TĨNH VẬT CỦA MẬT


Đoàn Văn Mật và Lữ Thị Mai

Đoàn Văn Mật và Lữ Thị Mai

(Về tập thơ BÓNG NGƯỜI TRƯỚC MẶT của Đoàn Văn Mật)

TRỊNH SƠN

1.

Nếu muốn đi tìm những hình thức lộng lẫy chấp choáng hoặc điên cuồng màu sắc theo kiểu hội họa động của Jackson Pollock, người đọc ắt sẽ thất vọng. Ở đây, không còn xác chữ. Chỉ thấy ngữ âm quấn quýt nhau, cuộn tròn mê say, hóa hòa xoáy tít. Như chiếc chong chóng càng quay nhanh càng mờ ảo đến nỗi ta tưởng đó là một vòng tròn vô sắc. Đạt tới vô ngôn, đã trải qua thâm u tịch huyền biết bao ngữ nghĩa:

Mình vừa đi vừa nghĩ

lúc này đây chúng ta rất nhẹ

những thiên thần đang mọc cánh bay lên

anh chợt nghĩ mình là ngọn nến

cháy long lanh trên từng bước chân người.

(Ngày cưới)

            Hoa vô ngôn, trước khi bung nụ xòe cánh viên mãn, cũng như bao nhiêu giống loài khác – trải qua ấu sinh hồn nhiên và trăn trở tuổi đời:

Lúc này chúng ta cầu gì?

ai hỏi trong đêm…

Muốn thoát khỏi bon chen

dòng người đẩy nhau vào ngõ chật

…cầu một con đường ý niệm

mọc dưới chân mình…

(Chợ Chùa)

            Sau tận cùng là tận cùng. Qua xơ xác là xác xơ. Mật mang nhiều nét hồn hậu lịch lãm đặc trưng trai Bắc. Vừa phải. Đón nhận. Ngõ chật chứ không phải ngõ cụt. Đám đông ảo tưởng mình là dòng sông. Phải chăng, đây là lối thoát cho tất cả chúng ta? Cùng gánh gồng và cùng chịu đựng trong niềm sẻ chia, kể cả những sẻ chia bắt buộc:

dưới chân ta đàn kiến tìm mồi

vội vã bỏ đi bởi quá nhiều tử ngữ

 

Muốn thắp lên ngọn lửa

giá lạnh đóng băng mọi ý nghĩ

quay trở về bản thể

khi không còn sự thấu hiểu nào từ kẻ khác

 

Chúng ta hiện sinh và cô độc

nhưng chúng ta luôn bị vây bọc

bởi những lớp lang hiện thực

với ngàn khoảng trống thăm thẳm đang ngự trị

 

Chúng ta – những kẻ thiên di

từ tháng năm qua tháng năm

từ vùng quê đến vùng quê

từ nỗi buồn này sang nỗi buồn kia…

chưa biết bao giờ dừng lại.

(Những khúc đoạn đêm – II)

            Vừa đi vừa nghĩ. Vừa trôi vừa nở và tỏa hương. Vừa chảy vừa khô. Vừa đau vừa hát. Những kẻ thiên di thường chẳng biết mình thiên di. Khi biết mình thiên di, thì cuộc vận chuyển ấm lạnh ấy chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Tôi chở cái tôi. Cái tôi chở tôi. Dấu gách nối đơn lẻ cũn cỡn giữa cõi này đến kiếp kia (dĩ nhiên, cả vật chất và tinh thần) trở thành gánh nặng. Như dòng sông oan nghiệt không thấy bờ cách chia và nối kết vĩnh viễn chàng Ngưu ả Chức. Đọc Mật, tôi có cảm giác mình đang ngồi trên phiến đá trắng của Hàn Mặc Tử khua chân con sóng tung bọt trắng ngời.

            Bọt nước vỗ tung ghềnh đá và những đám mây lang thang bất tuyệt bầu trời. Không phân biệt được. Mây cháy và nước cháy và tâm hồn ta tự nguyện hoặc không thể cưỡng lại sự thắp sáng cuồng nhiệt ấy, hạnh phúc bỗng là tài sản vốn có trong mỗi cuộc đời. Từ “Muốn thắp lên ngọn lửa” cho đến “cháy long lanh trên từng bước chân người” là vực thẳm tít mù. Một diễn giả tài năng và một triết gia đích thực – họ luôn thèm muốn vai trò của đối phương. Nên, Ngày cưới – không còn đơn thuần chỉ là mở đầu một cuộc hôn nhân, là cánh cửa hình thành tế bào xã hội – mà bản thân Ngày cưới đã dung túng đoàn lữ hành và rú những hồi còi rền rĩ hân hoan khắp con đường chưa bao giờ dừng lại.

2.

Vào lúc 7 giờ sáng

tôi đã đi qua một ngày

khi đưa tiễn một người về đất

nhưng không sao nhớ nổi

ngày hôm qua mình ở đâu

như ngày hôm qua biến mất.

(Những khúc đoạn đêm – III)

            Dù cố gắng đến mấy, tôi cũng chẳng thể nào đọc một mạch hết một trang của Dino Buzzati. Đôi khi chỉ gắng gượng được một đoạn. Đôi khi, cứ chăm chăm ánh mắt soi vào chữ mà không thấy chữ đâu cả. Dường như khi ấy, tâm hồn tôi là tấm gương hoặc hai mặt đều bịt kín chẳng thể phản chiếu một chút gì của Dino, hoặc hai mặt trong vắt thông suốt đến nỗi mọi hình ảnh thản nhiên trôi qua mà không để lại dấu vết gì.

            Nhiều ngày sau, những tưởng-không-để-lại-dấu-vết-gì ấy bất chợt buốt nhói và tan hoang ngay tức thì khi có một bàn tay sờ vào. Thuộc tính của nghệ thuật là đồng hành với con người? Ngay trong chính con người? Không thể nhận ra nên không thể chối từ, phủ nhận hoặc chỉ mặt đặt tên? Thế là tôi lại tìm đến Dino, lật bất cứ trang nào, tìm. Một độc giả muốn gì ở một tác phẩm nghệ thuật ngoài sự tìm kiếm? Khuôn mặt ấy dường như quen quen, cảnh vật kia dường như gần gũi. Hôm qua ta đã trải qua chỗ ấy. Lần trước ta đã buồn vui như vậy. Mà sao ta chẳng thể nào nhớ ra. Mà sao ta chẳng thể nào quên được.

            Thơ, là như thế!

            Hẳn, nhiều người sẽ cười khi nghe tôi gọi Dino Buzzati là thi sĩ. Ông có làm thơ nhưng để đời chủ yếu là các tiểu thuyết và truyện ngắn theo chủ nghĩa hiện sinh, hiện thực huyền ảo.

            Hẳn, nhiều người sẽ cười khi thấy tôi liên tưởng thơ Mật với văn chương Dino Buzzati. Ban đầu, tôi cũng cười chính mình. Nhưng, Dino nói với tôi, bằng những lời của Mật:

Chúng ta làm thơ đọc sách

chúng ta bước lên chùa

chúng ta đến nhà thờ

(rửa tội và cầu xin)

chúng ta là tín đồ

của mọi cái chết…

(Những khúc đoạn đêm – IV)

            Trang bao nhiêu? Rõ ràng, con người ta luôn luôn bị ức chế và tự kỷ vì lòng ham muốn đánh số từng ngày của mình. Bằng ngày ngày tháng tháng năm năm. Bằng thắng cảnh này địa danh nọ di tích kia. Bằng chiến công thất bại kỷ niệm. Đó chỉ là cách trình bày cuộc đời chứ không phải cuộc đời:

anh đang chảy đến nơi nào không biết

[sao đang chảy mà trong anh khô khát]

 

Mưa nơi không còn nước

hay vừa chảy vừa khô

lanh canh vọng từng khuôn mặt ướt

xuống buổi chiều hư vô

hư vô.

(Những cơn mưa làm đục buổi chiều)

            Với Mật, thời gian đã vượt qua giới hạn khiên cưỡng ngày có 24 giờ và giờ có 60 phút và vân vân có vân vân khái niệm đính kèm. Cái chết là nơi bắt nguồn mọi tưởng tượng. Tưởng tượng là nhà bảo tàng lưu giữ mọi sáng tạo trên đời. Khi Dino ám ảnh với những mô đất trỗi dậy đêm đêm cùng những trân chiến sinh tử của mọi giống loài trong khu vườn tưởng chừng yên tĩnh, thì Mật khuấy động thế giới như cách một nhà sư Tây Tạng xoay chuông tìm người:

Cố di chuyển để lấp đầy khoảng trống

anh là quân cờ hay quân cờ là anh

lúc chiến thắng cùng khi bại trận

loay hoay tìm chỗ đứng cho mình.

(Cờ đêm)

            Phải tìm. Nhưng, tìm được rồi thôi. Không cần thiết thấy mặt hoặc giữ lấy. Khoảng trống tạo ra âm thanh và chính khoảng trống giết chết âm thanh. Động thái “loay hoay” trong trường hợp này là đáng trọng. Còn kẻ nào tự cho mình một tâm thế định sẵn thì chẳng hiểu tâm thế là gì cả. Chẳng cần văn chương nghệ thuật làm gì cả. Chẳng cần bước qua điều gì cả. Mật cứ “loay hoay”:

Tiếng chim thả sau màn mưa

làm thức dậy cánh cung mục nát

Muốn đi qua mùa hạ

phải bắc cầu từ đâu?

(Không đề tháng 8)

            Thơ đi ra từ tâm hồn, và trở về tâm hồn. Cả hai cuộc ra đi và trở về đều không thể khuyết. Biến thiên vô lượng hải hà của hàm cuộc sống, ma trận trời ơi đất hỡi với ẩn số con người là chất liệu của người nghệ sĩ. Không theo cách anh từ tốn chọn màu, pha màu, căng toan và phối màu để tạo nên bức tranh – mà bão táp mưa sa màu sắc dội vào anh, biến anh thành cây cọ vẽ, biến anh thành ngọn đuốc soi đường, biến anh thành sáng tạo trở mình tượng hình và biến anh chìm vào quên lãng sau lưng tác phẩm nghệ thuật mới ra đời. Nếu huyền ảo của Dino bắt đầu từ sự trở về, thì Mật gạn đục khơi trong trên chính cuộc ra đi của mình: Điều gì thực nhất nghĩa là huyền ảo nhất.

Người đã sang một đời sống khác

người đã mang đi muôn vàn bí mật

người với người tựa như màu trắng

có thể lẫn vào nhau mà không sợ phai hòa.

(Lẫn trong từng cơn gió)

            Cái chết, với Mật, là một sự đi đến, sau khi đã “người yêu người sống để yêu nhau” (Bài ca xuân 61 – Tố Hữu). Buồn, không tràn lan mênh mông. Hy vọng, không lấp lóe như ma trơi. Mọi thứ đều xoáy sâu. Từ đỉnh đầu đến lòng bàn chân. Độc giả bắt gặp Mật để cho những câu thơ phải đeo tang:

Nếu đi ra ngoài lẽ vô thường

ta sẽ đậu vào tiếng chim vừa hót

(2012, tháng 5)

            Trước đây, tôi cũng từng muốn liên hệ một nhà thơ tiếng Việt với Dino Buzzati, là Nguyễn Hoa. Trường liên tưởng của ông thật đáng khâm phục. Nhưng có lẽ, Nguyễn Hoa chưa triệt để làm một cuộc ra đi. Ở ông, còn nhiều sự lấp lửng, phân vân, suy tư “trông trời trông đất trông mây”. Chỉ đến khi đọc Mật, tôi mới thực sự hân hoan nhận ra nghiệm số phương trình huyền ảo Dino Buzzati ở Việt Nam.

3.

            Sự trở về trong thơ Mật, nếu có, chỉ có thể là Tình yêu. Giọt mật ngọt ngào và giọt nước mắt long lanh đều có trên môi tình nhân. Có nhiều cách để cảm nhận hương vị của lẽ sống, giữa thế giới mê ly biến động chập chùng, giữa thế hệ đang ngắc ngoải thay đổi mọi thang giá trị xưa cũ. Mật già trước tuổi bằng những chiêm nghiệm tự do và không hề thoái thác:

Mai đếm những ngày xa nhau

trên mười đầu ngón tay

nhưng đếm mãi cũng không đủ

vẫn còn những ngày thừa ra

Mai yêu những bông hoa màu trắng

mọc hằng đêm trên mười ngón tay cầm

và cho đến những ngày thừa  ấy

chúng nở ra khoảng lặng vô cùng.

(Mai)

            Mặc cho người ta cứ “mau với chứ, vội vàng lên với chứ” (Xuân Diệu), Mật lặng lẽ để cho tình yêu đằm thắm ngấm vào sâu thẳm từng buổi sáng buổi chiều buổi đêm. Tình lên men hay người yêu lên men? Thừa ra ấy, có thể là niềm vui, có thể là nỗi buồn, có thể là kỷ niệm. Có thể là đôi chúng ta đã bước vào nhau và bỏ lại một khoảng trống, như cách dòng điện tử tạo ra dòng điện tử ngược chiều:

Chỉ còn cách một bước chân

là chúng ta đến được với nhau

Trong sự lặng im của đớn đau

chúng ta đi tìm một bước chân

chúng ta đi tìm lại chính mình

chúng ta đi…

(Những khúc đoạn đêm – V)

            Trong khi, người ta tìm cách thể hiện nỗi nhớ nhung, niềm hy vọng, khao khát tương lai, ước mộng hạnh phúc – và vẫn thường ảo tưởng những thể hiện (đôi khi đến mức cùng cực) ấy là tình yêu. Không. Tình yêu là Tình yêu, và không cần phiên dịch (Mưa rơi không cần phiên dịch – Trần Dần). Nếu có một so sánh hoặc cố gắng định nghĩa, thì đó là “khoảng lặng vô cùng” của bước chân, của chính mình sau lưng lẫn trước mặt Tình yêu.

Đêm vừa đi vừa mộng.

(Áo mới)

            Đi là thực, mộng là ảo? Nếu đúng vậy, thì “vừa đi vừa mộng” là trạng thái “ta đi bằng một sợi tơ” trong Mộng du? Tôi ngờ rằng, Mật đang làm điều ngược lại: Đi là thực mà mộng cũng là thực. Hoặc đi là ảo mà mộng cũng là ảo. Sắp đặt hai trạng thái tương xứng bên cạnh nhau để chúng tan vào nhau. Như một cuộc xâm chiếm hoàn toàn của cảm xúc:

Sau vòm lá in một dòng tên

càng xóa đi, càng xanh thêm

sau lưng anh rất nhiều giọng nói

nhưng không một bóng người

(2012, tháng 3)

            Trí tuệ không nằm ngoài khuôn khổ cảm xúc. Nhận thức là đặc tính đồng thời bảo thủ và cấp tiến nhất của tâm hồn. Trí tuệ phát giác nỗi cô đơn. Trí tuệ cần cầu hạnh phúc. Trí tuệ dung thứ buồn đau. Trí tuệ như dòng chảy miên man luôn đủ chỗ cho tất cả cảm giác neo đậu.

Mai lại đếm những ngày xa nhau

Mai lại nhìn cuộc đời chóng mặt

Đêm qua thu xanh về lối khác

trên cây lá cũng luân hồi.

(Đêm qua)

            Trong bức tranh nhao nhác tuổi trẻ, chân dung người yêu nứt ra (hay toát lên) từ trong những âu lo đời thường:

Trong giấc ngủ em vừa nằm mộng

gọi anh cất xe khóa cổng

tránh những cặp mắt qua đường

(Cờ đêm)

            Có đời nào không thường? Bất thường là một sự bình thường hiếm khi xảy ra. Hoặc, xảy ra mà không cần căn cớ. Thủy chung thả neo bằng chính sức nặng của mình:

Mai yêu những bông hoa màu trắng

mọc hằng đêm trên mười ngón tay cầm

và cho đến những ngày thừa  ấy

chúng nở ra khoảng lặng vô cùng.

(Mai)

            Tôi tưởng tượng “khuôn mặt người lo âu Thành Nam” đang thả chiêm bao và trống huơ trống hoác cuộc người cuồn cuộn. Ý thức được ngày thừa, thì ngày đã dâng trọn cho tình yêu và nỗi nhớ thương hòa nhã. Từ sau tuyệt tình khúc “Mười hai tháng Sáu” của thi sĩ mê cuồng Vũ Hoàng Chương, Mật vẽ thêm một cái tên vào Thi ca rất lạ. Và rất tình. Mai hiển thị một Nàng thơ không cần váy hoa sặc sỡ cùng phấn son gạ gẫm. Có lẽ nào chàng thi sĩ ngại ngần chẳng dám tận hiến cho hạnh phúc dậy hương ánh sáng:

anh chợt nghĩ mình là ngọn nến

cháy long lanh trên từng bước chân người.

(Ngày cưới)

4.

            Bóng người trước mặt

            Ngay cái đề tựa đã cho độc giả hình dung thoáng qua về tâm ý của nhà thơ. Một cuộc tượng trưng mạnh mẽ và khao khát, muốn bức phá khỏi con đường nhàn nhạt của Thi ca đang quá lứa lỡ thì trong thời buổi mà sức tưởng tượng cùng suy niệm bị đắm chìm không thương tiếc. Ở đây, Mật chứng thực một quan niệm không mới về thơ: Cách tân – trước hết, là đổi mới cách nghĩ. Cách tân triệt để là thoát hẳn mọi cách nghĩ, quan niệm đã hun đúc thứ gọi là kinh nghiệm làm thơ. Tạo cho mình một cách nghĩ riêng mình. Có thể chưa hoàn toàn riêng mình, ít nhất, cũng là một nhịp cầu bắc qua xứ sở khác:

Mơ lạc giữa bốn bề phố trọ

con đường đen như dòng sông

Cầu Giấy dật dờ bắc qua xác chữ

(Những khúc đoạn đêm – I)

            Các bài thơ, Mật dường như không chú ý lắm đến chữ, vần và thể. Tượng trưng gấp đôi tượng trưng hình thức. Bao hàm cả tượng trưng lãng mạn và tượng trưng hiện thực. Để đôi khi thoát ra khỏi địa hạt hình tượng mà bước hẳn vào địa hạt cảm giác:

Không ngủ cũng qua một đêm

phòng khách còn nguyên bóng tối

ngày dài chết lặng dưới chân

(Viết lại)

            Cảm giác cho mình và cho người tiếp cận văn bản. Tôi dám chắc, sẽ có nhiều đôi mắt rờ rỡ vui mừng vì nghĩ rằng mình đã phát hiện, đã soi rõ được “cái hồn” sau chữ trong Bóng người trước mặt. Cũng dễ hiểu, thơ Mật đầy những trải nghiệm triết lý. Người phục vụ cho triết lý. Cảnh phục vụ cho triết lý. Vật phục vụ cho triết lý… Nhưng, triết lý gì thì Mật không nói ra. Nó cứ mang mang âm vang và lộng, và vọng vào các đối tượng trong thi phẩm của mình. Đôi khi, chính Mật dợm chân, suýt bước vào bầu trời siêu thực:

Tôi cào cấu những lớp vẩy trong mình, dang hai tay vỗ cánh và cất lên tiếng hót. Mọi thứ bỗng nhiên biến mất…

(Những khúc đoạn đêm – IV)

            Đến đây, tôi chợt nhớ đến ý của nhà phê bình Hoài Thanh khuyên chúng ta khi đọc Kiều không nên dùng trí óc mà nên dùng “thần” để đọc. Thập kỷ này, có hai thi sĩ trẻ là Vũ Anh Vũ (Những di cảo tối) và Miên Di, tôi nghĩ rằng chúng ta cũng phải dùng đến cái “thần” để đọc. Trong khi ngôn ngữ thơ Miên Di nhuần nhuyễn đến độ tự nhiên, như người ta chỉ có thể cảm nhận được gió bằng sự rung động của tán lá (thủ pháp Thiền động hay còn gọi là Cân bằng động), thì Vũ Anh Vũ dữ dội và hiến thân hoàn toàn cho câu chữ, đến nỗi đọc thơ cứ ngỡ mình đang lạc bước trong thế giới hỗn mang trước ngày Chủ nhật. Và bây giờ là Mật. Trái với Vũ, Mật điềm nhiên hóa hòa vào một bức Tĩnh vật. Ba người họ, ba chân trời Thi ca khác nhau – nhưng ít nhiều đều đã chạm tới bức tường vô hình đang giam cầm Nàng thơ.

            Đọc Bóng người trước mặt, tôi hiểu thêm một điều rằng: Đôi cánh nâng một tâm hồn thơ bay lên bay lên, không phải là giai điệu, tiết tấu, hình ảnh, ngôn từ diễm ảo kiêu sa. Mà là tất cả những gì người thi sĩ ấy đã chứng nhận và dâng tặng cuộc đời.

Núi Dinh, tháng 7/2013

TS.

Advertisements

Một phản hồi

  1. Rời nhà mồ Ba Chúc, chúng tôi theo ông Bé ghé khu vực án ngữ “cây oan hồn”. Trên đường đi, ông Bé bỏ nhỏ rằng nhiều năm qua, vì tin cây có thần linh, có oan hồn khu trú nên chẳng ai dám mạo phạm. Mỗi khi lại qua cây đa khổng lồ ấy, các bác tài xe khách liên tỉnh thường dừng xe kính cẩn thắp nhang, cúng bánh trái cho gốc cây vô tri vô giác cầu mong chuyến đi được bình an. “Cây linh lắm chú ơi” – ông Bé, e dè, nói: “Nghe cụ cố rồi đến ông già tôi kể lại, tiền thân của cây đa này là cây dầu đại thụ. Sau này cây đa sống ký sinh, có lẽ do bị cây đa hút hết dưỡng chất nên cây dầu khô héo và chết. Hồi quân Pôn Pốt tràn về Ba Chúc, cây đa không chỉ chứng kiến các màn hành quyết thường dân của chúng mà còn gắn liền với tội ác của chúng với xác người nằm la liệt dưới gốc”. Đã gặp nhiều cây đại thụ gắn liền với những chuyện ly kỳ như cây đa hình cổ mộ phủ lấy thi hài của một vị tướng không đầu ở Cam Ranh (tỉnh Khánh Hòa), những cây bàng đại thụ lá đỏ như màu máu của các chiến sĩ kiên trung trên ngục tù Côn Đảo (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu), hay cây 3 gốc một ngọn trên đỉnh núi Chứa Chan (huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai) được đồn thổi là nơi có sơn thần trú ngụ và được hàng chục ngàn người mỗi năm hành hương tìm đến khấn vái, mưu cầu tài lộc, gửi bệnh…. Nhưng khi được mục diện “cây đa oan hồn” này, phải nói rằng sự ngạc nhiên của chúng tôi lên đến đỉnh điểm. Cây cao trên 30m, thân khổng lồ cỡ 4 người ôm, rễ quấn chặt rễ tầng tầng lớp lớp với rêu phong bám dày, khiến người xem cứ ngỡ cây phải cả ngàn năm tuổi. Dưới gốc cây đa là am thờ, nhang đèn, giấy vàng mã… lổn ngổn. Nhưng cái sự lạ mà chúng tôi đề cập không phải ở những điều vừa miêu tả. Vấn đề ở chỗ cây cao to như vậy nhưng lại áng giữa đường, mà lẽ ra người ta có thể đốn bỏ để tránh gây tại nạn cho người đi đường. “Không ai dám đụng vào “cây oan hồn” này đâu chú ơi, có cho vàng họ cũng không dám rớ tới” – ông Bé khẳng định.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s