DỌC MIỀN TRUNG (18)


ĐÀO THẮNG

logosachV. Giữa vùng bom B52

Khu vực doanh  trại của C19 dân công hoả tuyến thường xuyên có khách, bộ đội đi ra đi vào đều ghé qua. Khách đến thăm phần đông là cán bộ, chiến sĩ những đơn vị có quan hệ công tác với đơn vị dân công này. Cuộc chiến đấu đã gắn bó họ với nhau bằng một tình cảm tự nhiên không màu mè, kiểu cách. Các cô gái trẻ măng, hiếu khách đón tiếp các anh bộ đội cởi mở, chu đáo. 

Các cô có sáng kiến lập một thùng nước “xã hội chủ nghĩa” đặc biệt ngon : gạo rang không bị cháy, pha đặc. Lính nhà ta đi qua, có anh đổ cả bi đông nước lá rừng của mình đi để có cớ vào xin nước của đơn vị dân công hoả tuyến thơm ngon nóng bỏng.

Tổ của chúng tôi về đến ngang chỗ ở của đại đội 19 trời đã xế chiều. Họ ngồi nghỉ dưới tán cây cho ráo mồ hôi. Trọng quạt lấy quạt để thỉnh thoảng mũ va vào trán đánh cộp. Bi đông người nào cũng hết sạch nước. Lúc đi, Trọng chỉ đổ cho mỗi người một nửa bi đông. Trọng uống không tiết kiệm, ra khỏi kho, một đợt nghỉ nước đã hết nhẵn. Với bước đi săm sắm của anh chàng, chiếc bi đông nhẹ tênh chốc chốc lại hất bay về phía trước.

Các cô gái đang tắm giặt dưới suối, họ đang nói với nhau chuyện gì ra chiều thú vị lắm, thỉnh thoảng lại cười rúc rích. Tiếng Quảng Bình mềm, ấm áp, Quang nghe mát rượi. Anh đi đến cái giếng trên lợp cỏ gianh ngó vào. Giếng nước tròn như một chiếc gương lớn nước trong đến ánh lên, nửa người Quang in đậm trong giếng. Anh vớ chiếc gầu làm bằng thùng lương khô múc nước rửa mặt. Làn nước từ bàn tay mới chạm vào da, cảm giác mát lạnh, rợn lên truyền khắp cơ thể. Quang nghĩ : “Con gái có khác. Họ ở đâu, nơi ấy trở nên thần diệu ngay tắp lự”.

Trọng thấy “sáng kiến” rửa mặt của Quang liền chạy lại, cậu ta bô bô :

– Xin ít nước rửa mặt, các anh ơi ! Vào tới đây đã khỏi khát rồi …

Nhận ra tiếng “người quen”, mấy cô dưới suối đứng lên. Chưa kịp chào nhau, một cô đã lên tiếng :

– Đứa mô bắt được các anh bộ đội ni rứa bay ơi ?

Quang cười chữa thẹn :

– Khát nước, đường còn dài, anh em vô xin bi đông nước, nghe bộ đội đồn ở đây lúc nào cũng có nước ngon lắm. Các o đi nhanh thật, từ sáng tới giờ mới theo kịp.

Quang nhấn mạnh chữ “theo”. Các o nháy nhau ý chừng nói “ông này gớm đây, không vừa đâu”.

Yêm đứng ở dưới xa, tay cô cầm một chùm vải rừng chín đỏ. Nhìn thấy Yêm, Quang nóng mặt khẽ vỗ vào vai Trọng :

– Lúc nãy các cô này chế nhau ăn dở vải rừng.

Ba người đi lên bếp, hai nồi nước đang sôi phà hơi mù mù. Các cô gái nấu bếp mặc áo mầu, người nào người ấy mặt đỏ lựng như cà chua chín. Thấy ba anh bộ đội xách bi đông ở tay, cô gái mặc áo màu xanh lơ trên in nhiều vầng trăng nói ngay:

– Các anh móc bi đông ở cửa, bọn em múc cho.

Tôi thấy cũng không cần nói xin làm gì nữa. Yêm ở dưới suối đi lên tay vẫn cầm chùm vải rừng. Yêm lên tiếng mời :

– Các anh vô nhà em đi !

Nói xong cô mạnh bạo đi trước. Mái tóc dài chưa khô bỏ xoã trùm ra kín tấm lưng. Yêm bước rắn rỏi. Câu chuyện vui bữa hành quân hôm trước hiện về trong đầu Quang. Hôm đó đơn vị từ hậu cứ vào bàn đạp. Vượt qua bãi gianh dài, tiểu đội chúng tôi đến nghỉ ở dưới một chòm cây. Quang vác thân súng là bộ phận nặng nhất không tháo ra được nữa. Mới bỏ ba lô, súng đạn phanh áo cho mát, một cô gái đã đến đứng trước mặt. Cô gái nhỏ nhắn, da trắng như bột gạo nếp, đôi môi đỏ như bông hoa mẫu đơn Quang cầm ở tay. Cả tiều đội cài vội cúc áo, anh Hồng ngồi đầu hỏi luôn :

– O đến nhận người yêu phải không ?

– Không ! Em đến nhờ các anh nâng giúp gánh tranh.

– O được toàn quyền, chọn ai thì chọn – Hồng vung mạnh chiếc mũ cối lên nói.

Cô gái chỉ luôn Quang ngồi gần, cả tiểu đội cười rộ lên. Quang thẹn không dám đi, Hồng phải làm hậu thuẫn kéo cậu ta đứng dậy đi theo cách sau một quãng … rồi anh đứng lại … “thả” luôn …

Yêm mời ba anh bộ đội ngồi xuống chiếc giường  kết bằng thân cây lách dóc hết lá. Cô rót nước, đứng lên lấy thêm bát, lúng túng. Thấy mấy cô đi qua trước cửa, Yêm vẫy gọi :

– Vô đây chơi, có mấy anh bộ đội đồng hương.

Bước vào nhà các cô hỏi ngay :

– Mấy anh ở huyện mô ?

– Chúng tôi quê Quảng Bình – Tôi cười chữa ngay – Chúng tôi quê ở xa nữa nhưng ở Quảng Bình ba, bốn năm nên tự động coi là người Quảng Bình.

Các o cười khúc khích :

– Đồng hương một nửa còn một nửa … rồi !

Tôi cầm bát nước trên tay hỏi :

– O Yêm ở huyện nào nhỉ ?

– Dạ em ở Đông Phú, thị xã Đồng Hới. Có nhà thơ ngoài Hà Nội gọi thị xã chúng em là “thành phố của hoa hồng”

Tôi đặt bát nước xuống nhìn ra cười:

– à ra thế, người thị xã Đồng Hới. Tôi nghe nói mười năm hoà bình sau chống Pháp, Đồng Hới trồng nhiều hoa hồng nhất miền Bắc. Hoa hồng lặn vào khuôn mặt các o Đồng Hới, Quảng Bình.

Yêm ngượng nói lảng :

– Các anh có biết bàu Tró không ? – Yêm nhìn Quang rồi nhìn tôi hỏi.

– Bàu Tró à, tôi có biết. Một anh bạn kể cho tôi nghe nước bàu Tró ngọt có tiếng. Các cô gái quanh vùng đến đấy lấy nước về gội đầu, tóc gội nước bàu Tró vừa đen vừa dài. Hoa hồng và nước Bầu Tró làm nên vẻ đẹp con gái Đồng Hới.

Quang từ đầu đến giờ ngồi quan sát căn nhà giờ thấy Yêm nói vậy mới hỏi :

– O Yêm có ở  gần khu trồng rau bắp cải không ?

– Dạ, em ở gần đó.

– Đài quan sát chúng tôi đặt ở đấy mấy tháng mà tôi không biết nhỉ ?

– Người ở đó đông anh ạ !

Quang ngồi chống tay về phía sau, chân trái đung đưa, ngước nhìn Yêm rất nhanh :

– Bao giờ có dịp ra ngoài đó, tôi phải đến thăm chỗ ở cũ.

– Có điều kiện mời anh vô nhà em nhởi (chơi).

Mấy cô bạn cùng đi với Yêm ban sáng cũng kéo đến, họ cười từ ngoài cười vào. Đợi cho các o vào hết, Quang cắn môi dưới một cái, hỏi Yêm :

– O Yêm năm nay mười chín tuổi chứ mấy ???

Các bạn Yêm nghe thấy vậy cười rũ ra. Yêm đỏ mặt nhưng cô trấn tĩnh được ngay, nét mặt lại tỉnh bơ như không :

– Em hơn nhiều rồi chứ anh !

Quang cắn ngón tay trỏ nhìn Yêm, cùng với mỗi câu nói đôi mày của Yêm nhướng lên. Trọng nhìn Quang lườm nói bằng mắt : “Ông chán bỏ cha đi, nói lại làm gì”.

Tôi đứng lên xin phép về. Đến cửa bếp, cô gái áo xanh đưa cho họ ba chiếc bi đông đầy nước. Trọng nhận bi đông, giả vờ nhìn trời nói bâng quơ :

– Hôm nay bao nhiêu mà ban ngày trăng chưa lặn nhỉ ?

Cô gái không cười :

– Không khéo anh nhầm mặt trời là mặt trăng đấy anh ạ,

Họ chia tay nhau. Đi một quãng, Quang quay đầu lại thấy Yêm đứng nhìn theo. Quang muốn giơ tay lên vẫy quá mà không dám. Đêm hôm ấy mắc võng nằm ở hậu cứ, Quang không ngủ được. Trước mắt Quang hiện lên cái dáng rắn rỏi, đôi mắt mở to và nụ cười tinh nghịch của Yêm. Thỉnh thoảng anh lại bứt một lá cây quế ở đầu võng cắn cọng nhấm nhấm. Vị thơm cay cay của quế làm Quang ngây ngất. Võng bên, Trọng đã ngủ say. Một con kỳ đà ở gốc cây ven suối cứ im một tí lại nhảy xuống nước bơi tùm tũm. Quang tức mình nhổm dậy nhặt đá ném cho nó một hòn. Anh lên võng lật mình nằm nghiêng rồi thiếp đi. Anh mơ thấy mình đang đứng bên bờ bàu Tró. Nước bàu trong vắt lóng lánh ánh sáng mặt trời. Người ta đồn bàu Tró không có đáy, nó thông với một con sông. Các cô gái nói cười ríu rít kéo nhau đến gánh nước về gội đầu. Dấu chân các cô hằn sâu trên cát thành những dải đường ngoằn ngoèo quấn quýt. Bỗng dưng mặt bàu xao động, Yêm ở đâu đến đứng trước mặt anh, tay cầm một chùm vải rừng. Câu thơ bật ra trong đầu Quang :

“Vải rừng chua đến là chua.

Anh ăn cho đỡ những mùa nhớ nhau.

Ta còn rẽ lối vào sâu.

Vải rừng đỏ ửng gợi màu vải quê”.

Khuôn mặt Yêm lồng trong một bông hồng. “Bông hồng” nhìn anh cười, cặp mày thỉnh thoảng nhíu lên, đôi môi đỏ như một bông hoa mẫu đơn, mấp máy định nói gì …

… … …

Tổ của chúng tôi về đến gần “kiềng”, pháo của ta bắt đầu bắn. Cách năm phút bắn một loạt, theo sự chỉ huy trực tiếp của cụm, các trận địa thay nhau bắn. Mấy chiếc máy bay trinh sát bị điều từ nơi này đến nơi kia túi bụi, chúng vừa nghé nghé ở F16 chưa kịp bắn pháo khói, F47 đã phóng một loạt. Gần như cả ngày, bọn Mỹ ở Cồn Tiên, Dốc Miếu, Bái Sơn, Quán Ngang, Tân Lâm (căn cứ 241) đối pháo với ta. Quá trưa pháo giàn ở các tàu tuần dương, khu trục cũng bắn góp từng hồi. Cả khu giữa ầm ầm tiếng nổ, cuồn cuộn  khói đen, khói trắng. Tôi ngồi trong hầm đếm pháo địch, đếm được một lúc, chúng bắn loạn xạ, rối tung phải bỏ.

Chiều, tổ tôi lên thay trực ở trận địa. Chính trị viên Hiền cùng đi theo, anh mang theo bộ đồ cắt tóc, cắt cho chiến sĩ. “Hiệu” cắt tóc của anh Hiền mở ngay trong công sự súng khẩu đội 2. Anh Hiền dúi tông đơ công phá cái đầu của Hoè, tóc cậu ta cứng, tôngđơ cũng cùn thỉnh thoảng Hoè kêu “ái” lên một tiếng. Cắt xong cho Hoè, anh Hiền nghiêng đầu, tay phải giơ kéo lên bật tanh tách gọi :

– Đến lượt ông Quang.

Quang đang lắp thêm đạn vào băng dự trữ giơ bàn tay đầy dầu ra khất :

– Anh gọi người khác đi, tôi đang giở.

Trọng nằm sấp trên tấm vải bạt đọc sách, nghe Quang nói vậy, ngồi lên :

– Để đấy cho tôi, nhân tiện sắp làm món cà phê đặc biệt.

Cậu ta xuống giằng băng đạn ở tay Quang. Cậu ta đứng dậy lom khom bước ra, giở tấm ni lông khoác lên người tránh tóc vụn. Trên thành công sự, Hoè mình trần trùng trục ngồi chồm hỗm, hai tay khoanh lại để trên đầu gối. Tôi nhìn nhanh nháy chính trị viên Hiền và khen Hòe :

– Anh Hoè cắt tóc đi, điển trai ghê !

Hoè đung đưa người :

– Liệu về bu cái Tý còn nhận không ? Năm, sáu năm ở chiến trường đâm lười làm dáng, làm đỏm đi.

Anh Hiền dừng tay kéo, phủi tóc trên người :

– ở chiến trường cũng có lúc do khó khăn phải chịu để tóc che cổ áo, bây giờ tình hình khác rồi. Ông ở với cánh này ít lâu cũng làm dáng cho mà xem. Ông xem Đ.T, Quang, Trọng, toàn lính “cậu” cả đấy chứ.

– Lính cậu biết ngủ hầm, uống nước suối, chịu trận B52 rải bom, pháo giã giò phải không, chính trị viên ?

Hoè chêm vào:

– Cắt cái đầu kiểu của chàng Quang cũng mất mấy công.

Anh Hiền lùi lại sau nhìn Hoè gật gật :

– Đầu tóc này cô sinh viên nhìn thấy thêm chết mệt. Xuân nghỉ hè chưa Đ.T ?

– Chưa anh ạ. Đang chuẩn bị thi cuối năm. Cô ấy … – Tôi chưa nói hết câu, tiếng Trọng đã vang lên át đi :

– Hướng số hai, ba B52 bay thẳng vào !

Chính trị viên Hiền nhẩy lên cao nhìn, ba chiếc B52 khuềnh khoàng bay thẳng đừ như bị buộc vào một đường dây mắc sẵn. Anh quát lên:

– Quay về hầm ngay !!!

Trong khoảnh khắc, hàng loạt tiếng rít ghê rợn như xé nát khoảng không. Mặt đồi như bị hàng trăm người khổng lồ cầm những chiếc vồ cực lớn nện thình thịch. Quang lăn xuống công sự, lao vào hầm lại bị hơi bom hắt ra. Căn hầm chao đi kêu răng rắc. Trọng bám vào Hiền bị tuột tay ngã sấp vào Quang, cậu ta cười như bị cù. Hiền hét :

– Thôi đừng vào hầm nữa, há mồm ra !

Tôi nằm bò soài ngoài công sự, hai tay chống xuống đất nâng ngực lên đếm :

– Loạt thứ nhất, loạt thứ hai, loạt thứ ba, xong !

– Hết chưa

– Loạt thứ năm, loạt thứ sáu – Hai tốp B52 cày xới trận địa.

Rất may khẩu súng không bị mảnh nào, nó như đứng ngây ra sau trận bom rải thảm. Một hòn đá lớn không biết từ lúc nào ném vào thành công sự làm đất  lún sâu xuống. Chính trị viên Hiền nhìn các chiến sĩ đứng túm bên khẩu súng cười, hỏi :

– Quen chưa ?

– Dạ chưa ! nhưng rồi sẽ quen anh ạ !

Trọng nhẩy lên mô đất đếm : một, hai, ba quả gần hầm. Cậu ta kêu lên:

– Thôi toi rồi ! Giônxơn nó chém mất bãi sâm rồi, thế là mất toi món cà phê đặc biệt chiêu đãi chính trị viên với “cố vấn” Hoè.

Anh Hiền nhắc mọi người phải đề phòng địch đánh tiếp. Hai chiếc L19 từ sau đồi 175 rất thấp sà qua như hai con quạ đen, nhìn rõ hai thằng phi công lúc lắc cái đầu. Bọn Mỹ lại giở ngón đòn muôn thuở dập pháo vào nơi B52 ném bom, lần này chúng bắn lẫn pháo khoan với pháo đinh, pháo bi. Hai “mụ” đầm già lượn trên cao chỉnh cho pháo bắn. Chính trị viên Hiền đố Quang đoán thử xem tiếng nổ đầu nòng pháo loại gì. Anh nằm ra kể cho Quang nghe về trận bắn phá của pháo bờ nam, pháo biển, máy bay vào trận địa tên lửa ta ở ngã ba Cổ Kiềng. Anh Hiền nói về một người vượt qua pháo, bom địch, bới, cứu đồng đội. Quang hiểu rằng người đó là chính trị viên của mình. Trọng ở trong hầm ngó đầu định ra ngoài, Quang cầm gậy cộc cho cậu ta một cái vào đầu. Quang quàng tay ôm tấm lưng nhỏ của chính trị viên, thấy thương anh quá. Anh gầy yếu, thỉnh thoảng bị ngất bất ngờ. Tuy vậy lần đào công sự hầm hố nào, anh cũng tỏ ra dẻo dai hơn bọn Quang. Ngồi với anh Hiền, tôi thấy vững vàng lên nhiều. Cả trong các trận đánh cũng vậy, không có anh tôi thấy thiếu đi một cái gì đó cho mình tựa vào thêm vững. Anh ít nói, khi cần động viên cũng vậy. Một điều tôi thấy ở anh Hiền là anh ấy không bao giờ vội. Đi trên đường pháo bắn gần thì nấp, bắn xa thì đi, anh không chạy. Anh nói chạy không nghe được hướng đi của đường đạn khó tránh. Mình bình tĩnh. Cái bình tĩnh của mình thằng địch nó sợ.

Tôi cúi mặt day sống mũi vào lưng Hà. Thấy vậy anh Hiền quay lại hỏi :

– Đ.T nghĩ gì thế ?

– Không ạ !

Và tôi thấy ngượng về lời nói dối của mình, anh Hiền cười kha kha, hỏi tôi :

– Có phải ông đã đứng ở vị trí năm giờ liền để cảnh giới máy bay khi pháo tầu địch bắn vào trận địa hồi đi bảo vệ pháo bờ biển ? Pháo tàu Mỹ nổ cách ông mười đến mười lăm mét dầy như mắt sàng, có đúng vậy không ?

– Ai bảo anh thế ?

– Cô Xuân cô ấy nói …

– Anh chỉ phịa.

Trọng nằm trong hầm lăn ra cửa giả vờ thóc mách :

– Anh Hiền ơi, Quang nó làm thơ tặng em Y… đây này.

Tiếng Quang quát :

– Không để người ta yên. Đò xem trộm đứa con gái nào vớ được mày không chóng thì chầy nó cũng chết, đây xem đi !

Trọng cầm lấy sổ của Quang xướng lên, không ra ngâm cũng không ra đọc, nghe như các cụ vịnh thơ ngày xưa:

Vải rừng chua đến là chua

Anh ăn cho đỡ những mùa nhớ nhau

(Chú thích : thơ đến trong mơ). Lại đây nữa :

Ngã tư đường mặt trận sáng nay qua

Không dừng lại âm vang tiếng đất

Tiếng hai miền trong lòng dào dạt

Dòng sông trong như gương

Lại đây nữa :

Bom B52 ném vào trận địa

Mặt đất rung, ta cất tiếng cười

Giữa tiếng bom ôm nhau rất chặt

Thấy bóng mình trong mắt bạn cười tươi !

Chính trị viên Hiền không cười, mắt anh sáng long lanh :

– Quang làm xong bài thơ, hôm nào ngâm cho đơn vị nghe nhé. Ngâm luôn cả mấy bài. Pháo nó bắn thưa rồi ta chuẩn bị bắn máy bay. Chú ý kiểm tra lại pháo đạn. Địch đến chủ động đánh cho vững, mình sang khẩu đội 1 một lúc.

Quang kéo cò kiểm tra súng, phát hiện đoạn dây buộc nguỵ trang tụt xuống lỗ trích khí, dứt ra. Lát sau, bầu trời rung lên trong tiếng máy bay phản lực kéo đến quần đảo. Các trận địa pháo của ta vẫn từng chặp, từng chặp bắn vào các căn cứ của địch trong hàng rào điện tử Mắcnamara.

*

*       *

Tôi đứng ở cửa hầm ngủ đá mấy cái vào không khí cho chân đỡ mỏi, tập tễnh bước xuống suối đi tắm. Tôi bị sưng hai khớp gối. Anh Hồng trên mưa nắng bắt nạt văn nghệ sỹ đi chiến trường. Buổi chiều, trong một trận đánh quyết liệt, tổ của tôi bắn rơi hai máy bay lên thẳng. Trận đánh kéo dài đến tối, hai tên L19 lượn trên trời dai như đỉa đói. Tiểu đoàn lệnh cho trung đội 1 rút khỏi  trận địa đến địa điểm mới. Trên đường về “kiềng”, tôi bị ngã bây giờ chân vẫn còn đau.

Xuống đến giếng “ông Chung”, tôi bỗng nghe có tiếng gì lộc cộc. Bằng động tác rất nhẹ nằm soài ra áp tai nghe. Với thính giác nhạy bén của con nhà trinh sát, tôi nhận ra đó là tiếng cua bò. Như một con thằn lằn, tôi toài đến ghé sát vào khe đá. Trời ! Hai vợ chồng nhà cua khát nước mò ra uống, hai con cua đá to bằng bàn tay. Tóm được mang về nấu canh còn phải nói. Tôi rất thích ăn canh cua. Mẹ tôi biết tính con lần nào tôi qua nhà, bà cũng mua cua về nấu một nồi canh thật ngọt. Tôi thích nhất ăn canh cua mẹ nấu. Ngày còn ở nhà, mỗi lần đi học về thấy mẹ nấu canh cua, tôi vội quẳng sách vào tủ, chạy xuống ghé mũi vào nồi canh. Mẹ thấy vậy chửi yêu:

– Cha bố anh ! Ngửi cái gì. Tí nữa mẹ phần cho cái càng to.

Tôi thấy nước bọt tứa ra ở chân răng. Trong đầu tôi nảy ra ý nghĩ thú vị : lá lang rừng nấu với canh cua “nguyên thuỷ”. Tôi sung sướng ngửng vội đầu lên, hai con cua thấy động tụt vào sâu trong kẽ đá.

– Được, cho mày nấp, hôm nào kiếm được rau lang rừng tao mới bắt.

Tôi bỏ giếng chạy lên hầm anh nuôi gọi hấp tấp :

– Chung ơi ! Chung ơi ! Ngủ chưa ?

– Chưa ! Anh Đ.T đấy à ?

Tôi giục rối rít:

– Dậy, dậy đi !

– Thám báo hả ? – Chung choàng dậy.

Tôi ngồi thệp xuống cửa hầm cười về sự trẻ con của mình trước con mắt ngạc nhiên của Chung:

– Không ! Thám báo gì đâu. Hai con cua đá to lắm ở giếng.

– Thế à ! Mình cũng thả thêm mấy con cá nuôi ở đấy phòng chất độc hóa học có nâng độ cao thì biết.

– Ông kiếm rau lang hôm nào ta làm bữa canh nhớ quê.

Chung kéo tôi lại gần nói như sợ ai nghe thấy :

– Này có một con chó hoang ở đâu đến đây, lúc đầu tưởng chó sói, cho ăn cơm quen rồi. Nó vừa ở đây xong, lúc nào rảnh kéo thằng Trọng xuống ta mần bữa tươi cho trung đội. Thằng ấy mới bắt được con chó này.

– Chó của dân đấy. Không được !

– Của đơn vị trước bị lạc, đây làm gì có bản. Lạc lâu lắm rồi không biết cắn nữa mà lị. Đừng có nói với ông Hiền nhé, ông ấy không cho thịt đâu.

– ừ… nhưng mà… – tôi bỗng thấy nhớ con chó bông ở hậu cứ.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s