DỌC MIỀN TRUNG (14)


logosachĐÀO THẮNG

Phần III – Đi B 

I. Là quân giải phóng

Đầu năm 1971 đang thời kỳ Mỹ ngừng ném bom miền Bắc. Đại đội tôi rời chốt phà Bến Thủy cơ động phục kích đánh máy bay trinh sát tại Cửa Hội rồi về bảo vệ sân bay Vinh. Sân bay dã chiến đường băng hạ cánh ghép bằng các tấm ghi thép nói với nhau. Đêm không trăng muộn, một chiếc máy bay MiG 21 của ta hạ cánh, phi công đã bật dù cản chiếc MiG 21 vẫn còn đà lao ra ruộng khoai. Tôi và mấy trinh sát ra hiện trường gặp một phi công cao lớn. Trong bộ đồ bay nhìn anh rất đẹp. Tôi hỏi tên. Anh trả lời :

– Tôi là Phạm Ngọc Lan.

Tôi ớ người hỏi tiếp :

– Có phải anh là Phạm Ngọc Lan ngày 03 tháng 06 năm 1965 cất cánh bắn rơi máy bay tiêm kích F8 của hải quân Mỹ ở Hàm Rồng, Thanh Hóa.

Anh cười :

– Đúng rồi.

Tôi lặng đi vì xúc động rồi ngập ngừng :

– Em tưởng anh hi sinh rồi.

Anh cười to giọng miền Nam ấm áp :

– Sống lại em ạ ! người tây họ gọi là phục sinh.

Anh hỏi tiếp :

-Em đã vào chiến trường B chưa ?

– Chưa anh ạ !

– Thế thì đi B nhé. Quê mình đấy.  

Tôi không ngờ lời đối thoại ngắn ngủi với người phi công đầu tiên của không quân ta lái máy bay MiG 17 cất cánh lao vào đàn máy bay Mỹ hiện đại, hung hãn với những tên phi công thiện chiến hàng đầu thế giới mang bom đạn với ý đồ nghiền nát cầu Hàm Rồng và bắn rơi tức khắc máy bay MiG của “Bắc Việt”, đè chúng xuống, bắn rơi chiếc máy bay Mỹ đầu tiên trên bầu trời Hàm Rồng lại trở thành sự thật. ít ngày sau, đại đội tôi nhận lệnh về xã Hưng Lộc (nay là phường Hưng Lộc, Thành phố Vinh) gửi pháo lại, nhận súng máy cao xạ 12.7 ly gọi là “chuyển loại” vũ khí để đi B. Vừa làm quen vũ khí, nhận quân trang, quân dụng, tăng, võng, thuốc chống muỗi vắt, bi đông đựng nước, dao găm, súng ngắn, mũ tai bèo quân giải phóng và … cả túi ni lông may theo hình người với hệ thống dây thắt buộc dùng “liệm” thi hài khi hi sinh. Xe vận tải quân sự chở thẳng người và vũ khí vào Bãi Hà hậu cứ của rất nhiều đơn vị đi B. Tổ chức ngay bộ phận đi trinh sát chiến trường. Lần đầu tiên vượt qua giới tuyến, lội qua sông Bến Hải, đã bị cây “nhiệt đới” báo động pháo bầy từ các căn cứ trong hàng rào điện tử Mắc Na Ma Ra dập liên hồi. Những tưởng tất cả sẽ trộn vào đất tuyến song anh em đều là những chiến binh, qua loạt pháo đầu đã biết lăn xuống những hố pháo. Anh Bớp chiến sĩ thông tin từ e234 Hà Nội bổ sung vào đại đội tôi từ trận địa chốt Bến Thủy, đi trinh sát cùng với đại đội trưởng Vũ Xuân Toại bị một mảnh pháo lớn chém sau vai gần tim hi sinh tại chỗ. Đây là sự hi sinh đầu tiên của chiến sỹ tiểu đoàn tôi khi chúng tôi bắt đầu là quân giải phóng. Lần gặp lại sau bốn mươi năm xa anh Toại mới kể thêm cho tôi nghe về chuyến đi có một không hai trong đời lính của anh :

– Mình với Dương Xuân Thành (bạn tôi) chặt cây, buộc hai đầu võng khiêng anh Bớp cũng nghĩ không thể đưa anh ấy về hậu cứ Bãi Hà được. được. Đường rất xa từ chân điểm cao 161, chỉ có hai người. Lại phải vượt sông tuyến. Anh em ở đơn vị pháo ĐKB phải mai táng lại ở bờ nam sông Bến Hải rồi chuyển sau. Mình nghĩ anh Bớp là đồng đội, là chiến sỹ dưới quyền không thể làm như vậy được. Thành đồng tâm với mình. Mình thấp đi trước, Thành cao đi sau. Vượt suối, vượt dốc, chạy pháo, đói lả không còn gì ăn. Vốc nước suối uống thẳng, cũng không còn viên cloramin sát trùng. Có lúc đặt cáng xuống nghĩ rằng không thể đứng dậy được nữa. Nhưng cứ nhìn máu anh Bớp Bớp khô quánh trên vũng, ở chỗ vết pháo chém vào máu vẫn thấm ra ướt cả đám, hai anh em lại động viên nhau, kéo nhau dậy đi tiếp. Đi đến trưa. Đi đến chiều. Đi đến tối. Đến gần mười hai giờ đêm hôm ấy về đến bãi cỏ lối rẽ vào đơn vị trú chân tai Bãi Hà, đặt cáng xuống hai anh em ngã xuống đầu cáng ngất đi.

Tôi nhắc anh :

– Lúc em ở bãi trú quân chạy ra, y tá đang tiêm cho anh và Thành, rồi anh nuôi hòa lương khô thành cháo đổ cho anh để anh hồi tỉnh dần.

Anh Bớp quê ở Thọ Xuân, Thanh Hóa (hình như xã Xuân Yên) đã có hai con, rất vui tính. Anh hay đọc : “Trong góc, trong góc, trong cùng, tồng vông, tồng bộc, ả ngồi ả khóc, mắt liếc thợ kèn” nói về người vợ khóc chồng mới chết, mà lẳng. Tôi tự tay vẽ sơ đồ mộ chí của anh : Từ  bãi trú quân, lên một dốc cao, rẽ vào mé núi. Không biết các cháu đã mang anh về chưa.

Nghe anh Toại nói chuyện xong anh Nhâm – Trung đoàn trưởng nhắc ngay tôi : Thắng phải viết về cái đoạn tiểu đoàn 25 trung đoàn mình đi B. Bây giờ ngay trong anh em cựu chiến binh trung đoàn nhiều người còn không biết Trung đoàn có một đơn vị đi B. Để số anh em nhiễm chất độc mầu da cam, ảnh hưởng đến bản thân con cái và được hưởng chế độ của Nhà nước và quân đội.

Phần này viết về cái đoạn chúng tôi là quân giải phóng :

… … …

Ăn cơm chiều xong, tôi đi lại chỗ để đồ đạc ngồi xuống, ngửa người đè lên chiếc balô cóc căng phồng, quài tay ra sau lấy bi đông mở nắp đưa lên miệng. Mùi thơm mát quen thuộc của nước gạo rang lan vào họng, bốc lên mũi. Cái anh nước chè thâm niên này của lính uống rất lành, chỉ tội bi đông không tráng kỹ là thum thủm lên ngay. Tôi mân mê chiếc dây giữ nắp bị đứt lúc đi lên “kiềng”, nhìn thấy chiến sỹ trinh sát đài 175 đi qua.

Tôi gọi :

– Anh Phúc ơi, có kim chỉ không ?

– Để làm gì ? Vá áo à ? Thôi để đó bao giờ qua chỗ các o dân công hoả tuyến nhờ các em vá giúp.

– Không phải áo ! Tôi khâu cái dây bi đông.

– Cắt béng đi cho rồi. Lại đây ngả lưng cho nó giãn xương, giãn cốt.

Anh chàng tên là Phúc nghển cổ như cổ rắn giơ tay vẫy. Tôi vội cất bi đông, đi đến chỗ Phúc nằm. Phúc là tiểu đội trưởng trinh sát của đơn vị pháo binh mặt đất. Cậu ta trải chiếc võng ở mé suối nằm gác chân lên một gốc cây. Thấy tôi đến, Phúc nằm lật sấp, tỳ cằm lên hai bàn tay đan vào nhau. Mái tóc đen nhánh lâu không cắt xù ra trông cái đầu to tướng. Phúc mới đi kiểm tra lại phần tử bắn các mục tiêu về chưa kịp nghỉ đã đi dẫn đường cho trung đội cao xạ. Từ sáng đến giờ đi với nhau, tôi chưa kịp hỏi câu nào.

Tôi nằm ngửa bên Phúc, chân trái gác lên chân phải, thẳng đuỗn ra, hai tay giơ lên trước mặt. Bàn tay nhỏ, ngón thon dài, ở gan bàn tay nhiều chỗ phồng lên, đọng nước, vài miếng da bong ra, lật cong lên. Phúc nhìn vào bàn tay hỏi tôi :

– Làm hầm gặp đá phải không ?

– Đá xanh anh ạ. Bàn tay này đào công sự pháo bốn, năm năm liền, phải dầy như cơm cháy bập vào đá da còn tuột ra đấy.

Tôi co chân vào đá ra, các khớp kêu răng rắc, đoạn hỏi Phúc:

– Pháo của các anh là pháo gì thế ?

– Pháo vác chạy. Lủi.

– Là tôi hỏi tên của nó kia ?

– ĐK …

– Cũng là ĐK à ! Trước kia tôi ở pháo khiêng vác ĐKZ bảy mươi nhăm, hỏa lực của tiểu đoàn. Cánh bộ binh cứ gọi chúng tôi là ĐK thụt, ĐK sấy. Lúc ấn cò, số một đứng sơ ý lửa phụt ra, tóc cháy đến tận da đầu. Có lần tôi được đi học cách tính toán bắn bộ binh chiến hào. Chưa được “thụt” lần nào đã phải chuyển sang cao xạ rồi. Không biết “tính nết”, thằng này có giống các loại “sấy” ấy không?

Phúc vỗ hai bàn tay vào nhau :

– Chà! Mẽo sợ loại này lắm. Cậu đã xem phim Liên Xô về đại chiến thứ hai chưa ? Rồi à ? Đấy, cứ đi từng đàn.

Phúc hăng lên nói oang oang, liến thoắng, hết nói đến uy lực của pháo lại giảng giải tính năng kỹ thuật. Người bác sĩ phụ trách quân y thấy có người nói to, ngó đầu ra khỏi căn hầm chữ A nghiêm nghị bảo:

– Các đồng chí nói chuyện nho nhỏ thôi, tôi đã mấy lần đề nghị giữ bí mật cho trạm. Xung quanh đây Mỹ nó thả nhiều “cây nhiệt đới” lắm.

Trung đội trưởng Văn Thành đi dưới suối về, dừng lại trước một tảng đá nói như gắt :

– Muốn “ăn” pháo bi, pháo đinh của Mỹ hay sao hở các ông tướng ?

Phúc sững lại, biết mình quá đà, nằm im. Tôi nắm chặt tay Phúc thì thào :

– Bọn tôi thì pháo tép. Ngoài kia đi đâu xe pháo ầm ầm, vào đây súng ống, đạn dược, ba lô nằm cả lên vai.

Phúc định nói gì lại thôi. Anh thu chân lại ngả vào đùi tôi mắt ngước nhìn lên ngọn cây. Mặt trời đang khuất dần sau dãy núi phía tây, vài tia nắng cố xuyên qua kẽ lá cắm xuống lòng con suối cạn. Lũ ve sầu thỉnh thoảng như thích chí cùng ào lên ồn ã. Trung đội trưởng Văn Thành lên Ban chỉ huy đại đội báo cáo tình hình và nhận lênh mới, tay kéo khẽ ống quần ngồi uỵch xuống cạnh tôi. Phúc hơi nghiêng người né sang mé bên kia. Thành nói to cho toàn trung đội đang nằm, ngồi quanh đấy cùng nghe :

– Đêm nay ta ngủ nhờ trạm quân y và đài quan sát pháo đất. Chốc nữa các đồng chí khẩu đội trưởng đi nhận hầm về sẽ dẫn đi. Giờ đồng chí nào được phân công mang gì kiểm tra lại, pháo đạn, quân trang đi đâu mang theo. Người đâu của đấy.

Tôi cầm ngón chân cái anh Thành vặn vặn:

– Súng đạn chứ làm gì có pháo đạn hở anh ?

– ừ, thì súng đạn. Cậu hay vặn vẹo chữ nghĩa, con nào sau này vớ được cậu nó cho ăn đòn no nhớ chưa.

Anh Thành cười. Hàm răng trên hơi phô của anh mở hết ra hở cả lợi. Mái đầu cắt ngắn, cái trán trông càng cao, gật gật theo tiếng cười. Anh đấm nhẹ vào đùi tôi cố ý dàn hòa :

– Quen rồi, mà gọi pháo cũng được chứ sao ?

Phúc kéo khẽ tay tôi thì thào :

– Đi ngủ với mình, hầm rộng lắm.

– Cả tổ ba người được không anh?

– Được ! Được ! …

*

*      *

Đêm xuống. Mấy ngọn đồi lau lách rậm rạp phía trước mặt căn hầm thẫm dần rồi lẩn vào mầu đen đặc của tối không trăng. Tôi phải giành mãi Phúc mới chịu để cho nằm ngoài cửa hầm. Phúc nói anh đã ngủ đêm ở chiến trường quen rồi, pháo địch có bắn vẫn ngủ đàng hoàng. Tổ chúng tôi chưa quen với tiếng đề – pa rồi tiếng quả nổ giật lên quanh ngọn đồi nhưng nếu vì tổ của chúng tôi đến mà để Phúc phải nằm ngoài, pháo địch bắn không an toàn, không thể yên tâm. Tôi mắc một đầu dây màn vào cây gỗ cửa hầm, đầu kia chưa biết mắc vào đâu thì Quang đặt bút xuống quyển sách ngẩng lên :

– Vít hai cây sâm kéo vào mà mắc, thông minh như ông mà cũng thiếu sáng kiến

Tôi nghển người với cây sâm, quay sang :

– Quang không thương đôi mắt, đọc gí mắt vào trang giấy mắt xuống nhanh, máy bay nó ghé sát mũi súng, nó hỏi đấy.

– Ghi mấy chữ vào quyển lịch thôi – Quang cười.

Khẩu đội trưởng Hồng ở hầm bên hỏi vọng sang :

– Chú Quang ghi chép hay làm thơ đấy ?

Quang cất vội quyển lịch vào túi, phủi quần đứng dậy. Trọng đang xua muỗi trong hầm thò đầu ra, tay trái cầm mấy ngọn lau, tay phải xoắn lại đoạn dây rừng bị tuột, cậu ta nói to :

– Nó lại tả cái o tượng bột ở bãi gianh đấy anh Hồng ạ. Giá có tờ báo nào chuyên đăng về tả con gái, chúng mình cũng được hưởng tí sái nhuận bút.

– Im đi ông mõ xóm ơi – Quang nổi cáu.

Trọng tựa vào cửa hầm không nói gì thêm, cười khanh khách. Quang đi bứt lá chuối khô lót xuống cửa hầm, tôi lấy bạt trải lên. Pháo địch ở Cồn Tiên bắt đầu bắn dọc con đường mòn. Phía xa, quanh khu vực điểm cao 544, chiếc C130 đang tuôn ra từng dây pháo sáng. tôi nằm xuống bỏ màn. Phúc trong hầm nói ra :

– Giắt màn khéo không muỗi nó “đặc công” đấy.

Pháo địch chuyển làn bắn vào con suối nước mé bên kia đồi. Tôi lấy quyển sổ kê làm gối ra định ghi tiếp đoạn nhật ký ghi dở dang ở hậu cứ nhưng rồi chợt nhớ quy định không được bật lửa lại nằm xuống. Mùi mồ hôi quen thuộc của Quang, của Trọng trong hầm bay ra nồng nồng, mằn mặn. Tôi đi vào giấc ngủ rất nhanh.

*

*       *

“Kiềng” của trung đội 1 nằm ở bên này điểm cao 161. Vào chiến trường do điều kiện địa hình phải bố trí theo trung đội, đánh độc lập, mỗi trung đội bảo vệ một đại đội pháo đất. Chính trị viên Hiền đi với trung đội 1. Anh Thành là trung đội trưởng trung đội này từ khi nó mới là cái khung chưa có lính. Ngày đó Văn Thành đang làm khẩu đội trưởng ở một trung đoàn pháo tiếng tăm lừng lẫy trên chiến trường miền tây.  Do yêu cầu phát triển nhanh của lực lượng cao xạ, anh được đi học lớp đào tạo cán bộ ngắn ngày rồi về làm B trưởng. Từ ấy pháo đạn trong tay, Văn Thành cùng với chiến sĩ trung đội mình đi khắp đó đây. Các anh đã giữ chiếc cầu nổi tiếng rồi về chốt ở một bến phà anh hùng mà tên dòng sông, ngọn núi ở đó trở nên thân thương với đồng bào cả nước. Những pháo thủ tưởng như bom đạn phải tránh ấy gắn bó với anh bằng tình cảm máu thịt và rất giản dị. Anh không biết lý giải tình cảm của mình thế nào, một điều anh thấy rõ : mỗi lần vượt qua một thử thách gay go, anh thấy tình thương giữa mình với chiến sĩ thêm sâu nặng. Công việc của một cán bộ trung gian như Văn Thành có người cho là nhàn hạ nhưng đối với anh thì không phải vậy. Việc cơ động thường bất ngờ, công việc ùn ra hàng đống. Anh lăn vào làm như một chiến sĩ. Chiến sĩ thường nhìn vào người cán bộ ở việc làm gương mẫu hơn là lời nói. Anh em phần nhiều trẻ, được học hỏi nên hiểu công việc nhanh và tự giác. Họ sống với anh sòng phẳng tin yêu, có thể nói bằng đầu, bằng đũa nữa. Trong chiến đấu, họ tin ở ngọn cờ chỉ huy của anh, nhưng có lúc họ xúm vào trêu chòng tra khảo một điều bao giờ anh nhận họ mới tha. Cánh trẻ ấy quen hò hét, nói cười ầm ĩ bây giờ vào trong này thấy bó buộc lắm. Điều lo lắng nhất của anh là ở ngoài kia đi đâu xe pháo, giờ chuyển sang mang vác với thời gian rèn luyện ngắn, chiến sĩ của anh có theo kịp với đòi hỏi của nhiệm vụ không ? Nhưng anh em đã mang đến cho anh một niềm tin mới : Ngồi trên xe, trên pháo, có lệnh họ phóng xuống đất vác súng máy trên vai rắn rỏi bước theo anh vào chiến trường. Lòng xôn xao trong những ý nghĩ xa gần, Thành đi xuống khu bếp của trung đội.

Chung đang sửa lại bếp. Anh mặc độc một chiếc quần đùi, mồ hôi đọng từng giọt lổn nhổn như hạt ổi ở khắp lưng. Nhìn thấy Thành lom khom ở dưới suối. Chung đứng lên khẽ reo:

– A trung đội trưởng, định xuống giúp anh em chắc ?

– Trên kia ổn rồi, định góp với các cậu hậu cần một tay.

Chung kéo cân lại cái quần mồ hôi ướt đẫm trễ xuống quá mức lộ cả đám rễ bèo ra. Cậu đỏ mặt, giơ tay quệt mồ hôi trán, nhìn Văn Thành :

– Anh cởi áo ra đi, đây hiếm nước, mồ hôi ra không có chỗ giặt. Đào được cái giếng cũng chỉ đủ nấu cơm, đun nước uống thôi.

– Giếng ở cái khe đá ấy à, xong chưa, không tớ xuống mở thêm ?

– Xong rồi. Nước trong lắm, chỉ phải tội ngấm ra chậm. Tôi đã bắt mấy con cá về thả vào đấy đề phòng có chất độc mình biết ngay.

Văn Thành cởi áo đưa Chung bỏ lên cây gỗ chết nằm ngang. Đứng giữa mấy bụi lách trông Chung nhỏ nhắn đi, râu mọc ra tua tủa, mọc xuống tận cổ. Chung có cái trán cao, đôi mày rậm, rậm đến tối cả khuôn mặt. Nước thiếu, bếp phải đào theo kiểu bếp Hoàng Cầm lại thêm hầm hố ở, công việc túi bụi làm cậu ấy gầy rộc. Chung chịu khó, tháo vát nhưng nóng tính. Trước Chung làm trinh sát đại đội, từ ngày đơn vị chuyển sang dùng súng máy, biên chế thay đổi, đại đội đưa Chung vào làm anh nuôi. ở chiến trường, anh nuôi cần xông xáo và có khả năng độc lập công tác. Văn Thành ngồi xuống phiến đá, hai tay để thõng trên đầu gối :

– Biết các cậu vất vả nhưng anh em trên kia cũng làm hùng hục mà chưa hết việc, không cử người xuống giúp được.

– Chúng tôi hai người là đủ rồi. Mà anh Thành này, trả tôi về cái nghề đánh đấm thôi, tôi ở nghề khói um không được đâu.

– Sao lại không được ?

– Nhóm bếp, lửa không cháy, có khi tôi quẳng xoong xuống suối mất.

– Tao thì chặt tay.

Văn Thành đi xuống “tham quan” công trình giếng nước của Chung. Mấy con cá tép Chung thả bơi lập lờ, thi thoảng ưỡn bụng lên. Anh gặp cậu Cư mập, số hai của khẩu đội 1 đeo một chùm bi đông xuống lấy nước. Trông thấy Văn Thành, Cư cất giọng ồ ồ :

– Anh Hiền nói anh về hội ý.

Văn Thành bỏ cuốc, đi một quãng còn quay lại :

– Chú ý, mấy con cá ngộp thở, có lẽ chất độc hóa học còn cao trong nước, mà hầm hố xong, cạo râu đi !

– Vâng tôi sẽ để ý. Trước khi nấu cơm tôi cho mấy viên Cloramin vào sát trùng còn cái bàn chải của tôi nếu cạo thì mỗi ngày phải một lần. Lần này để đấy xem nó tốt được đến đâu.

Cư mập đi đến bên, Chung vờ quát :

– Mồ hôi ra nhiều uống in ít thôi. Đồ rậm râu sâu mắt hay bắt trẻ con, ở đây xem có đứa nào mà doạ không ?

Cư mập cười khơ khớ. Văn Thành đi xa còn nghe hai cậu vật nhau huỳnh huỵch.

*

*      *

Chính trị viên Hiền đang hướng dẫn bộ đội vơ lá khô nguỵ trang thêm mấy chiếc hầm còn lộ, thấy Văn Thành, anh vẫy lại :

– Tôi vừa đi họp về, có việc cần bàn với anh. Mấy ông trên tiểu đoàn hỏi tại sao anh không lên họp; tôi phải giải thích mãi rằng công việc ở nhà đang bừa bộn, các ông ấy mới chịu. Này, tiểu đoàn điều cho chúng ta một “cố vấn”. Cậu này ở chiến trường lâu năm có kinh nghiệm, tên là Hoè.

– Cậu ấy đâu rồi, anh ?

– Đang ở đằng A1.

– Ta để Hoè ở luôn với khẩu đó anh ạ.

– Mình cũng định bàn như thế. Hoè về khẩu đội 1 đánh một cặp với Cư. Giờ, ngồi xuống đây ta bàn thêm một số công việc, tình hình rất khẩn trương.

Văn Thành ngồi bệt xuống đá, hai người rì rầm trao đổi …

Tôi bước ra ngoài hầm, bập lưỡi xẻng con xuống cửa, đứng nhìn. Gần như cả trung đội đang xúm quanh mấy chiếc hầm của khẩu đội 1. Cậu Trọng đã tót sang bên ấy từ lúc nào, tôi định đến hỏi chuyện Hoè nhưng  lại thấy mình chưa nên vồ vập nên lại thôi. Quay trở vào hầm, tôi đưa cho Quang đoạn gỗ kê ngang. Căn hầm sửa sang lại trông xinh xắn và sáng sủa hẳn ra. Ngủ hầm, tôi thấy có cái thích riêng của nó, đêm nằm thấy say say trong mùi thơm mát của lá lách xen lẫn hương nồng ấm của một thứ gỗ lạ. Sáng nay trở dậy vô ý cụng đầu vào cửa gỗ, mấy đứa dụi vào nhau cười.

Thấy tôi có vẻ nghĩ ngợi, Quang  ngồi ngẩn ra rồi đột ngột hỏi :

– Ta quay đầu ra hay quay vào hở anh ?

– Quay vào hơn, đề phòng nó bất ngờ câu pháo tới.

Tôi với tay sửa lại đằng chân làm chỗ để súng AK, lựu đạn lúc cần lấy cho nhanh. Quang cặm cụi đào một cái hốc ở phía đầu làm chỗ để sách, đồ dùng. Bên ngoài hầm có tiếng loẹt quẹt của giày cao cổ siết vào đá rồi một giọng nửa trong, nửa ngoài vọng vào :

– Trong hầm có lửa cho xin một tí.

– Ai đấy ? – tôi hỏi.

– Tôi đây. Hoè mới về đây.

Tôi bước ra ngoài:

– Anh Hoè “cố vấn” phải không ?

– ừ, cố chứ không vấn …

Hoè cười, cái mũi nhăn lại giơ hết hàm răng trên, môi dưới không động đậy. Quang đưa cho Hoè cái bật lửa. Cậu ta ngồi bệt xuống đá hút thuốc lào. Hoè mặc áo xuân – hè bỏ ngoài quần, cúc áo đứt một chiếc, phanh ngực ra. Cằm cậu ta có mấy sợi râu đỏ như râu ngô. Hút xong một điếu thuốc, Hoè hút luôn điếu thứ hai, cậu ta ngửa cổ, mồm thở khói ra cuồn cuộn. Đôi mắt Hoè bỗng lờ đờ, không ra nhìn cũng không ra nhắm, hai tay nhấc khỏi đầu gối, choãi ra sau chống mạnh xuống đá.

– Say rồi – Quang bật cười.

– Không say … ờ … khoái quá – Hoè cười, cánh mũi lại nhăn lên.

Ngồi thêm một lát, Hoè trả Quang cái bật lửa đứng dậy chào rồi về. Tôi nhìn theo nói với Quang:

– Ông này ở đơn vị nào về mà lôi thôi thế không biết ?

Góc đằng kia, Văn Thành ngồi ngẩng mặt nghe chính trị viên Hiền nói. Câu chuyện có vẻ quan trọng lắm. Hai người đứng lên, tôi nghe loáng thoáng :

– Phải chuẩn bị cho bộ đội có tư thế thật đàng hoàng để bước vào chiến đấu, chú ý cả anh chàng Hoè nữa. Bảo cậu ấy cắt tóc đi, càng ác liệt càng phải sống cho chững chạc. Cái quan niệm ở đây chỉ có mấy ông đực rựa với nhau cần gì phải gọn gàng là không được.

Văn Thành cười :

– Phải đi đòi con dao cạo và bộ tông đơ về.

– Cầm về đây rồi.

Anh Hiền định nói gì thêm nhưng anh đột ngột dừng lại. Một tràng tiếng nổ đầu nòng nghe gắt ở phía Miếu Bái Sơn, anh vội nói to :

– Ai ở xa về cửa hầm, pháo nó bắn về phía ta đấy.

Chỉ nhoáng một cái đã nghe tiếng của những viên đạn pháo xoáy vào không khí xoèn xoẹt rồi một loạt tiếng nổ dội lên rất đanh ở quả đồi trước mặt. Loạt pháo thứ hai nổ ngay rìa suối, mảnh đạn cắm phầm phập vào thành hầm. Bọn Mỹ dừng lại một chốc, lại bắn, lần này chúng bắn chuyển ra xa. Ngồi trong hầm chính trị viên Hiền nói với Văn Thành :

– Nó bắn kiểu này nguy hiểm lắm, chủ quan nghĩ nó bắn ra xa là có ngày nó đấm lưng cho ngay.

Anh Hiền đã quen với pháo, trước  đây anh từng làm trợ lý của một đơn vị tên lửa suốt ba năm trời nằm trên đất tuyến. Theo cách nói của anh, anh đã từng “nếm” đủ các loại pháo của các căn cứ Mỹ ở mặt trận bắc Quảng Trị. Trên đường vào đây, anh đã kể cho cán bộ, chiến sĩ nghe những kinh nghiệm tránh pháo địch. Anh muốn qua đấy, bộ đội của mình quen dần với đối tượng chiến đấu mới. Một điều lo lắng cứ âm ỷ trong lòng anh : Nếu trong ý thức của mình, cán bộ, chiến sĩ không biến chuyển nhanh; trên chiến trường mới, đơn vị dễ bị thương vong vô ích, dẫn đến không hoàn thành nhiệm vụ. Nói đến máy bay phản lực chỉ cần nghe động cơ, pháo thủ cũng đoán ra loại gì nhưng với máy bay trực thăng, L19, OV10 thì anh em chưa quen. Vấn đề đặt ra không phải chỉ cho cán bộ quân sự mà trước hết là ở anh, người làm công tác chính trị phải làm sao đơn vị khẩn trương, có ý thức nắm được “tính nết” của bọn này.

Thêm mấy loạt pháo nữa nổ ở xa rồi bọn Mỹ câm bặt. Một chiếc đầm già L19 è è ở phía tây. Chung xách chiếc xoong “hai mươi” từ bếp theo đường chếch lên “kiềng”. Ngang qua hầm của tổ tôi, Chung ghé vào:

– Hầm này có vẻ tiền tiêu ghê. Còn gạo không ?

– Còn nguyên cả đây. Vừa rồi có quả nào gần bếp không, “bác” Chung râu ?

– Hai quả ngay chỗ bếp đào dở. Ông Hiền bảo chuyển về bên này có “góc chết” của pháo, chứ không cả người lẫn gạo, thịt, củi đi tong.

Tôi kéo Chung vào hầm:

– Vừa rồi nó bắn nhiều theo suối cạnh trận địa ta. Mấy tay thổ công ở đây nói B52 cũng bay rải bom dọc con suối đó.

Chung đang lẩm nhẩm tính gạo dừng lại :

– Ngày còn ở hậu cứ, mình ngó “trộm” bản đồ của Đại đội trưởng con suối này trên bản đồ là những gạch xanh đứt quãng. Mình đoán ngay có lúc nó khô nhưng thế nào cũng có mạch nước ngầm nên mới phát hiện ra cái hũm đá đào làm giếng. Dân trinh sát quen rồi, đi đâu không có bản đồ tức anh ách. Có mỗi tấm bản đồ tỷ lệ 1/100.000 Đại đội trưởng giữ khư khư, hình như ông ấy sợ bọn mình xem xong “bốc hơi” của ông ấy không bằng.

Có tiếng trung đội trưởng Văn Thành gọi các khẩu đội trưởng đến nhận công việc mới, Chung khệ nệ bê soong gạo về bếp.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s