việt làm thơ THT ngày càng nhiều. Ở hải ngoại có Khế Iêm, Nguyễn Đăng Thường, Đỗ Kh, Phan Tấn Hải Nguyễn Thị Thanh Bình, Mai Ninh ,Trọng Tuyến, Lưu Hy Lạc và Phan Nhiên Hạo… Trong nước có Đoàn Minh Hải, Huỳnh Lê Nhật Tấn, Hường Thanh, Nguyễn Thói Đời, Xuân Thủy. Chu Thụy Nguyên, Lê Hưng Tiến, Nguyên Họa, Thiên Đăng, Nguyễn Tất Độ, Trần Vũ Liên Tâm, Lý Đợi, Hà Huy Phương, Huy Hùng, Hồ Đăng Thanh Ngọc, Phạm Nguyên Tường.v.v… Xem ra, các nhà thơ THT Việt đã thành một đội hình, một cuộc khởi hành, đi tới.

            Tôi là người chưa bao giờ làm bài thơ THT nào. Năm ba năm trước, tôi  không quan tâm đến Thơ Tân Hình Thức. Tôi thấy nó “gò bó” trong một luật lệ đơn sơ, lại “nhạt” vì thơ ấy ít làm cho người đọc xúc động. Tôi quan niệm đã là thơ, dù sáng tác theo trường phái, phong cách nào, mục tiêu cốt lõi là làm cho độc giả yêu thơ xúc động, cười khóc, nổi da gà theo từng tứ thơ, thi ảnh. Theo luật chơi, Thơ THT có bốn đặc điểm: tính kể (dễ hiểu và liền mạch), vắt dòng (để kiểm soát hơi thở, định dạng cho thơ, phân biệt với văn) kỹ thuật lập lại (để tạo ra nhịp điệu, nhạc tính) và ngôn ngữ đời thường, vì thế sức biểu cảm bị hạn chế. Nhưng rồi dần dà đọc thơ Tân Hình Thức trên Tạp chí Sông Hương, thơ Khế Iêm, tôi thấy nhiều câu thơ lạ, day dứt, có những bài thơ ám ảnh, chữ vắt dòng đột ngột, tạo nên sự thú vị về chữ, câu. Ví dụ các câu thơ THT rất ảo: Có những nỗi nhớ mơ  / hồ đọng lại ( Hường Thanh HÀNG CÂY); Nỗi nhớ mơ /( vắt dòng) hồ đọc lên nghe bâng khuâng hơn nỗi nhớ mơ hồ ( không vắt). Hay những câu thơ khác :  Có những đêm không ngủ như đêm nay /Không thể ngủ tôi loay hoay đi từ ( Nguyễn Thói Đời- Đêm loay hoay) ; Con cá lãng tử con /cá si tình con cá ( Chu Thụy Nguyên –CON CÁ CHẾT ) ; Dế con đội gánh từng sợi /đêm treo ngược thời gian rao (Lê Hưng Tiến -NGỤ NGÔN CỦA DẾ )… Những câu thơ vắt dòng làm cho thi ảnh lạ hẳn đi.
Hay bài thơ Bóng của Thiên Đăng, chỉ có mấy hình ảnh đơn giản: cái bóng đàn ông, cái bóng đàn bà, chiếc giường… thế mà tác giả đã sáng tạo nên  bài thơ ngũ ngôn 5 khổ như một ảo ảnh:  hai cái bóng kia cái /bóng của người đàn bà / và bóng của người đàn/ ông hai cái bóng ở / trên tường gần nhau thật/…  ở trên giường hai cái / bóng bất động người đàn / ông và người đàn bà / gần thật gần bất động  Hay bài thơ Những con chữ ngảy lò cò của Lê Hưng Tiên, bằng kỹ thuật Thơ THT và thi tài của mình, tác giả trẻ Ninh Thuận này đã tạo được bài thơ như một bức tranh trừu tượng, đa sắc màu rất đẹp, rất thơ : khát vọng tức tưởi máu xông từ / đầu mắt tay khi đỉnh điểm thái / dương loe lóe những con chữ bỗng / hiển linh thì nắng được tẩm liệm / trong suốt, trong suốt. Trong và suốt!.. Như vậy thơ THT đã có kết hạt trong lòng người đọc !

       Thơ THT sử dụng tuyệt đối các “hình thức thơ cũ”(thơ Mới) như lục  bát (6,8), thất ngôn tứ tuyệt (4×7), thơ 5 chữ, thơ 8 chữ, vân vân, nên không xa lạ với người đọc. Không thuộc loại “thơ khó”. Thơ THT thể hiện theo thể loại thơ không vần  ứng dụng những kỹ thuật cơ bản của TTHT (vắt dòng, kỹ thuật lập lại, tính truyện và ngôn ngữ đời thường), nên nhịp điệu hoàn toàn khác với thơ cổ điển. Mỗi dòng như thơ cổ điển, gồm 5,6, thường là 7, 8 chữ (âm), có khi là lục bát, có thể xếp thành khổ 4 (hay nhiều) dòng. Cứ đến số chữ quy định là xuống dòng, không cần tôn trọng cú pháp .Để xâu kết câu nói, các tác giả thường kể chuyện đời thường, thông tục, có khi tục, của người bình thường sử dụng hằng ngày, trong sinh hoạt cụ thể, nên dễ hiểu, dễ đi vào lòng người yêu thơ. Đó là thế mạnh của thơ Tân Hình thức.

      Tất nhiên, trong thơ THT, tôi thấy nhiều bài ( có thể nói là đa số) còn kể chuyện đơn giản, văn xuôi sơ sài, thiếu chất thơ. Vắt dòng là thành tố cốt lõi nhất trong toàn bộ kỹ thuật THT, nhưng có nhiều nhà thơ vắt dòng không đắt, nên hiệu quả câu thơ bị hạn chế . Chẳng hạn, bài thơ “Tĩnh vật” : Li rượu được đẩy qua/ đẩy lại trên bàn, bàn/ tay cầm li rượu thay / đổi tốc độ di chuyển / ban đầu của li rượu… / nhanh đến chóng mặt, bàn / tay cầm li rượu tỉ / lệ thuận với tốc độ…( dấu “/” là vắt dòng).Đó là câu văn xuối thuần túy, nó đơn giản, không thơ. Có thể dẫn ra hàng  ngàn bài thơ THT không hay như thế.  

          Thơ THT không xa lạ với thơ Việt, thậm chí không  còn mới đối với thơ Việt. Nghĩa là trong thơ Việt từ thời tiền chiến đã có những yêu tố của Tân hình thức. Nhất là yếu tố vắt dòng ( ngắt dòng). Theo nhà phê bình Đặng Tiến, thì:’Kỹ thuật vắt dòng, hay bắc cầu thường gặp trong Thơ Mới, là một kinh nghiệm tiếp thu từ thơ Pháp, làm nổi bật một từ ngữ, hình ảnh nào đó. Đến Bích Khê (1915-1946) thì lối vắt dòng trở thành một thi pháp toàn diện, có giá trị thẩm mỹ riêng”. Trong bài thơ Duy Tân (1941), Bích Khê vắt dòng:

Người họa điệu với thiên nhiên, ân ái

Buồn, và xanh trời. (Tôi trôi với bờ

Êm biếc – khóc với thu – lời úa ngô

Vàng – Khi cách biệt – giữa hồn xây mộ –

Tình hôm qua – dài hôm nay thương nhớ…)

Nhà thơ Chế Lan Viên trong bài thơ Tập Qua Hàng cũng“vắt dòng” rất thiện nghệ :

Chỉ một ngày nữa thôi. Em sẽ/

Trở về. Nắng sáng cũng mong. Cây /

Cũng nhớ. Ngõ cũng chờ. Và bướm’

Cũng thêm màu trên cánh đang bay/

 Đặc biệt trong trường ca tặng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bút Tre Đặng Văn Đăng có hai câu thơ xuất thần, đột khởi làm nên thương hiệu Bút Tre lưu truyền hậu thế và tạo nên nhiều thế hệ Bút Tre mới sau này.  Đó là câu lục bát vắt dòng theo lối THT :

                   Hoan hô đại tướng Võ Nguyên/

                Giáp ta thắng trận Điện Biên trở về

       Trong lịch sử thơ lục bát Việt Nam chưa có ai ngắt nhịp 6/8 chia đôi họ tên một người nổi tiếng như thế cả. Võ Nguyên / Giáp ta – Cách vắt dòng , ngắt nhịp trong thơ lục bát như thế gây nên tiếng cười sảng khoái và ám ảnh. Vì chưa hiểu “Phong cách Bút Tre”, nên nhiều nhà thơ chuyên nghiệp, nhiều nhà quản lý văn hóa đã cho rằng thơ như thế là thô thiển, văng mạng, là vô lễ với Đại tướng.v.v.. Thực ra đó là Tân hình thức. Nhưng càng đọc, càng ngẫm, mới thấy với cách ngắt nhịp câu lục bát rất ga-lăng và bạo dạn ấy, Bút Tre đã bắt được cái hồn dân gian Việt với cái chữ “ta” tài tình, làm giàu có  thêm cho thơ Việt: “Giáp ta thắng trận Điện Biên trở về”. “Giáp ta” cũng như Tổ quốc ta, dân ta, nước ta.v.v.. Trong thơ “Hậu Bút Tre” có câu rất Tân hình thức: Anh đi công tác Pley / Ku dài dằng dặc biết ngày nào ra . Tác giả dân gian cũng  ngắt tên địa danh Pley-ku trong câu thơ rất diệu nghệ. Theo Đặng Tiến trong bài “Thơ Tân hình thức- nhịp đập của thời đại”, người làm thơ THT đầu tiên ở Việt Nam là Nguyễn Văn Vĩnh, khi năm 1914 ông hạ bút viết câu ‘Ve sầu kêu ve ve’, là tân hình thức hết cỡ. Bài Ve và kiến cụ Nguyễn Văn Vĩnh dịch thơ ngụ ngôn của La Fontaine : Vác miệng chịu khúm núm /Sang chị kiến hàng xóm /Xin cùng chị cho vay / Dăm ba hạt qua ngày…

      Thế là THT thức đã được kiểm chứng, đã có  thành quả, kết tụ. Việc dòng thơ ấy có phát triển tiếp hay không, không phụ thuộc vào tính chất của thể thơ  mà phụ thuộc vào những người theo đuổi và thực hành nó . Nhưng có lẽ những người chủ trương phát triển hơn nữa phong trào thơ Tân hình thức như Inrasara, Khế Iêm cũng phải nghĩ cách “cải tiến” để thơ THT phát triển hơn nữa. Để  cho Thơ THT chinh phục được đọc giả, tự bản thân trong quy ước của nó phải  có sự thay đổi. Trong 4 yếu tố quy ước cầu trúc của thơ THT, tôi thấy cần phân biệt thơ với văn xuôi. Đây là một vấn đề khá nhập nhằng. Nhìn bề mặt, chỉ có 1 điểm duy nhất trong bốn điểm nêu trên là có thể phân biệt thơ tân hình thức với văn xuôi: đó là vắt dòng . 3 đặc điểm còn lại :tính kểkỹ thuật lập lại  – ngôn ngữ đời thường thì hoàn toàn giống nhau, văn xuôi cũng có. Nên chăng giảm những yếu tố này đi một mức nào đó, để cho câu thơ thơ hơn, nhòe hơn. Thứ nữa, thơ phải có nội dung, nếu không thì chỉ là cái vỏ không có khóa mở; hoặc không có gì phải mở.

          Cuối cùng là làm sao để Thơ Tân hình thức được đưa vào nhà trường ? Các thế hệ học trò Việt Nam  trong nhà trường dễ dàng đón nhận thơ Mới của Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên… Còn bây giờ  hai, ba thập kỷ đã trôi qua , sinh viên Đại học khoa Văn vẫn còn xa lạ với các trào lưu thơ đang xảy ra trên thế giới như  hậu hiện đại, tân hình thức. Phải lôi cuốn  họ vào cuộc chơi THT. Nếu không, sẽ  không có đổi mới thơ. Muốn thế thơ Tân hình thức phải hay hơn, tư tưởng lớn hơn, thi ảnh đẹp hơn.

          Tôi ủng hộ việc đưa các trào lưu thơ đương đại thế giới như tân hình thức, hậu hiện đại vào Việt Nam. Nhưng tôi luôn phản đối một sô người cho rằng làm thơ đương đại mới là nhà thơ hiện đại, thơ mới hay. Rồi từ đó  kéo bè nhóm xưng tụng, trao thưởng cho các  tác phẩm thơ đương đại, cho đó là chuẩn mực của thơ Việt, như thời gian vừa qua. Thơ đương đại hay tâm hình thức không đồng nghĩa với thơ hay. Đừng nhầm lẫn điều này.

         Tôi nghĩ, thơ THT vẫn còn nhiều khoảng trống cho sự mở rộng và phát triển, đi lên của mình. Thơ là tâm sự, tâm tình  của người sáng tạo thơ . Bất kỳ một thể loại thơ mới/ phong  trào sáng tác nào cũng cần có những trao đổi, bàn luận để góp phần đưa ra những ý kiến, góp ý để nó phát triển tốt hơn. Độc giả luôn mở lòng. Hãy làm cho thơ THT hay hơn, có sức chinh phục hơn mới chinh phục được người đọc.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s