BỐ VỢ TÔI


PHƯƠNG HÀ

boconBố vợ tôi sinh năm Giáp tý (1924) đến nay tính theo tuổi ta đã tròn chín mươi, ngoài trừ tai điếc nặng còn lại trí óc sức khỏe vẫn có chất lượng cao. Ông hiền lành ít nói vì cả chục năm nay ai nói chuyện với ông phải nói to, nói đi, nói lại vài lần ông mới nghe ra. Ông chú út em cùng cha khác mẹ với ông tổng kết một câu khá súc tích “Nói chuyện với ông Vinh ba mươi phút nhọc như một buổi cày” Nhưng chỉ có hai điều mà có người trong nhà mới hiểu ông thường xuyên áp cái đài nhỏ vào tai nghe radio và đọc sách báo, với ông nghe và đọc không bao giờ ngơi nghỉ.

Cuộc đời của ông nếu so sánh những người cùng trang lứa thì cũng không đến nỗi khổ thân nhưng nỗi khổ tâm luôn dằn vặt mấy chục năm trường có đến bốn đời ông, cha, con cháu mà ông chứng kiến.

Sinh ra ở làng Lễ Nghĩa xã Phượng Nghi, tổng Thuần Trung, Phủ Anh Sơn , Sau cách mạng tháng 8/1945 tên làng Lễ Nghĩa đổi tên là xã Duy Tân, huyện Anh Sơn sau khi chia hai huyện Anh Sơn và Đô Lương xã Duy Tân, Lễ Nghĩa thuộc Minh Sơn huyện Đô Lương,Tỉnh Nghệ An, Đây một vùng thuần nông. Cha, bác ông là địa chủ Đào Văn Oanh, Đào Văn Chắt giàu sang có tiếng trong vùng. Dòng họ nội ngoại khi nhắc đến nhiều người biết danh như một trong “từ quái” danh họa Nguyễn Tư Nghiêm là anh em con dì, con già, Thượng nghị sỹ trong chế độ Sài Gòn trước giải phóng đã từng tranh cử tổng thổng Việt nam cộng hòa Đăng Văn Sung là anh em con cô, cậu, Nhà chí sỹ nổi tiếng Trần Đông Phong là cậu ruôt ông người đã từng cùng cụ Phan Bội Châu du học và tuẫn tiết trên đất Nhât đến này hồn phách còn linh hiển phù hộ độ trì cho những người Việt sinh sống ở đất Phù Tang, và khoắc khoải một nỗi lòng chưa tan làm sao hài cốt được trở về quê cha đất mẹ v.v.

Người dân ở đây nhắc đến nhà họ Đào ở vùng này luôn nhớ đến câu ca: “ Thiếu củi thì đỡ hàng rào/Thiếu gạo thì đến họ Đào Minh Sơn” Năm cách mang xô viết Nghệ Tĩnh 1930 bố ông ủng hộ cho chính quyền công nông 500 tạ lúa , nghèo như quê Nghệ mà góp như rứa đúng là quá trời. Mãi đến sau này nhờ qua quen biết Em trai ông Là Đào Văn Tiến mới xin được hồ sơ của Cha ông do mật thám Pháp để lại do bộ công an quản lý, Thì ra cha ông là Đảng viên Đảng công sản từ thời xô viết Nghệ Tĩnh Thế mà chính cha ông lại bị quy địa chủ bị đi tù sau cải thời giảm tô 1949-1953 rồi chết trong nhà tù quân ta. Khi hoạt động thì đi tù thực dân, khi cách mạng thành công thì bị quy địa chủ cường hào bị tù đày đến chết(1952).

Thời trai trẻ ông được cha mẹ cho đi học trườngVinh dang học dở bậc thành chung do ham mê cờ bài cha ông bắt về đi cày ruộng một năm. Thời gian sau có tiến bộ bố ông lại cho đi học tiếp, ông từng học và đá bóng với danh thủ Bùi Nghẽn sau di cư vào Sài Gòn năm 1990 khi vào thăm con gái con rể ông đưa ông xuống biển Vùng Tàu tắm biển tình cờ ông gặp lại bạn cũ là danh thủ tuyển thủ Miền trung Bùi Ngẽn hai người gặp gỡ hàn huyện sau hơn 40 năm xa cách. Ông cưới vợ vào cuối năm 1945 lấy bà Thái Thị Thiệu con trưởng cụ Thái Doãn Tiên một thầy thuốc có tiếng trong vùng con trai út của cụ là nhà nghiên cứu văn họ Thái Doãn Hiểu, người xã Quan Nội nay là xã Thịnh Sơn Đô Lương cách làng ông chừng dăm cây số. Bà hạ sinh cho ông bốn người con hai trai hai gái đặt tên con là Quang, Minh, Chính, Đại vợ tôi là con gái kế út.

Ông thông thạo tiếng Pháp và học toán giỏi, biết chơi nhiều môn thể thao: bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn. Năm 1945 ông được người ta vận động tham gia Việt minh. làm thủ lĩnh thanh niên xã chỉ huy cướp chính quyền và được cử làm chủ tịch ủy ban cách mạng lâm thời làng. đến năm 1946 ông gia nhập quân đội, học một lớp ngắn hạn về tình báo điệp vụ rồi ra Việt Bắc. Năm 1949 sang học trường lục quân Trần Quốc Tuấn ở Côn Minh, Trung Quốc nhờ giỏi tiếng Trung giao dịch tốt với dân bản địa nên tổ chức chọn ở lại làm cán bộ khung phụ trách hậu cần dưới trướng của các tướng quân Lê Thiết Hùng, Trần Tử Bình, Lê Trọng Tấn…

Cũng nhờ là người có ngoại ngữ tốt mà ông không phải tham gia Điện Biên Phủ như các anh em đồng đội khác. Nhà ông bốn anh em ruột tham gia quân đội anh trai tên Đào Văn Huỳnh( còn gọi là Hường) hy sinh ở mặt trận Thừa Thiên. Chú em kế ông Đào Văn Hinh ( còn gọi ông Huy) bộ đội bệnh binh về làng rồi phát bệnh qua đời. Chú em sau Đào Văn Tiến nguyên là trưởng ban quân lực mặt trận Miền Tây năm 1958 được phong quân hàm thượng uý trong lúc ông chỉ được phong trung uý.

Ông Đào Văn Tiến là vụ phó ban công tác Miền Tây một chuyên gia xuất sắc về Lào Thái, thông thạo tiếng Thái, tiếng Lào. Người được ông giúp đỡ dẫn đắt có người nổi tiếng như phó thủ tướng Xôm Xà Vạt kiêm bộ trưởng ngoại giao nước cộng hòa dân chủ Lào bây giờ. Ông thuộc lòng văn hóa Lào, lịch sử Lào, văn thơ Lào như người bản địa, ông lăn lộn hàng chục năm ở Lào vào sống ra chết cùng bạn Lào . Đặc biệt ở ông có một nhãn quan chính tri lịch sử khách quan “Ông luôn cho rằng Không phải là ta giúp bạn mà chính ta làm cho ta, bạn giúp ta” Là tác giả của tập truyện đoạt giải văn học về Lào “Những Câu chuyện ở rừng Lào” văn ông chân thật hồn hậu súc ích có sức truyền cảm sâu sắc. Ông còn là tác giả của những bài nghiên cứu về dân tộc học được in và dịch ra nhiều thứ tiếng Anh, Pháp.

Sau 1956 từ Trung Quốc trở về Việt Nam khi đất nước hoà bình đợt giảm binh bị đầu tiên 1958 Hai anh em ông đều được cấp trên yêu cầu chuyển ngành. Nhà ông ở quê bị quy là địa chủ cường hào bị vu khống là cho con vào bộ đội để phá hoại cách mạng, con cháu gia đình nội ngoại ly tán.

Giữa cái khổ và sướng thời cải cách ruộng đất không có gì khổ hơn là “con cháu địa chủ cường hào, không có gì sướng bằng là con cháu bần cố nông cốt cán”. Cải cách ruộng đất nhà ông “tan đàn xé nghé” cha chú ông bị đấu tố tơi tả mặc dù trước cha ông bị đế quốc Pháp bắt bỏ tù 3 năm, đày đi Bình Thuận với tội danh tham gia cộng sản, tham gia cách mạng, ủng hộ kháng chiến bằng người, bằng của hết lòng. Hai ông anh trai con bác ruột và anh trai ruột ông đều bị cách mạng xử bắn. Ác thay một người bị chôn nằm sấp úp mặt xuống đất, một anh bị chôn nằm nghiêng, không cho nằm ngửa để được yên nghỉ, người ta nói rằng người bị chôn sấp sẽ bị tuyệt tự, người bị chôn nằm nghiênh đời con không bị nặng nhưng đời cháu thế nào cũng bị nhiều chuyện oái ăm như ma ám, Điều đó có thật người anh bi bắn chôn sấp có hai người con trai sau khi cha bị bắn không lâu cũng tự nhiên không có bệnh gì mà lăn ra chết bệnh chỉ còn bốn cô con gái còn cháu của người bị chôn nằm nghiênh, có đứa tốt nghiệp đại học bách khoa giỏi giang hiền như cục đất bỗng dưng trở chứng lừa đảo, cá độ không ai hiểu nổi. Đến cả cháu ngoại cũng có nhà con đang học đại học trộm cắp mà ở tù sau đó còn phạm tội giết người bị tù đến hai mươi năm vv.
Cha ông Đào Văn Nhương ( còn gọi theo tên con là ông Oanh) đi tù và chết trong tù không thấy mặt vợ con.

Đó là tôi nghe kể lại chứ ngày đó tôi cũng chưa sinh làm sao để hiểu biết về giai đoạn này.

Năm 1960. Người ta, tức tổ chức cho ông được quyền lựa chọn Bộ Ngoai giao hay bộ nào cũng được vì ông thông thạo tiếng Pháp, tiếng Trung nhưng rốt cuộc ông chọn Bộ kiến trúc. Thời đó Kiến trúc bao hàm cả xây dựng vì chuyển sang nghành kiến trúc ông có thể về Nghệ An quê hương ông hi vọng giúp được con cháu đang tan đàn xẻ nghé. Hơn nữa vợ ông không chịu ở Hà Nội bà nói tao “nhớ cái võng chõng bằng tre không có nó ngủ không được” Ông được bổ nhiệm làm trưởng phòng hành chính công ty xây dựng số 6 thuộc bộ kiến trúc, Thời gian sau ông được bổ nhiệm làm hiệu trưởng trường dạy nghề Bộ xây dưng ở Vinh (1973-1979) nhờ vậy khá nhiều con cháu của ông và bạn bè đồng đội cũng được nhờ

Năm ông 55 tuổi thì ông lại gặp hạn buộc phải về hưu non vì có một thời gian khá dài ở Trung Quốc mà lúc này lại xẩy ra chiến tranh biên giới Trung Quốc xâm lược Việt Nam.Đặng Tiểu Bình nói dạy cho Việt Nam một bài học. Đúng là “phúc” đấy rồi “hoạ” cũng từ đấy không biết đường nào mà lường.

Được cấp đất làm nhà nhưng ông không chịu ở thành phố Vinh mà về vùng quê thứ hai nơi trốn chạy sau hoạ cải cách năm 1963 lên vùng Nghĩa Dũng, Huyện Tân Kì, miền tây Nghệ An phía trên Truông Dong cách cột môc số O đường Trường Sơn (có tên là đường mòn Hồ Chí Minh) 3-4 km, bên cạnh quốc lộ 15B. Cùng với vợ. Một cuộc đời mới lại bắt đầu cày, cuốc trồng cây lâu năm và ôn luyện chữ Hán, tiếng Trung, tiếng Pháp và tự học tiếng Anh. Năm ông 71 tuổi Đài tiếng nói Bắc Kinh gửi quà lưu niệm và phần thưởng cho bạn Đào Văn Vinh người Việt Nam vì đoạt giải nhất Trung Văn hải ngoại

Ông ôn luyện Tử vi đẩu số, sách lịch xem ngày tốt xấu nhưng chỉ xem cho con cháu trong nhà. Là cán bộ tiền khởi nghĩa trước cách mạng tháng 8/1945 khoảng năm 1995 Truyền hình Việt Nam có làm một phóng sự về ông gọi ông là “trí thức giữa rừng xanh” về một người cao tuổi nhưng ham học và luôn mong muốn con cháu noi theo. Ông có nhiều thơ phú tự trào viết về mình, hoạ về mình ý vị sâu sắc:

Xã hội cứ tiến theo quy luật
Ông Đào Vinh nay đã tám mươi
Khi sinh viên, khi hiệu trưởng, khi chỉ huy
Gồm thao lược cũng gọi là nam tử

Khi cơ quan khi quân ngũ
Lúc thiếu thời làm thủ lĩnh thanh niên
Về hưu vui thú điền viên
Bò nái,vườn cây theo nếp cũ

Của quý vật ngon tuy chẳng đủ
Chè xanh rượu thuốc vẫn hàng ngày
Cũng có khi vui anh em điếu thuốc ván bài
Cùng bè bạn vịnh thơ bình phú

Nay tuổi hạc Xuân thu, Mạnh tử
Học hán văn nghe thời sự qua đài
Nêu tấm gương hiếu học với đời
Để cháu con noi theo mà bắt chước

Mong xã hội ngày càng phát đạt
Cho tuổi già được hạnh phúc an khang
Sống yên bình trung thực ấy là hơn .

Tôi cũng mừng khi bố vợ tôi điếc nặng không phải nghe nhiều chuyện nhiễu nhương ở đời .Có lẽ nhờ vậy mà cụ vẫn khang cường minh mẫn. Khi tôi chỉnh sửa bài này Bố vơ tôi đã qua tuổi 90 bước sang 91, cụ vẫn đọc sách làm thơ chữ nghĩa vẫn cứng cáp phong lưu rành mạch

2008-2013

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s