HÀ CỪ VÀ DẤU CHÂN TRONG CỎ (*)


(Đọc tập thơ Dấu chân trong cỏ của Hà Cừ, Nxb Hội Nhà văn, 2010)

NGUYỄN TRÁC

Sau “Thăm thẳm cõi người” (2008) vào tuổi giàu chiêm nghiệm, Hà Cừ cho ra mắt bạn đọc tập thơ thứ bảy của mình – “Dấu chân trong cỏ”.

Nhà thơ Hà Cừ (phải) & nhà thơ Bằng Việt - ẢNh NTT.

Nhà thơ Hà Cừ (phải) & nhà thơ Bằng Việt – ẢNh NTT.

Tiếp tục mạch thơ các tập trước, tập này các vấn đề đều được tác giả đào sâu hơn, tính khái quát cũng cao hơn và thơ trở nên nhuần nhị sâu lắng hơn. Đề tài thơ bao quát rộng, từ tình cảm bạn bè, tình yêu quê hương đất nước đến những suy nghĩ trăn trở về số phận quốc gia, thân phận con người.

Nếu ở “Thăm thẳm cõi người” thơ rút vào cốt lõi việc đời(*), câu thơ săn chắc, nhiều nghĩ ngợi triết lý mà ít những thênh thang bay bổng thì tới “Dấu chân trong cỏ” những suy tư nghĩ ngợi của nhà thơ đã được kết hợp hài hòa với cảm xúc và trên nền tảng của cảm xúc. Thơ đầy thêm da thịt cuộc đời. Đấy chính là bước phát triển của thơ Hà Cừ ở tập này.

Vẫn những tình cảm nhân văn đã hình thành từ thuở ấu thơ như một dòng chảy xuyên suốt, nhưng đến “Dấu chân trong cỏ” những tình cảm ấy trở nên day dứt và sâu sắc hơn:

Ấy là tôi nhớ tôi mong
Ngõ quê như cũng long đong phận người

(Ngõ quê)

Cái ngõ quê xưa giờ không còn chỉ là một ngõ quê nhỏ hẹp bình thường của riêng Hà Cừ, của làng xóm anh, không còn là một – ngõ – quê – vật – chất thuần túy… mà đã trở thành một – ngõ – quê – tinh – thần, có tính biểu tượng, hàm chứa những mất còn, riêng chung, mơ và thực… một kiếp người.

Lên Cao Bằng, đứng trước thác Bản Giốc bị chia đôi với cây cột mốc giữa dòng, anh tự hỏi:

Thác trắng xóa một màu
Như hòa cùng mây trắng
Ngọn gió nào chát đắng
Thổi lòng ta bời bời

(Bản Giốc)

Đây là bài thơ hay. Cái ngọn gió kiêu hùng thổi về từ lịch sử cha ông, gặp cảnh, gặp lòng người yêu nước hôm nay trăn trở, đã làm chát đắng câu thơ. Là người làm báo, những vấn đề thời sự luôn làm Hà Cừ quan tâm và khai thác. Ở “Bản Giốc” là những bức xúc về chủ quyền dân tộc, còn trước Trụ sở LHQ, khi nhìn lên quốc kỳ của các nước thành viên lại là những suy tư về số phận mỗi quốc gia:

Mỗi lá cờ một số phận quốc gia
Chiến tranh, hòa bình – ấm no, đói rét
Có đất nước già nua, thăng trầm leo lét
Có đất nước trẻ trung vạm vỡ dưới ánh trời

Phấp phới lá cờ – số phận đất nước tôi

(Những lá cờ trước trụ sở Liên hợp quốc)

Xem chương trình tìm người thân trên ti-vi, anh ngậm ngùi:

Đất nước mình qua mấy đận gian lao
Chuyện ly tán làng quê nào chẳng có
Nước mắt chảy vào trong những tháng ngày vò võ
Lặn lội tìm nhau góc bể chân trời

(Như chưa hề có cuộc chia ly)

Đến chương trình thời sự thế giới, anh lại nghĩ tới những bất công còn đầy rẫy trong xã hội loài người:

Khác chăng, chỉ khác màu da
Âm thanh, ngữ điệu bóc ra là người

Ở đâu cũng mặt đất này
Mà sao lắm nỗi đọa đầy thế gian?!

(Nhân xem thời sự truyền hình)

Mảng thơ tặng bạn bè cũng để lại nhiều ấn tượng đẹp và cảm động với những câu thơ giản dị. Đó là hình ảnh một Nguyễn Trọng Tạo lãng mạn “Bạn đi như gió trăm miền/ Sông Bùng vẫn một nỗi niềm nhớ thương”, một Kim Chuông lận đận những vui buồn “Như cánh buồm cuối chiều nặng trĩu/ Nắng gió mở lòng về neo đậu đất quê”. Khác với hình ảnh Vũ Thành Chung, mải mê “Mười năm phiêu dạt nước Nga” là một Tô Ngọc Thạch, trời vừa cho một vóc dáng hào hoa lại vừa cho anh tài làm thơ vừa biết làm kinh tế “Lo ăn, lo mặc trăm nhà/ Sớm trưa bạn hữu gần xa nghĩa tình”…

Đan cài giữa những mảng lớn trên là một mảng gần như rất riêng của Hà Cừ. Đó là những thủ thỉ tâm tình, bâng khuâng mơ mộng hay cô đơn hoài niệm trong các bài như: “Một đóa đào phai”, “Tự ru”, “Mắt lá”, “Với mùa xuân”, “Hình như”… Thơ phảng phất chút cũ càng… nhưng bù lại là một sự chân thành đôi khi đến xót xa:

Ta là người cũ năm qua
Bước sang năm mới lại là cũ thêm

                   …

Nỗi buồn như thoáng phù vân
Một cơn gió dạt tận chân trời già

(Với mùa xuân)

hay:

Lặng nhìn một đóa đào phai
Nghe lòng dờn dợn giêng hai đã gần

                   …

Chừng như mây nước nhập nhòa
Chừng đôi cánh nhạn cũng sa nửa vời

Hà Cừ sinh ra và lớn lên ở Tứ Kỳ, Hải Dương, vùng đất nằm giữa đồng bằng sông Hồng. Nho nhã, mảnh mai, khiêm nhường nhân hậu… là những điều rất dễ nhận ra về con người và tính cách anh. Thơ anh cũng vậy, lãng mạn chân phương và mượt mà tinh tế. Ít có những phá cách. Một “cơn lốc” “xé nát lòng người” trong “Bản Giốc” vẫn là cơn lốc hiền lành trong khuôn khổ quen thuộc của thơ năm chữ. Một chữ như chữ “vạm vỡ” trong câu “vạm vỡ dưới ánh trời” (Những lá cờ trước trụ sở LHQ) là hiếm gặp, nhưng những “ngập ngừng”, “hình như”, những “la đà’, “mong manh”, “lãng đãng” v.v… thì khá nhiều. Chúng đã làm nên cái duyên, cái tạng riêng, làm nên nhân ảnh và “vận tốc” thơ Hà Cừ. Viết tới đây, tôi chợ nhớ tới câu Kiều của Nguyễn Du “Dùng dằng nửa ở nửa về/ Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần” với nhiều từ lấp láy, hay câu “Tình trong như đã mặt ngoài còn e”. Cái trạng thái vi điệu ấy của con người trước tình yêu và trong cuộc sống hình như đang mất dần, nhưng nhà thơ, bạn tôi đã lưu giữ được. Điều ấy thật đáng quý.

“Sông xuân” là bài thơ Hà Cừ lấy cảm hứng sáng tác từ bức tranh “Mùa xuân con nước” của họa sĩ phong cảnh nổi tiếng Lê-vi-tan. Một con sông “Nước trong veo/ In tận đáy trời/ Một đáy trời tinh khôi”. Và nhà thơ liên hệ: “Trước của nhà tôi/ Có dòng sông mùa xuân/ Cũng trong veo con nước/ Sau bao thác gềnh, bão lũ đi qua”…

Bài thơ ngổn ngang những tâm sự và ký thác của một tâm hồn, một nhân cách. Cái dòng sông “trong như nỗi khát khao, trong như niềm mơ ước” ấy không những đã làm nhà thơ chạnh lòng mà tôi nghĩ nhiều bạn đọc hôm nay cũng phải chạnh lòng và tự hỏi:

Ơi sông xuân
Làm sao có được
Sông người trong trẻo tựa sông xuân?

Liệu niềm khao khát trong trẻo ấy có còn hay cũng đang mất dần trong xã hội chúng ta? Và câu hỏi trên liệu có được trả lời? Tôi nghĩ, thơ Hà Cừ lớn ở những tri kỷ ấy.

Nhưng, giữa một thời buổi đầy cạnh tranh khốc liệt, thực dụng tối đa, thời buổi “mì ăn liền” còn thơ ca thì quá nhiều những cách tân mô-đéc hình thể… như hôm nay, tiếng thơ Hà Cừ liệu có lẻ loi? Tôi nghĩ không hẳn thế. “Mây bay từ thuở chưa chồng” (Mây). Mọi cái thời thượng rồi sẽ qua đi. Sống nhanh mãi, ắt sẽ có lúc người ta thích sống chậm. Xã hội càng phát triển, “gu” thưởng thức càng đa dạng. Thơ không phải chỉ Hay, chỉ Cảm bạn đọc ở cấu trúc hay hình ảnh câu chữ, ở cách tân hay cổ điển. Cái quan trọng nhất, cái bất biến là cảm xúc, là những gắn bó máu thịt của nhà thơ với con người và cuộc sống xung quanh. Một cảm xúc chân thành giản dị, có tư tưởng và hết mình –  như cô gái nết na với vẻ đẹp nội tâm sâu sắc – sẽ tạo  nên sức hấp dẫn lớn lao khiến người con trai không còn câu nệ vào những trang sức mà cô gái mang theo. Thơ Hà Cừ đã và vẫn đang đi từ tình cảm đến những suy tư chiêm nghiệm, từ nhỏ đến bao quát, từ nghề đến nghề một cách bền bỉ. Nếu chỉ đọc “Bông cúc trắng ngày xưa/ Lại ngời trong ký ức (Lá thu bay) tôi lo anh “quen tay” nhưng khi đọc “Không phải sợ chiều cao tháp đôi/ Mà sợ chính con người (Tháp đôi) lại thấy anh có những phát hiện mới mẻ và tạo được bất ngờ, thấy anh đang quyết liệt. Điều đó khiến người đọc có quyền tin tưởng và hy vọng. Chúc mừng anh thêm một thành tựu mới trên con đường thi ca gian khổ.

——————

(*) Bài đăng trên tạp chí Nhà văn, số đặc biệt, tháng 6-2013

(*) Ý trong bài viết của nhà thơ Vũ Quần Phương về tập “Thăm thẳm cõi người”

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s