DỌC MIỀN TRUNG (19)


ĐÀO THẮNG

logosach

VI.Đồng đội

Hồng treo võng nằm ở hậu cứ. Từ chiều hôm qua, anh thấy cắt cơn sốt. Mặc dù ở lại cũng chỉ mất thêm người săn sóc lo toan nhưng phải rời khỏi tiểu đội lúc này, anh thấy như mình là kẻ trốn tránh. Về đến hậu cứ, Hồng nằng nặc đòi ở lại đây không đi viện nữa với lý do chưa đến mức phải đi điều trị. Đồng chí quân y sĩ của đơn vị pháo đất đến khám và cho ở lại.

Quang đưa Hồng ra đây, trước khi về, Quang mắc cho tiểu đội trưởng chiếc võng ở cửa lán, một đầu buộc vào cây quế. Quang tủm tỉm dặn Hồng thỉnh thoảng nhấm tí quế, thứ lá này cũng kỵ sốt rét lắm.

Sáng nay Hồng cố dậy đi lại vài bước cho đỡ tù cẳng. Anh thấy người choáng váng phải vịn vào cây lần từng bước. Anh mở ba lô lấy ra tập thư xem của những ai. Sơn mang thư ở tiểu đoàn về bảo anh không có thư. “Sao cô ấy không viết cho anh nhỉ ? Không biết con bé Hương có khoẻ không ?”. Anh thấy nỗi nhớ con trào lên. Lần anh về thăm nhà trước, lúc đi nó theo mẹ đi tiễn bố. Nó không cho mẹ bế, đòi mẹ dắt tay. Con bé mới năm tuổi mà khôn như ranh, trẻ con bây giờ thông minh hơn các anh trước nhiều. Ai đời về được mấy ngày, chiều nào con anh cũng chống chiếc gậy nhỏ sang nhà bà ngoại gần đấy ngủ. Anh hỏi sao lại đi mà không ở nhà ngủ với bố, nó bảo : “Con thích ngủ với bà”. Vợ anh bắt ở nhà ngủ, nó khóc. Hai hôm sau, mẹ vợ anh cõng con Hương sang, bà khoe : “Anh chị không biết chứ cháu tôi ngoan lắm. Cha đời nó, đêm ngủ nó nói với tôi thế này : “Bố về mấy ngày rồi phải đi ngay, cháu sang ngủ với bà cho bố mẹ nói chuyện. Cha con mẹ đẻ ra nó, con với cháu khôn ơi là khôn”. Bà vỗ vỗ vào mông con bé, kéo đầu nó đang giấu vào vai bà ra thơm lấy thơm để. Nghe mẹ vợ nói, Hồng vừa thương con vừa ngượng. Không biết ai dạy nó không biết ?

Nghĩ lại chuyện ấy, Hồng thấy vai mình rung lên anh rút lá thư của Đ.T ra xem ai gửi : thư của Xuân.  Anh nhẹ nhàng bóc lá thư, của ai chứ của Đ.T anh bóc được. Hai người ở với nhau thấm thoắt đã gần nửa năm rồi. Ngày anh về nhận tiểu đội trưởng chỉ huy ở đại đội này chính trị viên Hiền giới thiệu anh với đồng chí tiểu đội phó đang trực ban trinh sát. Cậu ta đẹp trai, người cân đối, khuôn mặt trái xoan, sống mũi thẳng và cao, miệng hơi mím. Hiền chỉ cậu ấy nói với anh:

– Đây là đồng chí Đ.T, A phó, tổ trưởng trinh sát. Còn đây là đồng chí Hồng về làm A trưởng. Các cậu  nói chuyện với nhau đi !

Đ.T nhìn anh chăm chăm, đôi mắt hơi buồn, ánh mắt xuyên thăm thẳm. Hai bên chào nhau mấy câu, Đ.T nói :

– Anh về tiểu đội trước, tôi bận trực một lúc nữa.

Hồng thấy hơi bực : “Gớm trực nghiêm thế, cứ làm như mình không ở cao xạ bao giờ !”. Sau này anh mới rõ, đó là bề ngoài và ban đầu. Đ.T trực ban bao giờ cũng nghiêm. Cậu ấy sống nhiệt tình, chân thành, thẳng thắn. Mùa đông, Đ.T với anh ngủ chung một màn, có lần Đ.T thủ thỉ : “Quê tôi bây giờ đang mùa mía, các cô gái đi chặt mía mặc áo mầu, má hồng căng trong gió hanh. Họ nghịch ghê lắm, thử người yêu bằng cách xem anh chặt mía có nhanh, chọn mía có giỏi không !”.

Hồng đọc nhanh lá thư của Xuân. Xuân viết ngắn, cô hỏi sức khoẻ của Đ.T, nói đến nỗi nhớ anh của cô. Cô dặn anh phải gìn giữ sức khoẻ khi vào chiến trường. Cuối cùng cô nhắc: có dịp trở ra nhớ ghé thăm căn nhà cháy của cô. Dưới bức thư là dòng tái bút : “Có lần em đi qua bãi mía nhà anh nhưng em không dám vô !“. Hồng lật đằng sau, cô gái chua thêm mấy dòng chữ dài. Anh đọc đi đọc lại, bật cười, gấp lá thư cho vào phong bì để chung vào túi cóc ba lô. Hồng thấy nhớ tiểu đội bồn chồn, anh đứng dậy bám theo cây đi. Bỗng con chó của tiểu đội gửi ở hậu cứ chạy đâu về hít vào chân anh mấy cái, ngoáy cái đuôi trắng xù to tướng như một nắm bông, nó ngước nhìn anh. Nó quay đầu chạy lên một quãng, dừng lại vừa giật lùi vừa sủa ông ổng. Biết có người lạ, Hồng nghển lên nhìn, thấy mấy cô gái đi ở mạn trong về. Một cô vượt lên, tay cầm gậy đuổi theo doạ con chó.

– Ai đánh chó của nhà tôi đấy ? – Hồng cất giọng.

Cô ta dừng lại cười, quẳng chiếc gậy đi :

– Chó của các anh bộ đội dữ khiếp !

Không đợi Hông hỏi gì thêm, cô bước đến gần anh :

– Anh cùng ở đơn vị với anh Đ.T phải không ạ ?

– Vâng ! O quen anh ấy à ?

Hồng trả lời vậy nhưng trong đầu anh nghĩ. “Các tướng quen được các o này ở đâu không biết ?”.

Thấy Hồng nói vậy, cô gái quay đầu ra gọi to :

– Yêm ơi, nói bọn hắn vô đây !

Đợi cho mấy cô gái đến gần, cô chỉ tay :

– Con dâu của đơn vị anh đó !

Yêm đi sau cùng nghe nói thế, má cô đỏ chín. Hồng nhận ra cô gái ở bãi gianh hôm trước hỏi luôn :

– Có phải o kia không ?

– Trúng rồi đó !

Các cô gái cười rộ lên. Yêm đi dấn lên mấy bước như để lấy lại bình tĩnh, cô nói

– Anh Phúc dặn em khi mô gặp anh Đ.T nói lên chỗ anh ấy chơi.

– Phúc nào nhỉ ? – Hồng ngạc nhiên hỏi.

– Anh Phúc nói đã ngủ với anh Đ.T một hầm trên đài quan sát pháo.

Hồng nhớ ra Phúc là người dẫn đường cho đơn vị hôm hành quân vào “kiềng”. Cậu ta ở đài quan sát cơ mà. Như để trả lời cho suy nghĩ của Hồng, Yêm nói tiếp :

– Anh Phúc bị thương đang nằm viện.

– Phúc bị thương à ? Có nặng không o ?

– Bữa nay đỡ rồi anh ạ. Anh Phúc nói anh Đ.T quen em gái anh ấy.

Hồng “à” một tiếng. Đ.T ỉm đi không nói với anh một tiếng nào, hay là Đ.T chưa biết Phúc là anh của Xuân. Anh gạt ý nghĩ vô lý ấy đi. Hồng muốn viết cho Phúc mấy dòng, anh nhìn Yêm :

– O Yêm có nhớ tôi không ? Các o đợi tôi một lát nhé !

Yêm nhận ra Hồng từ đầu nhưng lại đáp :

– Em nỏ nhớ mô !

Hồng cầm bút viết lên tờ giấy xé từ quyển sổ.

Hồng đưa bức thư cho Yêm dặn :

– O đưa hộ anh Phúc giúp tôi nhé !

Yêm muốn hỏi Hồng mấy câu về Quang, nhưng không nói lên được, may sao cô bạn bên cạnh đã hỏi giúp :

– Anh Quang, anh Trọng khoẻ không anh ?

– Khoẻ lắm, Quang mới về qua đây. à, bao giờ có dịp tôi phải bắt các tay này dẫn đến họ nhà gái mới được.

Các cô gái chào Hồng ra về. Đi đến bờ suối, cô đầu tiên quay lại chọc:

– Các anh để họ nhà gái đến thăm trước rồi đó. Bộ đội bắt nạt dân công để “cọc đi tìm trâu”.

Họ rồng rắn kéo nhau đi để lại tiếng cười lảnh lói.

… … …

Trời mưa liền ba hôm. Ngày đầu mưa còn nhỏ, hôm sau mưa to hơn. Mưa rừng Quảng Trị giội sầm sập như ném đá. Con suối khô dưới chân “kiềng” nước lồng lên trắng xoá, réo rầm ầm. Trung đội 1 đi làm “kiềng” dự bị.

Sau ngày pháo địch tập trung đánh vào đồi 161, đồi 175, những bụi lách um tùm bị phạt đi mất nhiều. Một chiếc Utiti luồn dưới khe bắn mấy phát cối vào cạnh hầm ngủ tổ chúng tôi. Tuy địch mới đánh thăm dò, chính trị viên Hiền cũng bàn với Văn Thành chuẩn bị “nhà” mới cho xong, khi cần bốc sang đó được ngay.

Tôi về gần đến “kiềng”, mưa càng dữ, gió cuốn ào ào quất những đường mưa vào người ràn rạt. Tiểu đội vừa chạy pháo một cú bở hơi tai ở con suối trạm quân y. Con suối trước cây cối um tùm là thế bây giờ cháy sạch. Những bụi lách tươi chưa cháy hết bị pháo phạt cụt, ngọn xé tướp ra tua tủa như một bãi thép gai. Từ “kiềng” cũ sang “kiềng” mới qua đoạn ấy, đường đi nhiều chỗ lội dưới nước sâu ùm ùm.

Tôi nằm xuống cái hốc đá cho nước giội lên người nhè nhẹ. Một bóng người nhảy vọt qua đầu. Tôi ngó lên thấy Trọng tay cầm chiếc gậy đuổi theo Cư mập đang trần trùng trục chạy vào “kiềng”. Tôi đứng dậy, để nguyên quần áo ướt đi đến hầm ngủ. Nước ở ngoài chảy vào hầm lách rách, dòng nước đỏ như gạch non theo cửa hầm trườn ra ngoài. Đêm hôm kia ngủ ngồi, đêm qua không ngủ được. Quần áo, ba lô bọc lại mang ra ngoài che ni lông. Sáng nay, Quang kéo hết lách tươi lát nằm vất ra ngoài. Lách tươi ngấm nước thối rất nhanh, mới hơn một ngày đã bốc mùi khó chịu. Tôi cầm xẻng đào cửa dốc thêm cho nước chảy nhanh hơn, nóc hầm đậy “tăng” ni lông rất kín nhưng nước theo sườn đồi chảy ngầm. Chả lẽ chịu ngồi suốt một đêm nữa không ngủ được, mưa này làm quần quật, đổ ốm hết mất. Tôi oải người bước đi lên nóc hầm, nước tràn qua tăng ni lông chảy xuống suối. Đứng nghĩ một lúc, tôi bảo Trọng dận lại tăng cho thật kín rồi gọi Quang mang xẻng ra cùng đào. Tôi với Quang hì hục xẻ một con hào nhỏ mé trên vòng qua hai đầu hầm, đào thật dốc, nhất định nước trong hầm ít hơn. Trời đã tối, bụng tôi cồn cào  đói, nước ngấm vào người rét quá, chân tay run lập cập. Tôi cố nghiến, bạnh quai hàm, răng vẫn va vào nhau như đánh ma níp. Chung đi phát lương khô cho từng hầm, mắt Chung hốc lại trông già hẳn đi. Chung nói với giọng nhận lỗi :

– Củi hết sạch, mưa này các ông ăn lương khô thì đổ hết. Mai mình đi kiếm cây gỗ to bỏ ngoài đi lấy ruột xem có nhóm được lửa không.

Tôi lặng nhìn Chung :

– Ông cũng lương khô chứ có cơm đâu. ở dưới ấy, hầm có nhiều nước không ?

– Đâu cũng vậy thôi.

Quang vuốt nước mưa ở mặt gọi :

– Nước trong hầm đỡ chưa, ông “mõ xóm ” ơi !

Trọng réo váng lên  trong hầm :

– Rút rồi, triển vọng lắm. Tớ hồi hộp theo dõi, giờ mới dám thông báo đấy.

Cậu ta chạy ra ngoài huơ chân múa tay :

– Thủ trưởng có cách rồi. Cư mập ơi !

– Ông Thành ơi. Có cách … rồi !!!

– Cách gì đấ … y !

Trọng “mở băng” “phát” câu đùa của lính :

– Cách … Thủ trưởng lựa chiều dẹt !!!

Thành doạ :

– Cái thằng “mõ” ba toác này, phải lột quần dìm xuống suối. Nói nghiêm túc xem nào.

– Đào hào, đào hào ngăn nước! Có thế mà các bố cũng không nghĩ ra.

Các hầm chạy đến tham quan, xong rồi làm luôn. Tôi cởi hết quần áo chui vào hầm. Hầm tối như hũ nút, Trọng đang dùng xẻng con xúc đất. Xúc một nhát cậu ta lại thốt lên: “Dưới khô!” tôi dùng tay sờ, khô thật. “Kiềng” ở vào sườn đá rất dốc nên hớt lớp đất lẫn đá đi dưới hơi khô. Cả ba ra sức xúc đất, bốc đá ném ra ngoài. Tôi rạch thêm một cái rãnh con xung quanh cho có tí nước nào rỉ ra tống đi luôn. Ngồi được rồi. Tôi ngừng tay :

– Chén đã.

– “Đớp” thôi ! Đói hung rồi ! – Trọng đồng tình ngay.

Có cách nào làm tí lửa chứ. Tôi ra ngoài đội áo mưa mở ba lô lấy ra mấy dây cao su trong bộ quai dép dự trữ đốt lên. Căn hầm bừng sáng. Bỗng nhiên Trọng lăn ra cười. Tôi chưa kịp hiểu gì, Quang cũng ngả người vào thành hầm cười. Tôi dốc chiếc quai dép cho ngọn lửa cháy to, chiếc quai dép suýt rời khỏi tay. Tôi bật cười, cười không nhịn được, cười không đứng lên được nữa. Cười chán, tôi cố dừng lại gắ :

– Sắp hết “đèn” rồi ăn đi ! Toàn đực rựa với nhau thôi. Trở về nguyên thuỷ một lần cho biết mùi.

Trọng ăn lương khô không dám bỏ miếng to vào mồm sợ sặc, cậu ta thò đầu ra cửa hầm, gọi sang bên cạnh:

– Nổi lửa lên chưa, Cư mập ơi ?

– Nổi hung rồi …

Trọng quay lại :

– ở đây mà nổi lửa lên em, nhảy !

– ừ. Hay. Lúc đó các nàng trở về thành các bà EVa của thiên chúa giáo.

Ăn xong, tôi mang bọc vào lấy tấm ni lông trải xuống dưới, dùng bạt võng trải lên trên. Quang mắc một chiếc màn. Cả ba quặp chặt nhau lầm rầm hát.

 

Ai đã tới miềng quê em Quảng Trị, Thừa Thiên

Qua Đường Chín tỉnh Gio Linh lắng trong giọng hò

Bữa ni em đi tải đạn qua dốc đèo qua núi qua khe

Qua Đường Chín phơi phới niềm tin thắng lợi ngày mai.

Hát hết mấy câu họ lăn ra nằm nghiêng, úp thìa ngủ một mạch tới sáng.

… … …

Bầu trời thấp như với được. Mây trắng xám đậu hết ngọn đồi này lại đến đậu trên một ngọn đồi khác như một sự đùa trêu cố ý. Mưa đỡ hẳn, hiền đi không còn vẻ hung dữ ban đầu. Trời này máy bay phản lực cánh quạt xếp cánh. Bọn Mỹ trong các căn cứ bắn pháo cả ngày. Quang xuống suối chặt lách làm hầm, chặt xong một bụi, Quang ôm cây lách lội dọc theo suối nước đến ngang lưng. Đi được mấy bước, một loạt pháo bi nổ như rang ngô trên sườn đồi, anh kéo ôm lách rẽ lên hầm. Loạt pháo thứ hai nổ ngay cạnh Quang. Anh nằm soài ra, mảnh văng xuống nước xèo xèo. Quang nói thầm : “Thằng Vua chiến trường Một trăm bảy lăm ly rồi. Để cụ mày lên đồi đã”. Chờ một tí, Quang lao lên chỗ tôi. Một tốp F105F bay vút qua đầu. Tôi nói với Quang :

– B52 rồi, bay kiểu này nó đánh đồi Không Tên.

Trọng chạy về hầm. Ba loạt bom nối nhau nổ ầm ầm. Dứt loạt ba, Trọng kéo tay Quang :

– Lên vác nốt mấy đoạn gỗ với tớ, nhân thể xem bụi hồ tiêu.

Tôi cười :

– Không phải hồ tiêu đâu, lúc nãy mình cũng tưởng lầm, khi ngắt quả hoá ra trầu không rừng.

Quang ngồi xuống một đoạn gỗ nói :

– Tôi nghe nói trước kia dân ở đây trồng nhiều hồ tiêu lắm. Hồ tiêu tốt bắc thang hái cơ mà. Hồ tiêu đấy. Lá tiêu thơm cay mùi trầu không ?

– Đúng đấy, mình đọc một tài liệu trong đó nói : Quảng Trị có bốn cao nguyên. Cao nguyên Cửa Tùng, cao nguyên Bát Phường, cao nguyên Cùa và cao nguyên Hương Hoá. Chỗ này là thuộc cao nguyên Bát Phường. Đất đỏ quanh đây sau này lập một vùng trồng hồ tiêu, cà phê giá trị lắm.

Trọng dựng cái xẻng to đứng chống cằm tán góp:

– Lúc bấy giờ anh làm giám đốc, chị Xuân làm trưởng ban kỹ thuật, tôi xin chân giữ thư viện thôi.

Tôi không dấu được tiếng cười :

– Chủ tịch không dám nhưng thế nào cũng xin đọc kỳ hết sách trong thư viện của ông rồi gắng viết quyển dư địa chí vùng bắc Quảng Trị. Đi thăm nhau, mình cho con đi, nó gọi ông là chú. Chú Trọng có chòm râu đen hẳn hoi chứ không như bây giờ tí tuổi đầu đã phát râu ngô, ai chế cho phải lập luận : “Sao con mèo mới đẻ đã có râu?”.

Trọng lảng chuyện, chĩa mũi nhọn sang Quang :

– Cậu khi ấy đến bên hầm này mà làm thơ, đi đâu phải buộc cái Yêm đi sau, đề phòng xúc động quá ngất đi có người cấp cứu luôn.

Quang nghĩ một câu thật ác để xỉa Trọng, tiếng quát của Thành đằng kia làm anh giật mình :

– Tán gì mà rôm rả thế, có nghe “linh năm ép” nó bay không ?

Tôi vội đẩy Trọng, Quang vào hầm :

– Vào đi F105F vòng thế này bom B52 tuôn xuống chỗ mình đấy.

Ba người ngồi dựa vào nhau trong hầm. Quả đồi nẩy lên trong loạt bom đầu. Cảm giác ngờm ngợp, rờn rợn, chờ đợi chạy dần từ đầu xuống sống lưng rồi lại chạy lên trong người Trọng. Trọng lẩm nhẩm đếm: Loạt hai … loạt ba … loạt … ! Cậu ta định chạy ra cửa hầm :

Tôi giữ Trọng lại, hắn vẫn ngoác mồm gào :

– Lại quăng sai rồi! – Cậu ta tô tô câu hát – A hỡi B52, ta làm mắt bay thong manh thành B là B quăng sai !

Tiếng Văn Thành nghẹt trong khói :

– Có hầm nào việc gì không ?

– Khô … ông ! Khô … ông ! anh ạ.

Khói bom chưa loãng pháo bi đã nổ rền từng chặp. Chúng bắn tập trung ở đoạn đường sang Hai. Các cửa hầm đều lấp ló bóng người. Cư mập nghển cái cổ ngắn lên nói ồ ồ :

– Bắn kiểu này, bố khinh khô !

*

*      *

Chính trị viên Hiền đi họp về thấy bộ đội đi làm cả, anh quẳng bọc vào hầm đi ngay. Anh rút khăn tay gói tập thư của anh em lại cho vào túi quần, choàng áo mưa ra ngoài cho khỏi vướng. Gần tới “kiềng” mới, máy bay B52 đánh đợt thứ hai. Anh nép sát cây gỗ lớn đổ ngang suối, một hòn đá to ném trúng vào lưng anh đau bại. Anh vạch lối đi tới phía trước, dưới đó vọng lại tiếng cười. Ai đang hát bài “Khâu áo gửi người chiến sĩ ” – “Gửi vào mũi chỉ đường kim. Người đi chiến đấu ngày đêm diệt thù. Vất vả dầu dãi nắng mưa“. Tiếng hát ấm, trong và ngọt. Cậu Đ.T hát. Đ.T ít khi hát, những lúc thế này cậu ấy mới hát. Hiền thò tay nắn bọc thư, anh mỉm cười thích thú. Trông thấy Hiền ở lối lên, cả trung đội đã lao xao :

– Ô, anh Hiền về rồi !

– Bom pháo thế ông ấy cũng đi.

– Có gì mới không, chính trị viên ơi ?

Chính trị viên Hiền dừng lại, rút bọc thư trong túi ra cười, vẫy tay :

– Có người nhà đến thăm đây !

Toàn trung đội ồ đến chỗ anh Hiền :

– Có thư rồi bay ơi !

– Thế nào mình cũng có một lá.

– Quang ơi, xem có thư không ?

Anh Hiền phát vội cho từng người rồi giục tản ra đề phòng pháo địch bắn. Anh đưa cho Trọng bức thư cuối cùng, nét mặt châng hẩng. Hết ! Trung đội trưởng Thành đứng ngẩn ra :

– Tôi không có à ?

– Hẹn anh lần sau …

Văn Thành đi về hầm mình, giọng anh bực bội :

– Không biết đã xin được con nuôi chưa mà không viết thư cơ chứ.

Trọng ngoái đầu ra ngoài hầm :

– Chờ tôi lấy vợ tôi cho ông một đứa làm con nuôi.

Văn Thành ném cho Trọng một hòn đá.

Trọng thụt vào hầm còn cười :

– Vợ thì to như thùng phi. Tại ông thôi, bảo đi viện khám, không chịu.

Nói đến chuyện không con, cả trung đội ai cũng mong cho Văn Thành có một đứa nhỏ. Vợ chồng anh lấy nhau đã tám chín năm, hồi còn ở ngoài kia thỉnh thoảng anh cũng được về. Có lần ngồi với anh, chị thở dài nói ra ý nghĩ day dứt trong lòng :

– Ăn ở với nhau không còn ít gì mà chẳng được mụn con. Nhiều lúc nhìn cha mẹ em thấy phiền lòng, em định bàn với anh xin một đứa con gái về nuôi.

Nhìn chị, Văn Thành thấy thương vợ đến thắt ruột; không có con, cô ấy chóng già đi. Anh cũng nghĩ không có con là tại anh, anh định xin đi viện khám nhưng đơn vị cơ động, chuyển vùng luôn luôn. Đùng một cái, có lệnh đi B, ăn cơm Bắc, đánh giặc Nam, chiến trường ác liệt nhất, đổ máu nhiều nhất trong suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ, chả lẽ lúc ấy xin đi viện. Anh viết thư về giục vợ xin con nuôi.

Thấy mình không có thư, tôi lủi thủi đi sửa tiếp cửa hầm. Anh Hiền đến giúp tôi, anh đập cái xẻng con lên mặt hầm bành bạch, một lúc không nhịn được, anh cười lên kha kha :

– Cô bé Xuân gửi thư cho mình cám ơn hôm về Vinh đến thăm trận địa các anh đối xử cẩn thận, nó còn gửi lời thăm anh Đ.T nữa.

Biết mình có thư, tôi không hỏi vì từ lúc anh Hiền về thỉnh thoảng nhìn anh cố giấu đi nụ cười. Tính tôi vẫn thế, nhiều lúc nhìn tập thư quân bưu hoặc anh em mang về anh tưởng rằng sẽ phải chạy ngay đến xem mình có thư không rồi tôi lại dằn lòng không nên làm thế. Để khỏi sốt ruột, tôi tưởng tượng luôn một bức thư của gia đình hay của Xuân xem trong đó nói gì. Chính vì vậy không những anh Hiền mà ai cầm thư của tôi cũng muốn trêu.

Anh Hiền không chịu được nữa, anh rút lá thư ra ấn vào tay tôi :

– Ông chỉ giỏi làm bộ. Thư của Xuân đấy, Hồng nó bóc ra xem trước.

Tôi muốn ôm lấy anh Hiền, rụt rè đưa tay cầm lá thư :

– Anh Hồng đỡ chưa anh ?

– Khá rồi, đang đòi về. Cậu ấy bảo có chuyện của Quang, còn bí mật chưa nói ra với tớ được. Nghe ông Sơn thuật lại có mấy o hoả tuyến đến thăm. Nắng lên, các cậu đi đón Hồng về nhớ.

Quang nghe Hiền nói vậy ngó đầu ra” vâng” rồi thụt ngay vào.

Tôi tựa vào cửa hầm bóc lá thư ra. Đọc chậm từng câu, từng chữ, lần ra mỗi nét trên khuôn mặt Xuân khi viết cho tôi. Mưa đọng trên lá, rồi từng giọt, từng giọt rơi xuống bức thư. Những giọt mưa của gian khổ và cũng là niềm tự hào. Tôi tưởng bàn tay nhỏ nhắn của Xuân giơ ra hứng lấy những giọt mưa chia xẻ gian nan cùng tôi …

Trọng đứng đằng sau lúc nào, lấy giọng uốn éo đọc : “Thế chị quen em nó lâu lắm rồi ạ ?”. Tôi nắm tay đấm ngược ra đằng sau, không trúng. Trọng chạy đến nấp bên Hiền, cái miệng toe toét cười.

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s