NHẠC SĨ NGUYỄN TÀI TUỆ: ĐẾN GIỜ TÔI VẪN CÒN XẤU HỔ


THÔN CA

Nhạc sĩ tài danh Nguyễn Tài Tuệ.

Nhạc sĩ tài danh Nguyễn Tài Tuệ.

Nguyễn Tài Tuệ luôn nói: “Đến bây giờ tôi vẫn còn xấu hổ” mỗi khi có người hỏi ông về “phi vụ” cho ra đời một bài hát nổi tiếng “Lê Quang Vịnh – người con quang vinh”.

Nổi tiếng không chỉ vì bài hát hay, vừa phát trên làn sóng phát thanh đã nhanh chóng lan truyền khắp bàn dân thiên hạ (hồi năm 1962-1963, bài hát được nhiều người ưa thích); mà còn vì nhạc sĩ đã lầm to, đổ bao công sức nói về một người anh hùng đã ngã xuống, hy sinh cho sự nghiệp cách mạng, trong khi thực sự người ấy không hề sao, vẫn còn sống cho mãi tận hôm nay. Lê Quang Vịnh – nguyên Trưởng ban Tôn giáo của Chính phủ – khi ấy là một nhà giáo yêu nước đã lãnh đạo phong trào học sinh đấu tranh chống chính quyền Ngô Đình Diệm, bị bắt và kết án tử hình. Tôi hỏi nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ: “Đầu đuôi xuôi ngược thế nào mà anh lại mắc sai lầm… chết người như vậy? Giá bảo trót sáng tác nhầm và bài hát bình thường bị người ta quên lãng, chẳng ai để ý thì không sao. Đằng này thật “chẳng may”, bài hát lại quá hay, nổi tiếng nên mới… phiền!”.

Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ cười rũ ra, sảng khoái và thú vị: “Chuyện là thế này: Chắc ông còn nhớ dạo 1962-1963, phong trào học sinh, sinh viên Sài Gòn đấu tranh chống chế độ Ngô Đình Diệm, đòi tự do dân chủ rất mạnh. Giáo sư Lê  Quang Vịnh cùng Lê Hồng Tư là những người lãnh đạo phong trào bị chính quyền nguỵ bắt, kết án tử hình. Sự kiện này hồi đó đăng báo ai cũng rõ.

Một lần mình đi họp hay sinh hoạt gì đó tại Câu lạc bộ Thống nhất ở Bờ Hồ, gặp Trần Kiết Tường, anh ấy nói với mình: “Tớ nghe các anh ở Ban Thống nhất Trung ương nói rằng Lê Quanh Vịnh bị chúng nó xử bắn ở Côn Đảo rồi. Tin này khiến ai cũng vô cùng căm giận bọn Ngô Đình Diệm và thương tiếc, cảm phục Giáo sư Lê Quang Vịnh…”.

Trần Kiết Tường khẳng định như đinh đóng cột, nguồn tin lại từ Ban Thống nhất Trung ương, sao có thể nghi ngờ được. Thế là mình về sáng tác ngay bài hát với tất cả tấm lòng mến mộ, cảm phục người trí thức yêu nước cộng với sự cảm thông sâu sắc nỗi thống khổ của đồng bào đang còn sống dưới chế độ thống trị của bè lũ Mỹ – Diệm. Khi ấy, rất chân thành, mình viết: “Bao vinh quang chiến công anh tôi ca, khi tin đau xót xa trong lòng ta…”.

“Thế sau đó bao lâu anh mới biết được sự thật là Lê Quang Vịnh còn sống và sự thể thế nào?”. “Chỉ một thời gian ngắn, bài hát đã được vang lên ở khắp nơi. Hoá ra từ án tử hình, anh Vịnh được giảm xuống tù chung thân và bị đày ra Côn Đảo thụ án. Sau sự kiện Ngô Đình Diệm bị đảo chính ngày 3.11.1963 và bị giết, nhóm lên thay đã phóng thích các tù nhân để lấy lòng nhân dân, anh Vịnh được trả lại tự do. Rất tiếc là khi tôi biết rõ sự thật thì bài hát đã ra đời và “tai hại” là đã lan truyền, được nhiều người thuộc”.

Nguyễn Tài Tuệ là nhạc sĩ, nghệ sĩ 100%. Nhưng ai mới tiếp xúc với ông sẽ ít thấy phần “nghệ” mà thấy chất nhà giáo, chất “ông đồ” nhiều hơn. Phút đầu và ngay cả khi quen biết nhưng chưa thân thiết, ông thường để cho đối tựơng tiếp xúc có cảm giác lạnh lùng, khô khan, không cởi mở, có phần khó tính, xét nét. Ông chào hỏi, giao đãi luôn vừa đủ, không thừa, không thiếu. Ai hỏi gì, ông trả lời nấy, hiếm khi thấy ông chủ động gợi chuyện.

Tôi nhớ lần đầu tiên trong đời tiếp xúc với ông, để cho không khí thêm mặn mà, tôi bày tỏ sự thích thú đặc biệt đối với những bài hát của ông mà tôi cho là bất hủ: Lời ca gửi noọng, Tiếng hát giữa rừng Pác Bó; Xa khơi; Xôn xao bến nước. Cứ tưởng ông phải hào hứng sôi nổi hơn, nhưng chẳng hề giống các tác giả khác, mỗi khi được tán thưởng tác phẩm dễ cao hứng bốc đồng, ông vẫn giữ vẻ bình thản và đáp chuyện khiến tôi ít nhiều mất hứng: “Có gì đâu anh, xưa cũ lắm rồi. Đã lâu lắm tôi có gì đáng kể nữa đâu”.

Tôi có may mắn là một trong số rất hiếm người được ông coi là thân thiết, là bạn vong niên (ông hơn tôi 10 tuổi), sau dăm lần lui tới nhau đàm đạo chuyện nhạc, chuyện đời, cùng ngồi vào bàn chén chú chén anh. Chơi với ông rất thú vị vì luôn xôm chuyện, ông tỏ rõ một người thông thái, hiểu biết nhiều lĩnh vực. Có lần tôi viết trên báo Văn Nghệ rằng: Có 2 loại nhạc sĩ nốt và chữ. Nhạc sĩ nốt là những người chỉ biết mỗi âm nhạc, ngoài ra chẳng biết gì, sáng tác như một thứ thợ gia công mặt hàng. Còn nhạc sĩ chữ thì có kiến thức văn hoá cao, tri thức mọi mặt rộng.

Hiện nay có gần 1.000 hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam nhưng chỉ có chừng vài ba chục người có thể gọi được là nhạc sĩ chữ, trong đó có Nguyễn Tài Tuệ. Ông rất tâm đắc với bài báo này của tôi, còn nói thêm: “Tôi thấy lạ rằng có nhiều nhạc sĩ ở Việt Nam mình gặp nhau chỉ có thể nói vài ba câu chuyện tầm phào được thôi, nói sâu vào âm nhạc thì không được, chẳng có gì để  nói”. Không giống nhiều người có tính xấu là chỉ thích nói mà không thích nghe, Nguyễn Tài Tuệ rất chịu nghe người khác nói. Ông có thể nói vài lời, rồi ngồi im nghe người khác rất lâu.

Gặp ông rất dễ, hầu như đến với ông bao giờ cũng được ông khoản đãi một thứ ăn thức uống thú vị nào đó. Ông không phải là người biết uống rượu, nhưng lúc nào trong phòng cũng có rượu tây rất ngon. Điều khá đặc biệt là Nguyễn Tài Tuệ luôn phủ nhận mình. Tôi cứ tụng ca ông điều gì là ông lại: “Ôi dào, tầm thường lắm, bọn mình ở xứ mù cứ thấy thằng chột là tôn lên thôi”. Nhưng không chỉ nói, mà là làm.

Có lần, Hội Nhạc sĩ bỏ tiền làm album ca khúc cho tất cả các hội viên có sáng tác. Tiêu chuẩn mỗi người được làm một băng cátxét 12 bài kèm in tập nhạc 12 bài ấy. Mỗi bài các tác giả còn được lĩnh một khoản nhuận bút tương đối khá. Vậy mà Nguyễn Tài Tuệ chỉ cho thu băng và in 10 bài. Tự ông “vứt đi” 2 bài. Người ta ngạc nhiên, ông thản nhiên đáp: “Vì chỉ có 10 bài là chấp nhận được, còn 2 bài dở chứ sao!”. Thế là đương nhiên ông bị hụt đi một khoản tiền đáng kể. (Trong khi đó không ít tác giả thuộc hàng vô danh sẵn sàng bỏ ra cả chục triệu đồng để in tập nhạc dày cộp toàn những bài lạ hoắc). Mà, hai bài “quẳng đi” kia đâu có xoàng. Lại một điều thú vị đột xuất khác: Ngay cả tập 10 bài kia, cách đây vài tháng tôi có xin một tập để làm tư liệu, khi cần sẽ đưa vào các tuyển tập theo từng chủ đề.

Trước khi trao cho tôi, ông cầm bút gạch bỏ vài bài trong đó và nói: “Bỏ mấy bài này, anh chớ có in ấn lại ở đâu, vì dở lắm, bây giờ xem mới thấy dở”. Chưa hết, ngay cả bài Tiếng hát giữa rừng Pác Bó không ai không biết kia, ông cũng sửa lại một chỗ: Cho hát ngắn bớt một phách ở nốt nhạc ứng với tiếng tám trong câu “Đất rung tiếng ca nở hoa tháng tám”. Bàn dân thiên hạ lâu nay đã quen hát như cũ rồi, bây giờ còn sửa lại. Tuy sửa như ông là cực kỳ chí lý, nhưng dẫu sao cũng có vẻ… thừa.

Dẫu rất nể phục cái sự khó tính trong lao động nghệ thuật của ông, nhưng tôi vẫn nói: “Vẫn biết sửa lại như vậy là hay hơn rồi, nhưng ai cũng chấp nhận cả, anh đính chính làm chi cho rắc rối”. Không ngờ ông nói luôn – bằng cái giọng xứ Nghệ pha chất Bắc nghe khá ấn tượng: “Không hiểu sao lúc sáng tác mình lại ngớ ngẩn cho ngân những 2 phách rưỡi như thế, nghe rề rà, sốt ruột. Phải sửa! Phải sửa! Sinh con ra dẫu có trưởng thành, nhưng thấy nó còn dở, làm cha mẹ vẫn phải tiếp tục uốn nắn…”.

Con người tưởng như nổi tiếng sớm, cả đời luôn được sống trong vầng hào quang của tài năng như ông hẳn là luôn suôn sẻ, xuôi chèo mát mái, nhưng không, ông cũng nếm trải đủ mọi cay đắng của cuộc đời: Không may có người cha bị quy oan là địa chủ trong cải cách ruộng đất. Từ cái lý lịch “tối sầm” đó, ông bị “mệt” mất một thời gian, hết lang thang ở vùng Lao-Hà-Yên (Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái), lại nhiều năm về làm phong trào ở vùng mỏ Quảng Ninh. May sao sau nhiều năm gian truân làm việc tốt ở những nơi kia, một vị lãnh đạo có uy tín ở Bộ Văn hoá khi ấy đề nghị cho Nguyễn Tài Tuệ đi học âm nhạc dài hạn ở nước ngoài.

Nhưng những năm tháng  ấy, sang Liên Xô, Đông Âu thì “xét lại”, sang Trung Quốc thì đang “đại cách mạng văn hoá” hết sức lộn xộn. Chỉ còn Triều Tiên. Thế là ông được sang học chính quy 5 năm ở Nhạc viện Bình Nhưỡng. Tốt nghiệp bằng đỏ (1966 – 1972), về nước, ông làm việc ở Đoàn Ca múa Trung ương cho đến lúc về hưu (1996).

Tôi hỏi Nguyễn Tài Tuệ: “Trong đời anh, rủi ro nhất là gì?”. Trả lời: “Có thể là không may, nhưng cũng không đáng gọi là rủi ro. Nhiều, nhưng quên rồi”. Lại hỏi: “Còn may mắn nhất?”. Trả lời: “Được sang Triều Tiên học, vớ được bà vợ đây”. Hỏi tiếp: “Có gì phải ân hận, xấu hổ không?”. Trả lời: “Ân hận thì không, còn xấu hổ thì tôi đã nói rồi: Phi vụ làm ra bài “Lê Quang Vịnh – người con quang vinh”. Lại cười rũ rượi, ha hả, khà khà, nói oang oang, rồi cùng hát lại mấy câu trong cái bài hát “xấu hổ” ấy…

Nguồn: Lao Động

Advertisements

Một phản hồi

  1. Tôi vẫn nói rằng cả Hội Nhạc sĩ Việt Nam cứ mỗi người có một bài hay thì đã là tuyệt vời lắm rồi. Tôi luôn quan niệm: “quý hồ tinh, bất quý hồ đa”. Chớ có nghĩ nhiều là hay, là tốt nhé! Tôi ngấm sâu lời thầy tôi dạy ngày nào: “Nếu không có tác phẩm xuất sắc thì không có gì cả”. Tôi có khoảng 15 ca khúc và một số tác phẩm khí nhạc – giao hưởng thính phòng. Tôi rất tránh “lạc theo” con đường số lượng.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s