NGUYỄN HOA – THẮP XANH NIỀM TÔI


(Đọc “Thắp xanh niềm tôi” – thơ Nguyễn Hoa, Nxb Hội Nhà văn, H, 2013)

BÙI VĂN KHA

“Mùa xuân: Tháng hai ngày mười bảy/ vào lúc rạng đông/ bao nhiêu người ngã xuống dòng sông/ máu chảy đỏ thành rạng đông gào thét/ máu chảy đỏ nóng rạng đông báo động!/ cho loài người trên trái đất xanh”. Bài thơ làm ở Cao Bằng năm 1979. Nguy hại thay, kẻ thù đánh chúng ta lúc ấy là “người bạn lớn Trung Quốc”.

NguyenHoaThapxanhniemtoi2

     Cái tốc độ biến chuyển đến chóng mặt của thời cuộc nhiều khi chỉ ba năm thôi mà bằng cả 10 năm. Khoảng ngắn ấy không những đủ cho việc đặt một trụ móng mà đôi khi là cả công trình.

     Những diễn biến gần đây của chính sự, thế thái nhân tình khiến bất kỳ ai, với tư cách công dân, chứ không chỉ nhà thơ, đều phải ít hay nhiều nhập cuộc. Hết rồi một tháp ngà “mũ ni che tai” trong một buổi chiều ở vườn xanh rợp bóng cây có con đường nhỏ. “bếp mùa đông gió thức với vườn cây/ với cổng ngõ chật vai tuổi trẻ/ một thuở bóng mình mát đất của mình đây”. Một thời gian khá dài ta tưởng yên trí “tướng về hưu” với “nỗi buồn chiến tranh” day dứt nhưng “cơ hội của chúa” đang chờ…thì lại chứng kiến “khẩu súng sống cuộc đời khẩu súng/ chúng con sống cuộc đời người lính/ đến đứng làm cột mốc ở biên cương” – (Nơi bắt đầu Tổ quốc).

     Trong Giai đoạn chuyển tiếp, người ta có thể dùng các bút pháp theo chủ nghĩa Hiện đại, Hậu Hiện đại, Hình thức, Tân Hình thức, Cấu trúc…để sáng tác bên cạnh bút pháp Cổ điển, Truyền thống. Cách tân là không ngừng. Nhưng đấy là khoảng 30 năm trở lại đây sau Giai đoạn Hậu đánh Mỹ 1975 – 1980 (tuy ngắn nhưng nó có vai trò của nó trước yêu cầu lịch sử: Cảm hứng bộc lộ mỹ cảm sử thi anh hùng ca của cuộc Chiến tranh giải phóng vĩ đại), là đến thời kỳ Chuyển tiếp, Mở cửa và Đổi Mới. Giai đoạn Chuyển tiếp kéo dài 10 năm (hết thập niên 80 thế kỷ XX). Sau đó thực sự là thời kỳ Mở cửa và Đổi Mới của văn học. Đây là lúc mà cái cá thể, cái đơn nhất liên hệ trực tiếp, trực tuyến với cái toàn thể, cái phổ biến không muốn thông qua khâu trung gian: Cái đặc thù, cái tập thể. Nhưng đặc thù và tập thể vẫn tồn tại, không thể không tồn tại. đấy là khách quan xã hội. thế là nảy sinh mâu thuẫn Heghen giữa cá nhân – tập thể – xã hội trong thời đại dân chủ và toàn cầu Internet. Những trí thức văn nghệ sĩ bắt đầu ít hoặc nhiều phân thân, phân phái, phân luồng trong một ranh giới mong manh của quá trình tự ý thức chính đề – phản đề – hợp đề. Chính đề hay phản đề đều quan trọng cho giai đoạn này. (tôi dùng từ này theo nghĩa triết học, tư tưởng).

     Nhưng có cảm tưởng sau Đại lễ 1000 năm Thăng Long (năm 2010), dân tộc và đất nước có một yêu cầu chính đề mới (vẫn trong Thời kỳ Đổi Mới). Sự quyết sinh, sự toàn vẹn, sự nâng tầm của độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ. Nội dung thời đại là dân chủ – toàn cầu – hợp tác – phát triển bền vững… theo tinh thần Hiến chương Liên hiệp quốc. Đây là thời kỳ mà mỗi cá nhân, nhờ truyền thông Internet, khoa học công nghệ và chủ nghĩa nhân văn Văn hóa Mới đã tiến tới mức “trở thành tính triệt để” – (câu của C. Mac trong Phê phán cương lĩnh Gô ta).

     Trở lại chính đề theo nghĩa truyền thống, vì vậy rất quan trọng khi sinh diệt thách thức. Các văn nghệ sĩ, trong đó có các nhà thơ, tuy cách thức nhận thức và biểu hiện có khác nhau, nhưng nhiều người trong số họ đã có quan niệm giải quyết vấn đề này của một sự kết hợp tình cảm và lý trí. Và Nguyễn Hoa là một trong những nhà thơ đi theo chính đề rõ nhất.

     “Mùa xuân: Tháng hai ngày mười bảy/ vào lúc rạng đông/ bao nhiêu người ngã xuống dòng sông/ máu chảy đỏ thành rạng đông gào thét/ máu chảy đỏ nóng rạng đông báo động!/ cho loài người trên trái đất xanh”. Bài thơ làm ở Cao Bằng năm 1979. Nguy hại thay, kẻ thù đánh chúng ta lúc ấy là “người bạn lớn Trung Quốc”. Năm 1978, khi còn ở Quân chủng phòng không – không quân, tôi biết có lúc Lãnh đạo cao nhất của Đảng ta bấy giờ có tháng sang đó tới 2 lần nhằm giải thoát tình hình. Nhưng Chủ nghĩa Bành trướng nước lớn vẫn “Họ biết cài ngôi sao trên trán/ đã bắn vào các ngôi sao/ đã bắn – đã bắn – bắn/ vào dân thường chưa ngủ dậy lúc rạng đông/ trên đất của mình cách xa biên giới” – (Với những người ngã xuống mùa xuân: Tháng hai ngày 17). Bút pháp tượng trưng (không phải chủ nghĩa tượng trưng), nhưng tinh thần cảm xúc là căm thù chiến đấu. Bởi cảm xúc đó có từ “Tiếng quen”: “Tiếng bò gọi bạn xoáy vào tim” – tặng Văn Lê tác giả “Tiếng gọi bò” thời chống Mỹ. (Nhưng không chỉ có Nguyễn Hoa, các nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Khoa Điềm, hoặc Nguyễn Thanh Mừng, Nguyễn Linh Khiếu đoạt giải thưởng năm 2009 Tạp chí văn nghệ Quân đội, rồi Nguyễn Việt Chiến với Tổ quốc nhìn từ biển; gần đây là Bằng Việt với Quốc gia biển đã rất ý thức trở về đề tài chính sự này. Nhưng ở Nguyễn Hoa là cả 2 tập thơ: Máy bay đang bay và những bài thơ khác và tập Thắp xanh niềm tôi này.).

     Nguyễn Hoa có một so sánh ấn tượng: “Nơi đây/ Ông, cha, đồng đội/ Bao người/ Đã nằm xuống?…/Cho tôi đứng/Cao bằng trời” – (Đất biên giới). Không phải EU, China, America bằng nọ cấp kia là đủ cao đâu. Cái cao thật sự phải được tích tụ từ ngàn đời ông cha đồng đội trên đất mẹ thấm đẫm mồ hôi xương máu của cuộc tranh đấu sinh tồn. Thơ ngắn Nguyễn Hoa có sức gợi vì nhiều tầng nghĩa sinh ra từ gốc rễ luận lý. Tôi xin trích mấy bài thơ thể loại này: “Giếng trong/ thấy đáy/ lòng trong” – (Giếng trong); “Dãi yến/ Tổ quý./ Dãi người!” – (Dãi yến); “Hoa trong vườn ngủ hết/ còn thức hoa bóng đèn/ sương gió lùa điệp điệp/ vẫn đốt lòng mình lên” – (Hoa bóng đèn); “Rồi ngày mai/ ai sẽ đứng vào/ chỗ của anh/ Không ai đứng vào chỗ/ không phải của mình!” – (Chỗ của anh); “Âm ẩm rêu/ mát hồn trời/ tươi thịt đất” – (Tươi thịt đất); “Thu trời tự trong/ Hanh vàng không đáy/ Tôi thèm tự trong/ Đục ngầu bến đời…/Thu trời tự trong! ” – (Thu trời tự trong), (nhân tiện chữ “trong” được Nguyễn Hoa dùng biến ảo nhưng hợp văn cảnh như là một phép tu thân Yoga).

     Và đây: “Đỏ ròng lửa nóng/tươi màu ráng trời/ gạo hoa nở mọng/ Thắp xanh niềm tôi” – (Thắp xanh niềm tôi). 4 câu, 16 chữ, không thay được một chữ nào, là bản tuyên ngôn cho thơ theo hướng chính sự – chính luận  hợp lẽ phải của giai đoạn này, tính từ năm 2011 trở đi – cái gì cũng tinh khiết, nguyên bản mà “thi trung hữu họa”, ý ở ngoài lời. Đây là một trong những bài thơ ngắn cô đúc nhất, đẹp nhất của Nguyễn Hoa.

     Có một bài “Sao em bé không được làm mẹ nữa” kể chuyện em bé Khâm Thiên năm 1972 khi ngủ ôm con búp bê vàng trong tay “Bỗng nhòa đi trong ánh chớp nhoáng nhoàng/ Bom rải thảm giữa lòng nôi bé còn đang ngủ/ Những em bé bế búp bê mơ làm “cô giáo mẹ”/ thành than đen với con búp bê vàng…”. Bằng thủ pháp tâm linh – Liêu Trai, tác giả thấy em bé vẫn lang thang trong đêm Noen và câu hỏi lặp lại 3 lần: “Sao em bé không được làm mẹ nữa”. Dụng ý xoáy vào tim trong Tiếng quen được nhấn thêm ở đây.

     Khoảng 80 năm trước, Juliut Fuxich kêu lên “Hỡi loài người, hãy cảnh giác!” – và Thế chiến II với tên đồ tể Hitle đã xảy ra gây bao đâu thương tang tóc. “Lỗi lầm lớn nhất của nhân loại/ đã đẻ ra chiến tranh/ muốn sửa lỗi lầm ấy!/ chúng ta/ hãy bồng bế hòa bình”.

     Hãy bồng bế hòa bình. Chỉ có nâng niu chăm bẵm trân trọng thì nhân loại mới có được nó. Trong một đêm nghe “mọt ăn ruỗng trăng thơ”, Ý nghĩ rời: “mơ ngủ ẩm ướt/ hạt tình mẩy gieo/ mầm hy vọng mượt/ trái Hòa Bình treo…/Xuân rì rào reo/ giong khơi biển thắm!” – tôi chợt nhận ra “Câu kinh tụng niệm/ Giải thoát trần ai/ Câu thơ màu nhiệm/ Giải thoát đời tôi!” – (Kinh và thơ) để sâu sắc mà rằng: Cảm ơn thơ nhiều lắm!

7.2013

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s