DỌC MIỀN TRUNG (27 – HẾT)


logosachĐÀO THẮNG

(Đọc các phần trước ở đây)

VI. ĐIỀU THÚ VỊ TỪ CUỐN SÁCH CỦA MỘT NGƯỜI PHÁP

Sau khi nghe tôi trình bày ý định viết một số bài bút ký lịch sử về vùng di tích Vinh – Bến Thuỷ anh Đậu Kỷ Luật chớp chớp đôi mắt cận nhìn tôi nói ngay : 

– Nên viết, cần phải viết lúc này và cả sau này nữa. Thắng có lợi thế hơn các bạn khác là đã sống ở Vinh lâu, sống ở cái giai đoạn Mỹ đánh Vinh ác liệt nhất. Là người yêu Vinh, yêu khu Bốn chân thành và sâu sắc. Mình vẫn nói với anh em trong ni : “Khu Bốn bầy choa nhận có hai thằng khu Ba nhập tịch là cậu (Đào Thắng) và Cấn Văn Vọng (Anh Vọng nguyên là cục phó Cục Cán bộ, Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam) nguyên là chiến sỹ trung đoàn pháo cao xạ 222 ở khu Bốn 17 năm). Nói vậy chứ anh em làm văn. làm báo gắn bó với Vinh, với khu Bốn đông đấy : bên văn có Mai Ngữ, Đỗ Chu, Triệu Bôn, Hồ Phương, suốt thời bom lửa  bám xứ Nghệ, bám Khu bốn. Bên báo có Cao Tiến Lê và Thanh Phong. Thanh Phong suốt những năm chiến tranh ác liệt bám sát địa bàn Nghệ Tĩnh, tuyến lửa khu Bốn. Cao Tiến Lê khi còn là phóng viên báo Quân khu, sau ra báo Quân đội còn xông xáo hơn cả bọn mình. Viết nhiều, viết nhanh về con người, chiến công của quân dân khu Bốn và Lê đặc biệt chú ý đến văn hoá dân ca Xứ Nghệ. Cao Tiến Lê kể rằng lần ấy qua phà Bến Thuỷ, bom pháo Mỹ ầm ào trên đầu vậy mà có một con thuyền cắm sào trên bến phía thượng nguồn. Từ con thuyền ấy vọng đến tiếng ví dặm giận thương rồi tiếng ngâm Kiều. Không phải ngâm một đoạn mà gần nửa quyển Kiều. Tiếng bom pháo dứt đã lâu mà tiếng ngâm Kiều còn vọng mãi. Lê phải nép vào bờ đá núi Cơm tránh bom để nghe Kiều.

Khuôn mặt của Vinh ta nhận diện chủ yếu từ thời chiến tranh chống Mỹ. Khi ấy Vinh đã bị thu hẹp lại nhiều và không còn là tư cách thành phố công nghiệp. Có nhà máy, xí nghiệp đấy nhưng nhỏ bé và chủ yếu phục vụ nội bộ là chính. Sự thực thì từ đầu thế kỷ XX Vinh đã là một trong ba thành phố công nghiệp hàng đầu ở Đông Dương.

Anh đưa tôi lên tầng hai, lại gần một giá sách lớn và lấy một cuốn sách cũ, giở ngay mấy trang đầu. Tính anh vẫn thế “nói có sách, mách có chứng”, khi tôi không còn ở cùng một cơ quan với anh, cái ấn tượng rõ nhất mỗi khi tôi nhớ đến anh là hai cánh tay co gần lại, đầu hơi cúi xuống, vầng trán rộng hơi nhăn lại, hai mắt nheo nheo sát gần trang giấy nhìn cho tỏ. Lát sau anh ngẩng lên ánh mắt như tinh anh hơn.

Tôi mừng rỡ đón sách từ tay anh

– Sách dịch hả anh ?

Anh cười :

– Ông này biết cả tiếng Việt, thạo lịch sử văn hoá xứ mình.

Sách của ông Brét Toh ng­ời Pháp. Ông là giáo sư dạy Quốc học Vinh. Cuốn An Tĩnh Cổ Lục

Anh nói tiếp :

– Đọc Brét Toh ta mới rõ vinh không phải chỉ như bây giờ của Nghệ An. Nó là xứ Vinh bao gồm cả Nghi Xuân, Đức Thọ (Hà Tĩnh) và Hưng Nguyên (Nghệ An).

Cuốn sách cho biết rõ hơn : Ngày 12 tháng 07 năm 1890 Vua Thành Thái ra đạo dụ về việc thành lập sáu trung tâm đô thị vùng Trung Kỳ gồm : Thanh Hoá, Vinh, Huế, Hội An, Quy Nhơn, Phan Thiết. Toàn quyền Đông Dương Pôn – Đu me ký nghị định chuẩn y ngày 30 tháng 08 năm 1889.

Ngày 11 tháng 03 năm 1914 (15 năm sau) Vua Duy Tân ra đạo dụ thành lập trung tâm thị xã Bến Thuỷ và toàn quyền Đông Dương ra nghị định công nhận ngày 18 tháng 02 năm 1916

Ngày 28 tháng 07 năm 1917 vua Khải Định ra đạo dụ thành lập trung tâm thị xã Trường Thi. Toàn quyền đông Dương An be – Xa rô ra nghị định công nhận ngày 18tháng 12 năm 1917.

Và đến ngày 10 tháng 12 năm 1927 (m­ời năm sau) Toàn quyền Đông Dương Mông – Ghi – Giê đã ký nghị định sáp nhập ba trung tâm đô thị Vinh, Bến Thuỷ, Trường Thi, thành lập thành phố Vinh – Bến Thuỷ. Nội thành có diện tích 20km2 với hai vạn dân. Năm 1930, Toàn quyền Đông Dương Pax Ky Ê ra quyết định chia Thành phố Vinh – Bến Thuỷ thành mười khu phố với tên gọi từ Đệ Nhất đến Đệ Thập, sau cắt thêm phường Bến Thuỷ thành khu phố thứ mư­ời một.

Anh Đậu Kỷ Luật hơi ngả người ra ghế, anh đã vào tuổi thất thập và vừa qua trận ốm nặng viêm phế quản cấp làm bạn bè anh em lo lắng. Đã qua cái thời anh lên diễn đàn nói say sưa, giọng to, tay nắm lại dội mạnh ra phía trước mỗi lần phải giãi bày những điều bức xúc trước sự bất cập vì lịch sử văn hoá. Mấy bác lứa trước anh vẫn đùa là ông “đấm không khí”. Những cái đấm của anh giáng vào sự thiếu hiểu biết về lịch sử văn hoá hoặc hiểu thiên lệch không đến đầu đến đũa. Anh nói chậm rãi:

– Cái ông Brét Toh là một ông giáo, việc đi dậy ở Trường Quốc học Vinh ngốn của ông ta rất nhiều thời gian vậy mà ông ta đã có một sự chuẩn bị kỹ lưỡng để cho ra đời một cuốn sách mở về văn hoá Xứ Nghệ, mà bây giờ chúng ta gọi là Nghệ Tĩnh. Ông ta gọi vùng đất này là An Tĩnh đúng như tên gọi thời cụ Đào Tấn làm Tổng đốc, mà làm Tổng đốc hai lần nên cũng rất hiểu Xứ Nghệ. Nhìn về góc độ văn hoá An – Tĩnh là một. Tức Nghệ Tĩnh ngày nay là một. Tức là bằng cách nhìn nhận tổng quát có một văn hoá Xứ Nghệ nâng đỡ, đón nhận văn hoá xứ Trung Lào. Tôi biết anh Luật là một học giả, một nhà nghiên cứu văn hoá các dân tộc ở miền Tây Nghệ An như văn hoá người Thái ở vùng Quỳ Châu, Quỳ Hợp, người Ơ Đu, đặc biệt là văn hoá người Mẹo (Mèo, H’ Mông) ở vùng Tương Dương, Kỳ Sơn, Nghệ An có quan hệ chặt chẽ với người Mẹo bên Lào.

Anh Luật nói nhỏ :

– Mình nguyên là cán bộ Công an nhân dân vũ trang (bộ đội biên phòng ngày nay). Đơn vị mình và một số đơn vị khác đã từng cùng với Bạn vào Viên Chăn giải thoát lãnh tụ Xuphanuvông khỏi nhà tù của bọn phái hữu ở Lào đưa lãnh tụ về căn cứ an toàn. Đã từng đón Tiểu đoàn 2 đang bị quân phái Hữu vây ở cánh đồng Chum, cùng với Tiểu đoàn 2 thoát vây theo đường số 7 về vùng Tây Nghệ An. Anh dừng một lát:

– Ông thầy giáo này đúng khi tán thành việc mở đường Quốc lộ số 7, Quốc lộ số 8 thông thương từ Lào ra biển ở Vinh.

Tôi nhớ thời kỳ Mỹ ngừng ném bom ở Miền Bắc nhằm mở rộng chiến tranh ở Lào. Năm 1970 tiểu đoàn tôi (tiểu đoàn 25) đang bảo vệ cảng Gianh (Quảng Bình) đầy ắp chân hàng thì đ­ợc lệnh gọi về Vinh. Rồi từ Vinh theo đ­ờng số 7 sang Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng tham gia chiến dịch Cánh đồng Chum (còn gọi là chiến dịch Cù Kiệt II). Hết chiến dịch lại theo đường số 7 về Vinh. Rồi năm 1972 sau mấy tháng cơ động bảo vệ các cây cầu ở Hà Tĩnh về chốt giữ phà Linh Cảm, tháng 10 mùa mưa, cả tiểu đoàn nhận lệnh rời Linh Cảm, theo đường số 8 sang giúp bạn trong chiến dịch 972 giải phóng Lạc Xao, Kăm Kớt, Ma Ha Xay đến tận bờ sông Mê Kông, tiểu đoàn chúng tôi mai táng nhiều đồng đội dọc đường quốc lộ số 8 ở bên kia biên giới rồi theo con đường giống cuống nhau của mẹ (đường quốc lộ số 8) về với Vinh thân yêu. Cho đến nay nay tôi hiểu ra những sự kiện ấy, gắn bó với những khoảnh khắc không thể nào quên của đời người bao giờ và khi nào cũng có nguyên do văn hoá lịch sử của nó

Anh bạn tôi, nhà nghiên cứu, Giám đốc Thư­ viện Nghệ An cung cấp cho tôi một số trang tài liệu quý về thành phố Vinh d­ới chính thể mới. Tư liệu ghi :

Sau Cách mạng Tháng Tám, ngày 24 tháng 01 năm 1946 Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra sắc lệnh số 02: “Cho đến khi có lệnh mới, các thành phố : Nam Định, Vinh – Bến Thuỷ, Huế, Đà Nẵng đều tạm coi như­ là thị xã. Các thị xã có thể chia làm nhiều khu, mỗi khu có một Uỷ ban hành chính. Các chính quyến nhân dân theo như ở các thành phố, chỉ khác là trong việc kiểm soát tỉnh sẽ thay kỳ và kỳ sẽ thay bằng chính phủ”

Nghĩa là tạm coi và chờ lệnh mới. Lệnh mới ấy vào ngày 28 tháng 01 năm 1961 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ­ương Đảng Lao Động Việt Nam ra nghị quyết 32/ND.BCT về việc quy hoạch, xây dựng Vinh thành một thành phố công nghiệp (sau 15 năm)

Và đến ngày 10 tháng 10 năm 1963 (thêm hai năm nữa) Hội đồng Chính phủ ra quyết định:

“Thành lập (nhẽ ra phải gọi là tái lập) Thành phố Vinh trực thuộc tỉnh Nghệ An. Thành phố Vinh gồm Thị xã Vinh cũ và xóm Trung Nghĩa thuộc xã Hưng Đông, huyện Hưng Nguyên.

Phải mất 36 năm Thành phố Vinh – Bến Thuỷ lùi lại mốc thị xã rồi được công nhận trở lại là Thành phố Vinh – thành phố loại III trực thuộc tỉnh Nghệ An. Và phải phấn đấu 20 năm để Vinh được xếp vào thành phố loại II.

14 năm sau kể từ cái mốc thành phố loại 2, nhân kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Thành phố Vinh nhà nước Việt Nam long trọng công nhận đô thị Vinh là thành phố loại I.

Anh Luật trầm ngâm :

– Cách chia các đơn vị hành chính của người Pháp chia theo tỉnh, theo huyện, có thể theo xã nữa về cơ bản là đúng, khó thay đổi được bởi vì họ dựa vào văn hoá rồi từ cái văn hoá ấy thành tâm lý vùng. Khi các tỉnh ấy, các vùng văn hoá ấy, cái vùng nhỏ ấy yên vị rồi nó xác lập tâm lý cộng đồng rất bền chắc. Ta có nhiều công sắp đặt thành cái lớn (gọi là tâm lý hiện đại) thì sau rốt cuộc rồi cũng phải tách ra, xét ngược lại nó đáng to ra thì ta nghiến răng nghiến lợi chặt ra rồi sau rốt vẫn phải hàn lại. Cái ông Brét Toh – một thầy giáo trường Quốc học Vinh nói hộ thành phố Vinh của Bắc miền Trung hắn giúp mối thông thương của Ai Lao (Lào) ra biển, ra đại dương. Hắn là sự gộp lại của Nghi Xuân, Đức Thọ, Hưng Nguyên, Nghi Lộc (Cửa Lò). Tương lai của hắn sẽ là thành phố nối liền với biển, khi ấy Vinh mới hoàn chỉnh. Vinh sẽ như Hải Phòng, như­ Đà Nẵng … là những ngôi sao thành phố của miền Đông Nam á và của cả châu á.

Tôi lục tìm trong mấy tập tài liệu mà người bạn mới của tôi – anh Đào Tam Tỉnh, Giám đốc Thư viện Nghệ An bỏ công sưu tầm, sao chụp gửi cho. Tôi rất sung sướng được ghi vào đây những số liệu này: “Cho đến ngày 08 tháng 01 năm 1998 Thành phố Vinh có 126 đường phố được đặt tên (đợt I và đợt II). đợt III hội đồng đặt tên Thành phố Vinh đã định danh trực tiếp cho 141 đường phố mới. Tổng cộng cả ba đợt Thành phố Vinh có 267 đường phố được đặt tên. Đặc biệt sau khi đường 3 tháng 2 hoàn thành nối Vinh với sân bay thì thành phố Vinh đã vươn ra xa và rộng thêm theo hướng Bắc và hướng Đông, nối với khu công nghiệp Bắc Vinh và khu nghỉ mát Cửa Lò, Cửa Hội. Đến nay thành phố Vinh đã có 17 phường, xã : Quang Trung, Hồng Sơn, Lê Mao, Cửa Nam, Đội Cung, Lê Lợi, Hưng Bình, Hà Huy Tập, Hưng Dũng, Trường Thi, Bến Thuỷ, Trung Đô, Đông Vĩnh, Hưng Đông, Nghi Phú, Hưng Lộc và Hưng Hoà.

Tôi thấy rất vinh dự được dẫn ra đây một đoạn viết của học giả, nhà văn hoá, nhà văn, Giáo sư Đặng Thai Mai để kết thúc phần viết này : “Nếu lấy núi Dũng Quyết, Thành phố Vinh làm tâm điểm, mở một khẩu độ compa, bán kính 20 cây số quay một vòng tròn thì gần như­ tất cả các danh nhân Nghệ Tĩnh (cũng là các danh nhân của đất nước) đều trong vòng tròn ấy. Cách 20 km về phía Tây có: Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế), Phan Bội Châu, Đặng Thúc Hứa, Hồ Chí Minh. Về phía Nam có Phan Đình Phùng, Trần Phú, Sử Đức Huy, Sử Hy Nhan, Ngô Đức Kế, Hải Thượng Lãn Ông, La Sơn Phu Tử (Nguyễn Thiếp), Xuân Diệu, Huy Cận, về phía đông có Nguyễn Xí, Ngư Hải, Phạm Nguyễn Du. Cách đấy 10 km có Phạm Hồng Thái, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Hồng Sơn, Nguyễn Biểu, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Trường Tộ … v.v.

Một người Pháp, một người thầy, một nhà nghiên cứu đã giúp chúng ta hiểu biết đúng với sự thật lịch sử sự hình thành đô thị từ ba thị xã Vinh, Bến Thuỷ, Trường Thi đến một thành phố Vinh – Bến Thuỷ và một vùng địa lý Vinh. Một bậc thầy – Giáo sư, nhà văn Đặng Thai Mai viết về Vinh – Một vùng văn hoá lớn của đất nước dầy đặc hiền tài, nhân tài. Và một người, một nhà nghiên cứu văn hoá, một nhà báo anh Đậu kỷ Luật luôn trăn trở với Văn hoá Xứ Nghệ, Văn hoá người Vinh

Còn tôi, một kẻ đến sau, sự hiểu biết còn nông cạn chỉ với lòng yêu của mình viết ra những điều còn nhiều khiếm khuyết, để gửi tới bạn đọc.

 

VII.

TƯƠNG LAI MỘT VÙNG DI TÍCH , DANH THẮNG QUỐC GIA

 Ngay trước buổi họp mặt, trao đổi về vùng di tích Trường Thi – Bến Thuỷ anh Nguyễn Đăng Chế đưa xe máy chở tôi đến nhà nhạc sỹ ánh Dương tác giả bài hát nổi tiếng “Chào em cô gái Lam Hồng” nguyên Trưởng đoàn văn công Quân khu Bốn. Ra cửa đón chúng tôi nhạc sỹ ánh Dương tươi cười nói ngay:

– Hội thảo hay trao đổi cũng được, miễn là các ông đừng có quên văn công (nay là Đoàn nghệ thuật) Quân khu Bốn đơn vị anh hùng. Ngày 05 tháng 08 năm 1964 máy bay Mỹ lần đầu tiên đánh Bến Thuỷ, đánh miền Bắc đoàn chúng tôi đây đóng quân trong doanh trại ở Phượng Hoàng Trung Đô

Nhà báo Trần Hợi, xoa cái cằm đầy râu c­ời rất tươi :

– Thế hoá ra khu Trường Thi – Bến Thuỷ có tới 16 đơn vị anh hùng.

Tôi cũng góp thêm :

– Còn hơn thế nữa, các anh đã tính Bảo tàng Quân khu Bốn, Nhà văn hoá Quân khu Bốn và cả Bộ Tư lệnh Quân khu Bốn đóng tại đất Trường Thi và khu Trung Đô núi Quyết vào đấy chưa.

Nhà báo Trần Hợi có mặt ở Vinh suốt thời kỳ chiến tranh và hiện gia đình anh ở trên đất Làng Đỏ Hưng Dũng thống kê như­ sau :

A. Các đơn vị Anh hùng :

1. Phà Bến Thuỷ (đơn vị hai lần được phong tặng anh hùng : Năm 1968 Anh hùng lực Lượng Vũ trang nhân dân, năm 1973 Anh hùng lao động).

2. Tự vệ Nhà máy điện anh hùng (Đơn vị Anh hùng lực Lượng Vũ trang nhân dân)

3. Tự vệ Nhà máy gỗ  anh hùng (trước đây là nhà máy Diêm Bến Thuỷ) (Đơn vị Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân)

4. có 03 đơn vị cảng Bến Thuỷ anh hùng (Đơn vị Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân)

5. Đồn công an số 05 anh hùng (Đơn vị Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân)

6. Trung đoàn 280 (đoàn Hồng Lĩnh) pháo cao xạ anh hùng. (Đơn vị Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân)

7. Trung đoàn 214 (đoàn Sông Gianh) pháo cao xạ anh hùng (Đơn vị Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân)

(Trung đoàn pháo cao xạ 233 (đoàn Đống Đa), Trung đoàn pháo cao xạ 222 (đoàn Ba Đình) và tiểu đoàn 12 pháo cao xạ Tỉnh đội Nghệ An thành tích xây dựng, chiến đấu xứng đáng anh hùng nhưng do nhiều nguyên nhân, chuyển sang làm kinh tế, chưa khôi phục lại được để đề nghị phong tặng Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân.)

8. Tiểu đoàn pháo cao xạ Nguyễn Viết Xuân anh hùng (Đơn vị Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân)

9. Tiểu đoàn 77 công binh quân khu Bốn anh hùng (Đơn vị Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân)

10. Dân quân phường Hưng Dũng (trước đây là xã Hưng Dũng – Làng Đỏ) anh hùng (Đơn vị Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân)

11. Dân quân phường Bến Thuỷ (trước đây thuộc xã Hưng Thuỷ) anh hùng (Đơn vị Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân)

12. Dân quân, tự vệ phường Trung Đô (trước đây là khu phố 05) anh hùng (Đơn vị Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân)

B. Các cá nhân anh hùng : 

1. Nguyễn Hữu Tùng (lái phà Bến Thuỷ) (Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân)

2. Nguyễn Trọng Tường (lái phà Bến Thuỷ) (Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân)

3. Huỳnh Ngọc Đủ (Nhà máy điện Vinh) (Anh hùng lao động)

4. Trương Xuân Thâm (Nhà máy điện Vinh) (Anh hùng lao động)

5. Hoàng Thị Liên (Cửa hàng trưởng cửa hàng ăn uống Bến Thuỷ) (Anh hùng lao động)

6. Trần Đình Lư  (Trưởng đồn công an số 05) (Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân)

Thời kỳ ở báo Quân khu Bốn anh Trần Hợi làm ảnh nhiều hơn. hôm gặp mặt trao đổi ở thư viện tỉnh Nghệ An anh đã cho tôi tấm ảnh luật sư Nguyễn Hữu Thọ – Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đến thăm phà Bến Thuỷ khi Mỹ đánh phá miền Bắc. Trong ảnh có đồng chí Quách Sỹ Kha – Phó Chính uỷ Quân khu, đồng chí Phan Văn Đường – Chủ nhiệm Chính trị Quân khu. Người nhận quà là Đại đội phó đại đôị 33 Nghiêm Bá Soạn (khi đó phà Bến Thuỷ còn do quân đội quản lý). Tôi đã rất xúc động khi nhận tấm ảnh này bởi vì bức ảnh đã gợi lên trong tâm trí tôi hình ảnh những ngày tháng khi máy bay, tầu chiến Mỹ đánh phá ác liệt nhất (năm 1968và năm 1972) Đại đội 8 của tôi, tiểu đoàn 25 của tôi, trung đoàn pháo cao xạ 233 (Đoàn Đống Đa) yêu dấu của chúng tôi ôm phà với quyết tâm : “Mình có thể hi sinh nhưng phà không thể tắc”. tôi lặng nhìn những ng­ời bạn tôi có mặt trong phòng : Nhà văn, nhà báo Bùi Sĩ Hoa –  Tổng biên tập báo Nghệ An, nhà văn, nhà báo Nguyễn Thị Phước – Tổng biên tập tạp chí Sông Lam, nhà thơ Quốc Anh, Nhà phê bình văn học Lê Quý Kỳ, nhà báo Mai Hồ Minh – tạp chí Văn hoá Nghệ An, các anh, các chị đến đây không phải vì là bạn của tôi mà vì một điều lớn lao, góp phần vào định giá Vinh – Trường Thi – Bến Thuỷ về lịch sử và văn hoá. Có thể vì những lý do nào đó người ta bỏ quên sự thật, lãng quên sự thật, buông trôi để những giá trị chìm sâu nhưng lịch sử không sao nhãng như vậy. Lịch sử sẽ đưa chúng ta nhận đúng những giá trị thật mà ta vẫn gọi lên một cách trân trọng : Giá trị Lịch sử – Văn hoá.

Tôi một mình đi đến Quảng trường Hồ Chí Minh. Tôi có thói quen mỗi khi về vinh có điều kiện ở lại thì thế nào cũng phải giành thời gian tới quảng trường. Hôm nay tôi đứng im lặng tĩnh tâm một lúc trước tượng Bác rồi xin phép vòng ra phía sau đi lên ngọn núi Chung thu nhỏ. đứng ở đây có thể nhìn bao quát cả vùng rộng lớn Trường Thi – Bến Thuỷ – Núi Quyết. Quảng trường Hồ Chí Minh ở ngay trên đất Trường Thi. Ngay phía trước quảng trường ở bên kia đường là di tích Quán Lau, Chợ Bắc Kỳ. Có lẽ khu nền nhà máy xe lửa Trường Thi ở gần đây thôi, trong đầu tôi vẫn không thể rời bỏ cái ý nghĩ ấy. Hoặc có thể khu nhà Bộ Tư lệnh Quân khu Bốn nằm trên một phần nền nhà máy xe lửa Trường Thi. Tôi nhớ một chuyện nhỏ nhớ đời đến giờ nghĩ lại mặt vẫn còn nóng lên. Tháng 8 năm 1968 đại độ tôi ôm phà bị máy bay Mỹ đánh liên tục trung đoàn cho phép lui ra giữa làng Hưng Thuỷ, lại bị đánh tiếp, tôi đề nghị cho đơn vị qua khu ruộng sang mé khu tập thể nhà máy gỗ còn nhiều các bụi cây cơm xôi và cây phi lao cho kín đáo. Nhà bếp hết củi đun, không biết ma xui quỷ khiến thế nào tôi vào nhà bếp lấy chiếc Gát 63 dẫn mấy trinh sát và anh nuôi ra khu nhà Bộ Tư lệnh Quân khu dỡ các xà gồ trên mái đã bay hết ngói, chất lên xe đem về làm củi nấu cơm. được lưng xe bỗng có người xuất hiện. Không phải là vệ binh vì ngôi nhà bỏ không mà là một cụ già tóc bạc trắng xoá trong ánh pháo sáng. Cụ già nói : “Con ơi, ta là đảng viên, đảng viên 30, 31. Ta thấy con mặt mũi sáng sủa nghĩ rằng nói con hiểu. Con ơi, giữ lại khu nhà làm chứng tích chiến tranh con ạ ! Mặt tôi nóng bừng, bỗng nhiên tôi lại trở thành kẻ ăn trộm chứng tích của một thời khốc liệt. Hai cánh tay tôi duỗi ra mất hết sức lực. Tôi nhắc nhỏ anh em chuyển số xà gồ trên xe xuống. Cụ già đứng bên tôi nói : “Là ta nói vậy, Số ni mang về cho anh em nấu cơm ăn mai còn đánh tiếp. Từ sau không đ­ược dỡ nữa nghe con !”. Tôi đi về phía cửa Đông, trước mặt tôi là Hưng Dũng (Yên Dũng Thượng), chếch bên phải là Hưng Thuỷ (Yên Dũng Hạ). Thời điểm chiến tranh Hưng Thuỷ còn ác liệt hơn cả     Hưng Dũng.

Tôi đi về phía Quốc lộ số 1 đoạn đường từ cầu Thông xuống Bến Thuỷ, núi Quyết nơi tôi và tổ trinh sát đêm đầu tiên đến Vinh đã đi bộ từ sân bay về Bến Thuỷ, lấy núi Quyết làm chuẩn để tìm trận địa tiểu đoàn pháo cao xạ 12 A tỉnh đội Nghệ An. Qua nhà văn hoá Quân khu Bốn, một địa chỉ văn hoá của cả vùng Thanh – Nghệ – Tĩnh, Bình – Trị – Thiên. qua Bảo tàng Quân khu Bốn, nơi lưu giữ nhiều hiện vật quý giá của lực lượng vũ trang quân khu và hiện vật của biết bao liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam tại Lào. Nơi mà anh Thành – Giám đốc bảo tàng phát biểu trong lần gặp mặt ở đó đang lưu giữ 14 hiện vật quý của phà Bến Thuỷ hai lần anh hùng. Đi xuống nữa bắt gặp cửa hàng ăn uống phục vụ thời chiến tranh (giờ đã là khách sạn Bến Thuỷ) của nữ anh hùng lao động Hoàng Thị Liên. Rồi ta sẽ bắt gặp nhà máy điện Vinh anh hùng. Nơi đây ngày 14 tháng 06 năm 1957 sau 50 năm xa cách Bác Hồ trở về thăm quê. Người đến Bến Thuỷ thăm Nhà máy điện Vinh. Bác nói chuyện với chuyện gia Liên Xô, công nhân, nhân dân Bến Thuỷ : “Các cô, các chú được giao quản lý tài sản quý báu này. Các cô, các chú cố gắng lên, đừng để cảnh nghèo nàn, lạc hậu trở lại trên quê hương Xô Viết chúng ta”. Rồi đến Nhà máy gỗ anh hùng, gặp cột đèn ngã ba nơi diễn ra cuộc biểu tình khổng lồ ngày 01 tháng 05 năm 1930 (Vị trí này hiện có mọt nhóm tượng  công nông nhỏ). Rẽ phải vào chân núi gặp ngay ngôi nhà vĩ đại của anh Nguyễn Đăng Chế và đồng đội.

Tôi tìm đường lên núi Quyết. Ta quen gọi là núi Quyết, trên bản đồ quân sự vẫn ghi là núi Dũng Quyết. Từ thời Vua Quang Trung đã gọi là núi Dũng Quyết. Trong chiếu của chính Bình Vương Nguyễn Huệ gửi La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp ngày 03 tháng 09 năm Thái Đức thứ 11 có đoạn ghi : “Xã Yên Trường (Vinh – Núi Quyết) hình thế rộng rãi, khí tượng tươi sáng, có thể chọn để xây dựng kinh đô mới. Thực là chỗ đẹp để đóng        đô vậy”.

Trên núi Quyết hiện thời có đền thờ Hoàng đế Quang Trung nguy nga, cạnh đó, trên đỉnh 102 – đỉnh cao nhất của núi Quyết có di tích trận địa đại đội 6 trung đoàn 214 (đoàn Sông Gianh) bị máy bay Mỹ đánh ba ngày liên tục. Cả đại đội hi sinh, chỉ còn lại ba chiến sỹ. Năm 1972 cũng ở trận địa này đại đội 2 tiểu đoàn 2 trung đoàn pháo cao xạ 233 được các đơn vị bạn phối hợp trong 02 phút bắn rơi 03 máy bay Mỹ.

Tôi nhìn về phía kho xăng Hưng Hoà chỗ khúc ngoặt của đê sông Lam, nơi trận địa nữ dân quân làng Đỏ đón lõng máy bay Mỹ bay thấp, và tại trận địa này họ đã hạ tại chỗ chiếc máy bay F4 hiện đại của không lực Hoa Kỳ vào tháng 09 năm 1968.

Tôi nhìn ra xung quanh, một vùng non sông thuỷ tú, phía Tây có Núi Thành, lỵ sở của Nghệ An thời kỳ trước Vinh, sông Lam giăng mắc các điệu Ví Dặm, Giận – Thương đề làm nên các kiệt tác âm nhạc : Xa Khơi, Tiếng hát sông Lam, Giữa Mạc Tư­ Khoa nghe câu hò Ví Dặm, Khúc hát sông quê. Và kia Hồng Lĩnh 99 ngọn, có núi Ông, núi Bà và chùa Hương Tích có từ thời nhà Trần, sớm hơn chùa Hương Tích của hà Tây (nay thuộc Hà Nội) ba, bốn thế kỷ. Hồng Lĩnh, Sông Lam đã làm nên biểu tượng Lam Hồng. Tôi nhớ tới nhạc sỹ ánh Dương tác giả bài hát Chào em cô gái lam Hồng. Có lẽ phải khôi phục lại các di tích lịch sử với nguyên dạng của nó vừa không tốn kém vừa tin tưởng vào giá trị chân thực của lịch sử. Có lẽ phải làm hệ thống cáp treo nối núi Dũng Quyết với Hồng Lĩnh, các ca bin chứa người ngồi bên trong có mang hình dáng phà Bến Thuỷ, hình các xe vận tải, hình các khẩu pháo cao xạ, hình các quả tên lửa SAM 2 để có một đèn kéo quân khổng lồ ghi dấu lại một thời kỳ oanh liệt của người Vinh, người Xứ Nghệ.

Tôi lặng lẽ xuống núi một mình. Tôi có cảm giác linh hồn các liệt sỹ đồng đội đang xuống cùng với tôi.Tôi đi nhanh. Tôi có cảm giác mình có thể bay lên được.

Thật tình cờ hôm cùng đoàn nhà văn Hội Nhà văn Việt Nam đi đường Trường Sơn – Hồ Chí Minh quay ra, các khách sạn Vinh đã chật dân Hà Nội, dân Bắc vào nghỉ mát tại bãi biển Cửa Lò. Các anh chị ở Khu quản lý đường bộ Bốn quản lý các tuyến đường từ Nghệ An đến A Lưới đưa chúng tôi vào khách sạn lữ hành Bến Thuỷ, đúng cái cửa hàng ăn uống phục vụ chiến tranh của anh hùng lao động Hoàng Thị Liên.

Anh em trong đoàn có người bảo khách sạn thiếu tiện nghi, còn tôi thì khấp khởi mừng thầm. Sáng sớm tôi đi vào Hưng Thuỷ, rẽ vào con dốc nhỏ, tôi hỏi ngôi mộ liệt sỹ đặt trước cửa một gia đình. Chủ nhà trả lời : “Đã đưa vào nghĩa trang”. Vẫn còn đây cây cầu nhỏ qua hói tôi dắt chiếc xe Gát 63 kéo pháo, bánh xe, bánh pháo vừa khít mép cây cầu, chỉ cần hấp tấp, sơ sẩy một tí thôi khẩu pháo và chiếc xe sẽ lăn kềnh xuống bùn nước.

Trận địa Cây Dừa đây rồi. Cây dừa vẫn còn đây, đã già nua, các vết thương trên thân cây do mảnh bom, vết đạn pháo thẫm đen theo thời gian. Các căn nhà đã lèn kín khu đất. Trận địa đại đội 3 pháo 57 ly của anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân Nguyễn Huy Hồng không còn dấu vết, trận địa của đại đội 10 ở bờ nam gần núi Cơm với giỗ trận ngày 06 tháng 09  tôi bỏ công tìm mãi cũng chả thấy dấu tích gì !

Tôi quyết định quay lại trận địa Cây Dừa, theo đường tìm ngôi nhà thân quen mà tôi đã từng một lần đứng rất lâu bên bờ hoa me đất tím biếc. Hỏi qua vài người tôi vào đúng khu đất cũ. Ngôi nhà cũ vẫn còn nhưng cũng có một ngôi nhà tây mới thay vào vị trí chủ chốt. Bà mẹ Thứ vẫn nhận ra tôi. Mẹ kêu lên : “Con đã về đấy à ?”. Tự dưng tôi muốn khóc. Hoàn con trai lớn vào lính đến cấp Trung tá đã về nghỉ hiện làm Bí thư­ chi bộ tổ dân phố. Hoàn nói : “Bà năm nay tròn 90 tuổi hôm qua bọn em vừa mừng tuổi thọ bà”. Bà nhận ra anh từ ngoài sân tê, bà còn minh mẫn lắm. Tôi bùi ngùi, nghĩ bà đã mất, lại đi bộ vào tìm, không kịp mua quà gì. Bà cụ giúp tôi thoát khỏi lúng túng nói cười hiền hậu :

– Con Xuân với đám bạn tối qua kéo về khách sạn Bến Thuỷ (chỗ tôi ở) hết chỗ phải sang khách sạn tư nhân Phú Mỹ đối diện bên kia đường – Bạn hắn ở đấy còn hắn vô ôm lưng mẹ ngủ Bọn hắn vừa kéo nhau đi xong;

Tôi lặng người không nói được gì, có lẽ cái tình cảm chung vẫn không cho tôi chút riêng tư gì ở chốn này. O Xuân ra trận địa tôi sau ngày nhà bị bom cháy, đòi cưỡi đầu chiếc A7 rồi hỏi tội đã rồi mới tính chọn ai. Bà cụ nói Xuân học xong phổ thông rồi đi học đại học Thương nghiệp. Tốt nghiệp ra dạy trường trung cấp rồi lấy một ông lái xe trước ở binh trạm đây. Hắn đã có ba cháu ngoại. Bà cười : “Đẻ toàn vịt trời” rồi bà nắm lấy tay tôi dặn :

– Nhớ khi mô về Vinh thì phải đến đây chơi. Cả mẹ, cả cái Xuân may mà sống được, không thì cũng chết ở đây vào cái thời năm 1968, 1972 rồi. Mẹ vẫn coi con là con.

Tôi chợt bừng tỉnh – Tôi chợt nhận ra mẹ cũng là một chứng tích, một di tích của chiến tranh, di tích của người dân, của lòng người Vinh, người    xứ Nghệ.

Bỗng dưng tôi lại nhớ đến câu thơ của Vua Trần Nhân Tông đọc lên trong lúc thế nước vô cùng gian nan trước năm mươi vạn quân Nguyên Mông xâm lược :

Cối Kê chuyện cũ ta còn nhớ

Hoan – Diễn dư tồn thập vạn binh

Để kết thúc loạt bài viết này, tôi xin trích lời cố Tổng Bí thư­ Lê Duẩn trong lần về thăm Đảng bộ tỉnh Nghệ An năm 1961. Đồng chí Lê Duẩn đã nói :

“Trong nước ta hàng ngàn năm nay Nghệ Tĩnh là nơi xây đựng để chống ngoại xâm, giữ vững nước nhà. Khi nào ngoài Bắc mất người ta lại vào đây để xây dựng lực lượng, xây dựng sức mạnh để giải phóng cho cả nước. Do cái cơ sở truyền thống đó mà chúng ta không lấy làm ngạc nhiên ở Nghệ Tĩnh đã sinh trưởng ra nhiều vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta. Cái đó không phải tình cờ mà là lịch sử tự nhiên, lịch sử lâu dài, lịch sử xây dựng kiến thiết đã hun đúc tại Nghệ Tĩnh nhân dân anh hùng, cần cù lao động và có nhiều năng lực phi thường”.

Vâng cái năng lực phi thường ấy, sẽ không bỏ qua mà sẽ xây dựng lên tại Trường Thi – Bến Thuỷ – Vinh một vùng di tích, một danh thắng đúng như vị trí vùng đất này cần phải có.

19 tháng  8 năm 2008
30  tháng 04 năm 2010 

Đại tá –  Nhà văn Đào Thắng

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s