DỌC MIỀN TRUNG (13)


ĐÀO THẮNG

logosachV. Lời nhắn bạn :

Trung đoàn 233 (Đoàn Đống Đa) pháo cao xạ là một biểu tượng của sự gắn bó giữa Truông Bồn và Vinh – Bến Thủy. Từ trước dến giờ Bến Thủy là một đơn vị hành chính của thành phố Vinh, nhưng khi nói đến địa danh này, thành phố anh hùng, có vinh dự đặc biệt mang danh thành phố Đỏ thì phải gọi là Vinh – Bến Thủy mới thấy hết tầm vóc lớn lao.

Lứa chúng tôi, lính trung đoàn đã từng sống chết với dải đất này thì tự nhận trong lòng Vinh là quê hương thứ hai của mình. Sau cuộc ném bom hạn chế tuyến lửa khu bốn, Mỹ ngừng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, đoàn Đống Đa không trở về Hà Nội như lời hứa của một đồng chí cán bộ cấp trên trước cuộc hnàh quân đường dài mà ở lại Vinh, trở thành một trung đoàn phòng không chủ lực của quân khu cùng một số trung đoàn khác như đoàn Sông Gianh, đoàn Hoa Lư, đoàn Ba Đình. Vinh trở thành thủ đô của chúng tôi những anh lính sinh ra nơi đồng bằng sông Hồng.

Trung đoàn được bổ sung lớp lính trẻ Nghệ An. Bổ sung cán bộ ở cấp trung đoàn. Anh Bùi Thúc Nhâm nguyên là Trưởng ban Tác chiến sư đoàn phòng không nam quân khu (Sư đoàn 375) về làm Trung đoàn phó rồi Trung đoàn trưởng. Anh Lê Kim Tuyên cán bộ Trung đoàn tên lửa lên quân khu làm thư ký Chính ủy quân khu Lê Quang Hòa về làm Phó Chính ủy, sau anh làm chính ủy trung đoàn. Trung đoàn phó Nguyễn Hữu Tình (từ đoàn Sông Gianh – e214 về), Chủ nhiệm chính trị Trần Duy Huynh v. v. Ban lãnh đạo mới được thử thách và trưởng thành từ cuộc chiến đấu chống lại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của Mỹ trên tuyến lửa.

Xê tám của chúng tôi được nhận thêm một số tân binh quê Nghệ An. (Vào cuối cuộc chiến tranh trung đoàn còn nhận một đợt 500 chiến sỹ người Vinh). Tôi nhớ một câu ngạn ngữ do bố người bạn thân chúng tôi đọc  khi chúng tôi lên đường nhập ngũ : “ Gan Thanh Nghệ, lính đệ chi long”. Anh em tân binh Nghệ An mới vào đại đội tôi ít nói, làm nhiều, khi có chiến đấu tỏ ra gan góc, và sống rất tình cảm. Thay cho chiến sĩ Đăng do xa hi sinh là Lưu Quốc Tuấn quê Diễn Lộc, Diễn Châu, Nghệ An. Tuấn thấp đậm, trán rộng, khi nói gật đầu như người lớn tuổi. Anh em tân binh ở các đại đội 9 đại đội 10 thỉnh thoảng hẹn hò gặp nhau ở xê 8 làm bữa liên hoan nhẹ kẹo cu đơ, nước chè chát, có khi chỉ mấy điều thuốc lá Bến Thủy ngồi quây trong lán, nói chuyện phấn đáu vào Đảng, chuyện gia đình rất lâu.

Tiểu đoàn 25, ba đại đội Xê 8, xê 9 và xê 10 được cụm về gần nhau gần giống như đạo quân tiên phong từ Vinh, kéo pháo đi bảo vệ phà sông Gianh, phục kích đánh máy bay ở đầu đường 20, và đường 15B miền tây Quảng Bình. Rồi đột ngột lệnh trên, tiểu đoàn hành quân về Vinh, lại từ Vinh thẳng sang Lào bảo vệ đường 7B, khi ta và bạn mở chiến dịch cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng. Hết chiến dịch “cha con” dắt nhau về Vinh!

Đầu năm 1971, toàn tiểu đoàn bỏ pháo 37 li, vác súng máy 12 li 7 vào Bãi Hà, Vĩnh Linh tập kết, thành quân đi B ngắn, ăn cơm bắc, đánh giặc nam, bảo vệ pháo mặt đất, sát vào với bộ binh, giải phóng căn cứ Phu Lơ (điểm cao 544) án ngữ một dải giới tuyến rồi về khu Đông ôm sát các căn cứ Cồn Tiên, Dốc Miếu, căn cứ 31, Quán Ngang hạ máy bay trực thăng khi nó vừa cất cánh chuẩn bị cho cuộc chiến năm 1972. Cuối năm 1971, dấu hiệu Mỹ ném bom trở lại miền Bắc đã rõ. Tiểu đoàn 25 nhận được lệnh gấp về Vinh. Một tiểu đoàn súng máy cao xạ ( tiểu đoàn 2) từ chiến trường B5 Quảng Trị cũng được điều ra nhận pháo 37 ly (37mm), bảo vệ Bến Thủy, một đại đội lên chiếm lĩnh đỉnh 102 trên núi Quyết. Ngày cuối năm 31 tháng 12 năm 1971 máy bau Mỹ ném bom sân bay và ga Vinh. Toàn trung đoàn nổ súng, phối hợp với bộ đội tên lửa bắn rơi tại chỗ hai chiếc máy bay Mỹ,

Thế là Mỹ đã lại đánh phá Vinh thân yêu của chúng tôi. Bộ đội được huấn luyện cơ bản, luôn được hành quân cơ động, đã rèn giũa, đã sẵn sàng cho cuộc chiến đấu bảo vệ Vinh lần thứ hai.

Cùng với việc tăng cường huấn luyện rút kinh nghiệm các trận chiến đấu, mở trường đào tạo cán bộ khẩu đội, tiểu đội. Trung đoàn mở lớp bồi dưỡng cho các khẩu đội trưởng, tiểu đội trưởng gọi là Trường Hạ sỹ quan ngắn hạn tại địa điểm : xóm Cầu, xã Quảng Thuận, huyện Quảng Trạch, Quảng Bình. Tôi được đơn vị cho đi học lớp hạ sỹ quan. Đây là lần thứ  hai tôi được cử đi học. Lần đầu khi đơn vị còn ở xứ Thanh, Trung đoàn 57 bộ binh gửi giấy gọi vào Trường Hạ sĩ quan, doanh trại phía sau núi Bợm, được dậy và học hết sức nghiêm túc quân lệnh. Ban lãnh đạo mới của Trung đoàn hết sức coi trọng công tác Đảng, công tác chính trị, các hoạt động văn hóa, văn nghệ.

Quân khu Bốn có truyền thống hội diễn văn nghệ quần chúng Mùa Xuân. Vào cữ đầu xuân sau Tết Nguyên đán ít lâu, các vườn hồng ở Nam Xuân, Nam Anh bật mầm, sương mù lảng bảng trên sườn Đại Huệ, sương lóng lánh như hạt ngọc nặng trĩu lá cả vườưn rau quanh trạm khách quân khu, các đội tuyên truyền Văn hóa, Văn nghệ của các sư đoàn, trung đoàn chủ lực, các đoàn huấn luyện quân đi B, các tỉnh đội nườm nượp kéo nhau về trạm 50 tại xã Nam Yên, Nam Đàn hội diễn quân khu.

Để chuẩn bị cho Hội diễn quân khu, Đảng ủy, Thủ trưởng trung đoàn cho lập tổ sáng tác Trung đoàn. Tổ do Tưởng Duy Hùng, chàng trai số 74 phố Cầu Gỗ, Hà Nội làm tổ trưởng. Hùng đã dự lớp sáng tác ca khúc do phòng Văn hóa – Văn nghệ quân đội tổ chức. Cậu ta khá về nhạc lý, chơi đệm và độc tấu ghi ta loại anh chị, chơi ác coóc và đệm cho tốp nam hát xếp vào loại thứ hai, thứ ba toàn quân khu. Tổ chúng tôi có Nguyễn Chí Bốn, phóng viên báo Phòng không – Không quân tìm về đơn vị đi chiến đấu, chuyên gia viết tấu thơ về Anh hùng Nguyễn Huy Hồng và tôi có văn thơ đăng báo, chàng trai rụt rè, lúc nào cũng mang khuôn mặt buồn. Sau này tổ bổ sung Phùng Chiến ở đường 9 ra, có Trần Đông Hỷ người phố Hàng Cót, Hà Nội, Nguyễn Thế Sự xứ Nghệ, Văn Trung xứ Thanh, Nguyễn Ngọc Lợi Quỳnh Lưu.

Tổ sáng tác đặt bên cạnh Ban chính trị trung đoàn cho dễ chỉ đạo và dễ quản lý. Tôi và Nguyễn Chí Bốn ở trong nhà bác Dinh, vợ bác mới chết, thân gà trống nuôi bẩy đứa con. Đầu ngõ nhà bác có nhà thờ tổ dòng họ Nguyễn Khắc làng Đỏ (tức Hưng Dũng, Vinh). Sau mới biết đó là dòng họ của bác Nguyễn Mạnh Cầm, nguyên ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên trung ương Đảng, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Anh Nhâm, anh Tuyên đôi lần ghé thăm tổ sáng tác trao đổi nội dung và góp ý một vài tiết mục. Chủ nhiệm chính trị Trần Duy Huynh cao lớn khoác áo ca – pốt đi đôi bốt cao, dáng khoan thai, mắt đeo kính cận thật chả khác gì Chính ủy của Hồng quân Liên Xô, hầu như đêm nào cũng ngồi với chúng tôi. Hướng chúng tôi sáng tác về người và những chiến công của trung đoàn. “Hai lão” Duy Hùng, Bồn Thắng (Nguyễn Chí Bốn) nghiện thuốc lá chiều nào cũng mò ra cái hội trường nhỏ của làng Đỏ, nơi cán bộ quân chính trung đoàn thường họp, lần nhặt các mẩu thuốc lá gói lại mang về dỡ ra, dùng giấy pơ – luya mỏng quấn lại phì phèo cho thêm sức thức thâu đêm, suốt sáng. Những đêm thức như thế trung đoàn trưởng Nhâm lại chỉ thị cho hậu cần bổ dưỡng cho tổ sáng tác vài ba thùng lương khô loại ngon của Trung Quốc.

Với sự quan tâm đặc biệt và đồng cảm cao như vậy đã động viên thúc giục chúng tôi sáng tác, tập luyện không kể ngày đêm. Và trong lần ra mắt đầu tiên Hội diễn quân khu, đội văn nghệ trung đoàn pháo cao xạ 233 đã đứng đầu khối chủ lực. Chúng tôi tiếp tục đứng đầu khối này vào các hội diễn mùa xuân quân khu các năm 1972, 1973, 1974 và hội diễn 10 năm Quân khu Bốn (1964 – 1974) tại Cửa Lò. Anh Nhâm hậu duệ dòng họ học giả Bùi Dương Lịch nói trong Hội nghị Quân chính : “Anh em văn nghệ có thể tự do một chút, quá đà một chút, mình vẫn nhắc nhở, mà phải đồng cảm, phải chân thành. Hơi động một tí đã nạt nộ, lên gân, phạt là nó tịt vòi lại”. Còn anh Huynh cười : “ Tớ cũng sáng tác đây chứ. Tớ nằm đây với các bạn tớ ăn lương khô”. Khi anh Thanh Đồng, anh Đậu Kỷ Luật gọi tôi đi trại viết quân khu đơn vị không chịu nhả vì tôi thuộc lớp lính “hai cuộc” (cuộc ném bom hạn chế và cuộc chiến năm 1972) sống lâu ở đơn vị, đánh gan, anh Huynh đã viết thư cho Chính trị viên và thư riêng cho tôi bỏ vào một phong bì. Anh ký tên dưới lá thư gửi cho tôi và đề là Bạn của Thắng. Lá thư này tôi giữ được rất lâu.

Đội văn nghệ đi biểu diễn cho nhân dân nơi đóng quân, biểu diễn cả cho lính ngụy bị bắt làm tù binh giam ở miền tây Nghệ An. Chúng tôi biểu diễn tại trận địa, đến các đài quan sát xa ở Rú Nài (Cửa Sót), Rú Nầm (Hương Sơn) v. v, Anh Huynh tổng kết : “ Văn hóa – Văn Nghệ đã góp phần quan trọng vào chiến thắng rực rỡ của đoàn Đống Đa pháo cao xạ năm 1972”

Năm 1972 là đỉnh cao cuộc chiến với Mỹ, dẫn tới Mỹ phải ky hiệp định Paris công nhận chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, tuyên bố chấm dứt sự dính líu trực tiếp quân lực tại Việt Nam vào đầu năm 1973.

Chưa hết năm 1972 anh Nhâm, anh Huynh đã cho triệu tập tổ sáng tác trung đoàn. Mùa Đông năm 1972 trước khi đánh Hà Nội máy bay B52 ném bom rải thảm nhiều nơi trên đất Nghệ An. Chúng đánh sân bay Dừa, đánh Nghĩa Đàn, Tân Kỳ và rải bom khu vực cầu Mượu, nhà máy gỗ. Bom B52 nổ cách sở chỉ huy và cơ quan trung đoàn hơn nửa cây số. Anh Huynh nói : “Đây là xã Hưng Đạo, chốt ở đây sáng tác về lòng tự hào và chiến công”.

Anh Trần Duy Huynh khi ấy đã lên phó chính ủy đã gợi y cho một sáng tác, một tiết mục nổi tiếng của văn nghệ đoàn Đống Đa (e233). Tác phẩm Tiếng hát tự hào, tiếng hát chiến công nhạc Duy Hùng, Phùng Chiến. Lời Nguyễn Khắc Thuần, Nguyễn Chí Bốn (Bồn Thắng) còn tôi có Bài thơ Từ một tam giác lửa.

Năm 1972 lịch sử trung đoàn chúng tôi từ bệ phóng thành Vinh – thành phố Đỏ dẫn đầu lực lượng phòng không được xã luận báo Nhân Dân ngày 2 tháng 9 năm 1972 gọi là Trung đoàn bốn nhất :

  1. 1.     Bắn rơi nhiều máy bay Mỹ nhất ( 27 chiếc)
  2. 2.     Bắn rơi tại chỗ nhiều nhất ( 9 chiếc)
  3. 3.     tiêu diệt và bắt sóng nhiều giặc lái nhất (Bắt sống 02 tên giặc lái, tiêu diệt nhiều tên khác)
  4. 4.     Tiết kiệm đạn nhất.

Đầu năm 1973 Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đi  dọc tuyến lửa khu Bốn và Trường Sơn, đến thăm trung đoàn. đay là lần thứ hai đoàn Đống Đa pháo phòng không có vinh dự đặc biệt được Đại tướng Võ Nguyên Giáp đén thăm trận địa. Lần đầu tại Nam Hà Nội. Lần thứ hai tại Bến Thủy – Vinh. Đứng tại trận địa Xê 3 Đại tướng nói : “Mong lực lượng phòng không – không quân có nhiều trung đoàn bốn nhất như trung đoàn 233”. Như vậy từ chiến công của trung đoàn, nhờ sự chăm nom, nâng đỡ ngay từ đầu của lãnh đạo, thủ trưởng, của cơ quan đã có được những sản phẩm có ích cho chiến sĩ, cho cuộc sống. Cách đây mấy năm về Vinh kỉ niện ngày thành lập trung đoàn với các bạn chiến đấu người Vinh. 500 anh em ngày ấy bây giờ có người thành doanh nhân thành đạt, là cán bộ Đảng, chính quyền, cán bộ công tác ở cơ quan quân khu, ở lữ đoàn Phòng không 283. Họ có một ban liên lạc hoạt động rất tốt. Đến nhà anh Nhâm, mấy anh em tổ sáng tác cũ rất xúc động khi anh mang cái túi ni lông đựng bản viết tay hợp ca : Tiếng hát tự hào, tiếng hát chiến công ra giở từng trang cho chúng tôi xem. Giấy viết là loại giấy Tơ rô ki đặc biệt thời đó. Chưa có chữ nào bị nhòa. Anh Nhâm đã giữ kỷ vật này rất cẩn thận. Ngón tay đàn cảu Duy Hùng run run đặt vào chữ tiếng hát. Nguyễn Chí Bốn đã qua đời. Văn Trung ung thư gan vừa mới mất.

Anh Nhâm nhìn khắp lượt cười ấm :

– Thành nhà văn, thành nhạc sỹ, họa sỹ rồi có còn nhớ cái tiếng hát này không ?

Tôi hiểu anh nhắc nhở chúng tôi, người viết, người sáng tác không bao giờ được quên cái nôi của mình.

Tôi đùa góp với anh :

– Trung đoàn ta có hai ông tướng. Thiếu tướng Nguyễn Hữu Tình và Thiếu tướng Nguyễn Phong Phú. Còn anh em chúng em phong tặng anh lão tướng họ Bùi.

Anh vẫn cười :

– Trung đoàn mình phát về Văn hóa – Văn nghệ : Duy Hùng là họa sĩ, nhạc sĩ, Phùng Chiến nhạc sỹ có nhiều bài hát nổi tiếng như : Sa Pa nơi gặp gỡ đất trời, đi chơ Bắc Hà Nguyễn Ngọc Lợi cây truyện ngắn đã ra mắt mấy tập sách rồi đoạt mấy giải thưởng của Trung ương và dọc miền Trung : Nghệ An, Quảng Trị, Huế, Nguyễn Thế Sự  tung tác đánh quả giữa đài, báo, kịch truyền thanh, bút ký lấy tiền nhuận bút nuôi mẹ, nuôi em và Thắng nữa, im ỉm mà ăn cờ. Giải thưởng lớn của Hội Nhà văn, Giải năm năm Bộ Quốc phòng. Thế mà chưa tặng tôi quyển sách nào.

– Có tặng rồi chứ ạ!

Anh mỉm cười :

– Tặng qua Nhà Văn hóa Quân khu, quân ông Luật đúng không ?

Tôi ngập ngừng cười chịu lời.

Chợt Lưu Quốc Tuấn hỏi :

– Thủ trưởng ơi, em là lính 1968 (thuộc đại đội 8 chúng tôi) sau làm Chính trị viên đại đội, rồi làm cán bộ ở Sư đoàn Dầu khí rồi về Vinh làm công tác cán bộ ở lữ đoàn 283. Em xin hỏi thủ trưởng 283 nó khác 233 ở chỗ nào thủ trưởng

Anh Nhâm vẫn mỉm cười, giọng nói trở nên vang sắc sảo, anh hỏi :

– Tuấn, thấy nó khác ở chỗ nào ?

Giọng Tuấn to vang :

– Nó khác mỗi con số 8 ở giữa thôi bác ạ!

Anh Nhâm nhìn khắp chúng tôi !

– Không khác đâu. Nó là sự nối tiếp truyền thống của lực lượng phòng không quân khu Bốn, chủ yếu là pháo cao xạ, tiếp nối truyền thống các trung đoàn : 233, 222, 214, 280 chiến đấu bảo vệ Vinh – Bến Thủy. Dòng chảy lịch sử không dừng lại, đứt ở đây. Để đứt là có tội với lịch sử. Bây giờ chưa thấy tội nhưng sau này lịch sử sẽ phê phán. Chúng ta rồi sẽ nằm xuống đất theo các liệt sỹ Truông Bồn và Vinh – Bến Thủy, chỉ có điều khác là chúng ta khi nằm xuống có được thanh thản như anh chị em hay không ? Tuấn vuốt vầng trán rộng, giọng vang lên như trong trận đánh :

Em giờ thành người của hai đơn vị : e233 và lữ 283. E233 được mang tên Đoàn Đống Đa. Chiến thắng vĩ đại Ngọc Hồi – Đống Đa của của vua Quang Trung. Bây chừ Ngài về ngự trong ngôi đền trên đỉnh núi Quyết thì còn lo gì không lấy tên Đống Đa mà đặt cho 283. Nếu còn ngại ngần gì thì mang chiến tích, chiến công của 233 – Đống Đa làm cái tiền thân cho 283. Truyền thống là tài sản chung của quân dân Vinh – thành phố Đỏ, của nhân dân dọc miền Trung tuyến lửa đổ bao máu xương mới có được, chứ có phải của riêng ai mô, mà so đo, chần chừ, tính toán. tôi nghĩ còn cụ Nguyễn Sơn, còn cụ Lê Quang Hòa thì cụ cho làm gọn gàng lắm rồi.

Anh Bùi Thúc Nhâm (một thời gian làm sư đoàn trưởng Sư đoàn 441, rồi làm Cục trưởng Cục Hậu cần, ủy viên thường vụ Khu ủy Khu Bốn) đi với những người bạn chiến đấu là lính của anh. Anh tiễn đoàn văn nghệ 233 lên Truông Bồn. Trong chúng tôi có mấy anh em đã từ Truông Bồn đến Bến Thủy và hôm nay chúng tôi lại từ Bến Thủy trở lại Truông Bồn. Duy Hùng sẽ vẽ về mảnh đất, địa danh lịch sử này, Phùng Chiến đã hứa là có bài hát trữ tình ngợi ca, Nguyễn Ngọc Lợi phải có ngay bút ky : “Cái chớp mắt của lịch sử”, còn Nguyễn Thế Sự tay đánh quả với nhà đài lấy nhuận bút nuôi mẹ, nuôi em bị chứng tâm thần sẽ viết kịch truyền thanh thật cảm động. Nguyễn Khắc Thuần sẽ viết nhiều  bài cho các báo, sau tập hợp lại thành một tập có tính chất sử thi về Truông Bồn.

Còn tôi cố gắng viết đúng hẹn mấy kỳ báo có tính bút ký, lịch sử về sự gắn với nhau, từ đây thành ra đấy và từ đấy về đây, của Vinh – Bến Thủy  và Truông Bồn. Cái bút ký – lịch sử sẽ mang tên “ Từ Truông Bồn đến Vinh – Bến Thủy”.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s