CUỘC SỐNG KHÔNG YÊN BÌNH TRONG NGƯỜI ĐÀN BÀ NGHỊCH CÁT


Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo tặng hoa chúc mừng tác giả.

Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo tặng hoa chúc mừng tác giả.

NTT: Nhà văn Nguyễn Đăng An vừa đoạt giải 3 cuộc thi truyện ngắn của báo Văn Nghệ hội Nhà Văn Việt Nam. Ông đã xuất bản 4 cuốn sách,  “Người đàn bà nghịch cát” là tập truyện ngắn mới nhất của ông. Chiều 30/8, tại trụ sở NXB Hội Nhà văn Việt Nam (65 Nguyễn Du, Hà Nội), nxb và công ty Hà Thế đã tổ chức buổi ra mắt tập sách với sự dẫn dắt của nhà phê bình văn học Văn Giá. Nhiều nhà văn, nhà phê bình đã phát biểu, đánh giá cao tác phẩm và ôn lại nhiều kỷ niệm sâu sắc với tác giả. Dưới đây là bài phát biểu của GS Nguyễn Bá Thành, một người bạn học thân thiết của Nguyễn Đăng An: 

CUỘC SỐNG KHÔNG YÊN BÌNH TRONG NGƯỜI ĐÀN BÀ NGHỊCH CÁT

NGUYỄN BÁ THÀNH

Cách đây hơn một năm, Nguyễn Đăng An trao cho tôi một tập bản thảo thơ khá dày dặn, với tựa đề: Biển hát lời của biển. Anh cho biết, định tái bản có bổ sung tập thơ này. Anh bảo tôi viết lời nhận xét, mặc dù trong bản cũ đã có hai bài khá sâu sắc của hai nhà phê bình quen thuộc: Nguyễn Đăng Điệp và Bùi Việt Thắng. Tôi đọc kỹ tập thơ mới được bổ sung và thấy toát lên một cảm hứng chung là một cuộc sống trong lành, bình yên, thậm chí là hạnh phúc một cách nên thơ. Tôi đặt tên cho bài viết ấy là Thơ An nói lời bình an.

Bẵng đi một thời gian khoảng vài tháng sau, Nguyễn Đăng An lại đưa cho tôi một tập bản thảo khoảng hai chục truyện ngắn. Anh nói với tôi: “khoan tái bản thơ, in truyện trước”. (Sau này khi xuất bản, anh chỉ chọn có 12 truyện). Tôi vô cùng phấn khích, không hiểu anh đã sáng tác từ bao giờ mà được một khối lượng truyện dày dặn như thế. Ngoài truyện Người đàn bà nghịch cát mà tôi đã được đọc từ hơn hai mươi năm trước, anh còn bổ sung thêm rất nhiều truyện khác. Tôi đã đọc và nói thực là đã rất xúc động. Xúc động trước hết là do những câu chuyện mà anh kể, những tình huống cuộc đời mà anh đã chứng kiến hoặc anh đã tạo ra. Cái nguyên nhân thứ hai gây cảm xúc cho tôi là bạn mình thực ra có một tiềm năng văn chương. Thế mà trên bốn chục năm, mình cứ nghĩ là mình đã hiểu hết bạn. Nguyễn Đăng An còn có một thực lực sáng tạo văn chương mà đến tuổi lục tuần mới bộc lộ ra mạnh mẽ, và cái quy mô của tiềm lực này tôi đã không hình dung hết.

Quả thực là tôi đã ngạc nhiên về những thành công, về kết quả khá bất ngờ mà Nguyễn Đăng An đã đạt được qua tập truyện ngắn. Những truyện mới trong tập này phần nhiều là được viết vào mấy năm gần đây. Nghĩa là có khoảng hai chục năm anh không tập trung cho việc viết truyện ngắn. Anh vẫn viết nhưng là những bài ký sự, báo chí là chủ yếu. Sở dĩ tôi nói thế là vì, để cho một câu chuyện trên báo chí trở thành một truyện ngắn nghệ thuật, anh sẽ phải mất rất nhiều thời giờ để nhào nặn lại. Chưa nói là về ngôn từ, về biểu tượng nghệ thuật, về nhân vật và các tình tiết. Đặc biệt, yêu cầu của truyện là nhân vật phải có cá tính, có đường nét. Những truyện anh viết trước đây (trên hai chục năm), giờ đây đọc lại, tôi thấy như mới, bởi anh đã sửa chữa rất nhiều. Đúng như nhà văn Sương Nguyệt Minh đã nhận xét trong lời nói đầu, Nguyễn Đăng An đã “từ giã lối kể chuyện thô giản thật thà trước đây để tiến tới cách viết nội dung truyện, mà thấy rất rõ ở thông điệp tư tưởng, ở biệt tài dựng truyện, ở chi tiết đặc sắc, ở ngôn từ giàu hình ảnh được tắm mình trong dòng sông cảm xúc chân thành, nồng nàn trữ tình mà xót đau” (Người đàn bà …tr.6). Hay như lời nhà phê bình Bùi Việt Thắng đã nhận xét rất đúng ở Lời bạt: “Nguyễn Đăng An và cuộc bứt phá truyện ngắn không ngưng nghỉ”: “Trong tập truyện thứ hai này, Nguyễn Đăng An đã có cuộc bứt phá mang tính chuyên nghiệp diễn ra ở cả trên hai bình diện với tất cả sự tận tâm tận lực của tác giả – vươn tới những tư tưởng nhân văn cao cả và chiếm lĩnh những tìm tòi nghệ thuật đối với một thể loại khó viết bậc nhất…”  (Người đàn bà …tr. 190)

Có thể coi Người đàn bà nghịch cát là một tập truyện ngắn khá, có nhiều truyện hay. Cái hay trong truyện ngắn Nguyễn Đăng An là cái hay của những câu chuyện đời. Anh không chạy theo các trào lưu hình thức tân kỳ, những trò chơi văn chương mệnh danh là hậu hiện đại, giải cấu trúc, giải thiêng, v.v. Anh quan tâm nhiều nhất đến cái nội dung hiện thực của cuộc sống thường ngày. Anh vẫn kể chuyện như các nhà văn bình thường trước nay vẫn kể, theo cái cách truyền thống, nhưng không hề cũ. Chẳng hạn, bây giờ người ta hay nói đến cái kỳ ảo, cái tâm linh, thì anh có truyện Lời nguyền, truyện Lời thề chân lý, truyện Căn nhà triệu đô (đoạn kết). Nếu nói đến chuyện thế sự, đời tư thì có Ba chàng trai làng Nhãn, Mẹ xóm Đoài, Cú đấm muộn mằn…Nói đến “cốt truyện phân mảnh” thì ta có thể lấy Lời tự bạch của cô gái nhiễm HIV Như vậy, truyện ngắn của Nguyễn Đăng An về phương diện “nghệ thuật tự sự” cũng rất đa dạng, rất hiện đại. Truyện ngắn của Nguyễn Đăng An không chạy theo các mốt nghệ thuật, mà quan trọng hơn, là ở tính chân thực của bản thân những câu chuyện kể đã làm xúc động lòng người. Anh đặt nhân vật vào các tình huống rất ngặt nghèo, để cho nhân vật tự bộc lộ hết tính cách của mình. Cái ngặt nghèo, cái kịch tính, thậm chí là cái bi kịch trong quan hệ giữa người với người, giữa cha con, vợ chồng, anh em, bè bạn …chính là điều mà hầu hết truyện ngắn của Nguyễn Đăng An đặt ra. Và kết luận của người đọc là, trông bề ngoài, mỗi người có vẻ rất bình thường, nhưng trong lòng họ, trong đời họ đang ẩn giấu những nỗi niềm, những điều đau khổ lớn, đang đối mặt với những thách thức của cuộc sống. Nhìn bề ngoài, người đàn bà đàn nghịch cát trên bãi biển với bàn tay trắng trẻo, thon dài, ai đoán được đó là một người phụ nữ bất hạnh (trong Người đàn bà nghịch cát). Nhìn bề ngoài, một bà mẹ già nông dân từ quê được con trai đón ra thành phố để phụng dưỡng, thật là hạnh phúc. Ai biết được, bà đang phải chịu cảnh “làm dâu ngược”, nghĩa là phải nem nép sợ con dâu, chỉ vì cái “lạc hậu, nhà quê” của mình (trong truyện Mẹ xóm Đoài). Nhìn chung, truyện ngắn của Nguyễn Đăng An đã đem đến cho ta nhiều thông điệp, báo động về sự tha hóa của con người, rằng các giá trị đạo đức đang bị băng hoại, mà tiêu điểm của nó là tình cảm của con cái với cha mẹ.

Nổi bật nhất về phương diện tạo tình huống và xử lý tình huống trong truyện ngắn của Nguyễn Đăng An là truyện Giọt nước mắt người lính. Anh kể một câu chuyện xảy ra từ thời chiến tranh, có một ông bố vì nghĩ đến việc bảo tồn nòi giống nên đã cấp bách cưới vợ cho con trai trước khi nó lên đường nhập ngũ. Thư, chàng trai trẻ đã ra đi mà chỉ để lại cho vợ một kỷ niệm buồn về đêm tân hôn vụng về và ngốc nghếch. Sau đó chàng đã hi sinh ở mặt trận và người vợ ở nhà thì vẫn còn trinh tiết. Ông bố độc thân ở nhà sống cùng cô con dâu. “Lửa gần rơm lâu ngày” đã bốc cháy. Trong một phút say rượu và mơ màng của ông bố mộng du, cô con dâu đã biến thành người mẹ chồng. Sau chín tháng mười ngày, một đứa bé trai đã ra đời. Và giọt máu của giòng họ đã được lưu giữ. Nhưng oái oăm thay, người con đã được báo tử, sau ba năm lại bỗng nhiên trở về. Khi biết tin bố mình, vợ mình đã như thế, Thư điên tiết, xách súng đi truy đuổi người cha đang chạy trốn. Nhưng nhờ có lời khuyên bạn bè và hàng xóm, Thư đã trấn tĩnh lại. Anh đã trở lại chiến trường xưa sống với những người bố mẹ nuôi đã cứu giúp anh. Bệnh tật và “những vết thương dày đặc trong người” đã hành hạ anh. Khi biết không thể nào qua khỏi, anh đã viết hai lá thư, như hai lời trăng trối. Một lá thư để xin lỗi và tha lỗi cho bố và một lá thư kèm theo đơn li hôn gửi người vợ cũ. Hai lá thư cảm động ấy thực sự là một giải pháp bất ngờ và rất lô-gich, lô gich cuộc đời và lô-gich nghệ thuật. Tài năng của Nguyễn Đăng An chính là ở cách xử sự trong những tình huống éo le như thế. Tác giả cho biết, đây là câu chuyện có thật đã xảy ra ở làng quê anh.

Truyện Người đàn bà ở bến đợi xe thành Rome đã được Giải truyện ngắn của Báo Văn nghệ năm 2013. Truyện ấy thể hiện một khả năng tổ chức, cách dẫn truyện rất nghệ thuât. Từ ngôn ngữ người kể chuyện đến ngôn ngữ nhân vật, từ tình tiêt đến cấu trúc chung, Nguyễn Đăng An cho ta thấy, anh là một tay viết truyện có nghề. Người đàn bà ở bến đợi xe thành Rome kể một câu chuyện rất cảm động về một người phụ nữ sau hai lần lấy chồng đã thành hai lần góa bụa, và kết quả của hai mối tình là hai đứa con tật nguyền, nửa người nửa ngợm. Và thật cắc cớ, hai người bố của hai đứa con tật nguyền ấy trước đây lại ở hai trận tuyến đối địch. Hôn nhân lần thứ ba, lần mà chị cố tránh đi, nhưng không được, chị đã gặp một tấm lòng cảm thương, một tình yêu cao thượng và cuối cùng chị đã chấp nhận để lại chờ mong và hy vọng một lần nữa. Và thử thách nữa lại đến với chị. Chị lại mang thai. Cái thai lần này như một ẩn số của bài toán hạnh phúc của hai người. Bài toán ấy chưa có lời giải, và có lẽ cái hay nằm ở ẩn số này. Anh không để cho chị sinh ra một hai đứa con xinh đẹp, khỏe mạnh. Kết thúc này đơn giản và dễ dãi. Anh cũng không để cho chị phải một lần nữa gặp cái bi kịch cũ. Cách này nhẫn tâm và nặng về tố cáo chất độc Dioxin. Anh để cho độc giả đoán định và tự mình kết luận. Truyện ngắn đã kết thúc nhưng chuyện đời thì vẫn đang tiếp diễn. Đó chính là đổi mới cách kết thúc có hậu của các loại truyện mà ta thường thấy trước đây.

Điều tôi ngạc nhiên là trong sáng tác thơ, Nguyễn Đăng An cảm hứng thiên về cái bình an, cái nên thơ, trữ tình và lãng mạn, còn trong truyện ngắn của anh lại thiên về cái bất ổn và nghiệt ngã của hiện thực phũ phàng. Hiện thực cuộc sống trong nhiều truyện ngắn của Nguyễn Đăng An mang dư vị hậu quả của chiến tranh. Hình như chất liệu đời sống thời chiến tranh vẫn rất dồi dào trong anh. Một người đã từng là phóng viên thông tấn trong nhiều năm, đi rất nhiều nước, gặp gỡ rất nhiều nhân vật nổi tiếng và các chính khách Tây, Tàu. Nhưng nhân vật trong truyện của anh vẫn chủ yếu là lấy từ hiện thực cuộc sống trong nước những năm chiến tranh. Nhân vật ông bộ đội đặc công về hưu trong Cú đấm muộn mằn. Nhân vật Người phụ nữ ở bến đợi xe thành Rome dù ở xa Tổ quốc hàng vạn dặm, và có thể nói đã chạy trốn khỏi hiện thực chiến tranh, nhưng không thoát được. Số phận bi kịch của người lính tên là Thư và gia đình anh sau chiến tranh trở về trong Giọt nước mắt người lính. Những người lính UNTAC trong Lời tự bạch của cô gái nhiễm HIV. Những người phụ nữ khát vọng được làm mẹ ở Nông trường Mộc Châu trong Khát vọng thời xa ngái, rồi các nhân vật trong Ba chàng trai làng Nhãn cũng có số phận gắn liền với cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc…Hậu quả chiến tranh được nhìn từ những góc độ mới. Chẳng hạn, chàng trai có tên là Thao (trong Ba chàng trai làng Nhãn) gặp lại người lính ngụy ngày xưa đã từng đọ lê giáp lá cà với anh trên chiến hào, và đã tha mạng cho nhau. Nhưng bây giờ, anh lính ngụy này sống trong một căn nhà xiêu vẹo, con cái thất học và vẫn bị kỳ thị vì quá khứ. Thậm chí tác giả còn để cho nhân vật Trí, người thành đạt nhất trong số các bạn bè thuở xưa, nghĩ đến một cái quỹ phúc lợi chung cho tất cả binh lính của cả hai bên, kể cả binh lính Việt Nam Cộng hòa cũ. Thiết tưởng đó là ý nghĩ rất nhân văn của một nhân vật, và cũng là ý nghĩ của nhiều người trong thời đại hội nhập nhưng ít ai phát biểu thẳng ra trong truyện như Nguyễn Đăng An.

Điều cuối cùng đáng nói ở đây là truyện ngắn của Nguyễn Đăng An thể hiện một cái vốn sống, vốn văn hóa khá rộng. Truyện kể của anh diễn ra trong không gian văn hóa của thành Rome, thành phố Phnôm-Pênh, thành phố Vinh, hay của một thị trấn nhỏ ở huyện Yên Thành quê anh…Có rất nhiều địa danh xác định ở trong đó. Chẳng hạn, truyện Lời thề chân lý được anh khai thác từ trong huyền thoại về triều đại Augustus của thành La-Mã trước Công nguyên. Đó là một loại truyện ngắn “giả cổ tích” mà ta đã bắt gặp khá nhiều trong các tác giả đương đại. Nhưng Nguyễn Đăng An có cách đặt vấn đề rất thú vị: danh dự người chiến binh La Mã ra trận và danh tiết của người vợ ở hậu phương. Và nhờ tài thuyết minh của mình, người vợ lính đã làm cho nhà vua phải suy nghĩ để thay đổi luật pháp. Có lẽ đây là truyện mà người đọc thấy nhẹ nhàng hơn cả so với các truyện khác của Nguyễn Đăng An. Yếu tố bi kịch được hóa giải trong lời văn nhẹ nhàng, uyển chuyển, pha màu sắc huyền thoại của một câu chuyện cổ. Còn lại, hầu hết các truyện khác của Nguyễn Đăng An bao giờ cũng đặt ra những vấn đề bức xúc, những tình huống éo le, thậm chí nóng bỏng, mang tính chất xung đột thế hệ, xung đột xã hội rất khó điều hòa. Chúng tôi gọi đó là những sự không bình yên trong cuộc sống mà nhà văn đã mô tả. Hay nói đúng hơn, nhân vật và cuộc sống trong truyện ngắn của Nguyễn Đăng An là nhân vật và cuộc sống của một thế giới không bình yên, không tĩnh lặng.

Tất nhiên, truyện ngắn của Nguyễn Đăng An không phải tất cả đều đã hoàn mỹ. Chúng ta có thể trao đổi với anh về nhiều phương diện. Về sự tinh tế của ngôn từ, về sự kín đáo của ý đồ tư tưởng, về sự gắn kết chặt chẽ của các tình tiết, … Những điều đó, chúng ta sẽ trao đổi trong một hội thảo khoa học rộng hơn. Còn hôm nay, chúng tôi chỉ làm cái động tác “trân trọng giới thiệu” các truyện ngắn của Nguyễn Đăng An trong tập Người đàn bà nghịch cát từ góc độ một người đọc quen biết. Các truyện trong đó đã làm chúng tôi xúc động, xúc động có thể do cái gu tiếp nhận của mình. Xin nhắc lại, cái gu tiếp nhận của chúng tôi vẫn là cái gu truyền thống, lấy nội dung câu chuyện làm đầu. Về phương diện này thì truyện của Nguyễn Đăng An đã hoàn toàn chinh phục tôi.

Hà Nội 26/8/2013

__________

  1. Nguyễn Đăng An, Người đàn bà nghịch cát, tập truyện ngắn, Nxb Hội nhà văn, H. 2013.
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s