NGƯỜI GIẢI HẠN QUÊ LÀNG


NGÔ XUÂN HỘI

Nhà văn Nguyễn Trọng Tân

Nhà văn Nguyễn Trọng Tân

Thằng con trai út của vợ chồng tôi gan cóc tía, năm tuổi đã dám một mình qua đêm trên tầng lầu nhà. Bảy tuổi đi chơi Suối Tiên, vào nơi gọi là “18 tầng địa ngục” gặp những cánh tay ma vờn trước mặt, trong lúc mẹ và chị sợ rú lên thì nó lại khanh khách cười, chạy đuổi theo cố túm cho bằng được. Chín tuổi học võ, mới tí táy tí mẻ dăm đòn thế đã tìm mọi cách lọt vào mắt thầy, mong được thầy gọi lên đối chiến. Những ai từng học võ đều biết, đánh nhau trên sân võ nhiều khi khốc liệt chẳng kém gì ngoài đời, vì lẽ ấy không ít võ sinh đành giữa đường đứt gánh. Cu Út nhà tôi trái lại, bước sang năm học võ thứ sáu trong con tim vẫn nguyên vẹn niềm say mê ban đầu. Những đêm nó đi luyện quyền cước về, quan sát tôi thấy cậu chàng giống như một con thú bị thương lặng lẽ xuống bếp lấy bã chè và muối hì hụi xát vào đầu, vào chân tay để trị những vết bầm tím do dính đòn bạn tập, lòng háo hức chờ buổi học sau. Tính Út gan lỳ thế nên mỗi khi trong nhà có việc cần đến “lòng dũng cảm” thì nó luôn là ứng cử viên số một. Ấy thế mà có một đêm, cu cậu không dám một mình lên tầng lầu nhà. Hết sức ngạc nhiên, tôi hỏi:

– Con sợ gì ?

Ngập ngừng nhìn bậc sinh thành, thấy không có dấu hiệu gì của một cơn phong ba bão tố, anh chàng xấu hổ thú nhận:

– Con sợ người chết treo… trong truyện “Trang gia phả viết bằng vôi” của bác Tân!

Thì ra thế, ông hùm sợ xác chết treo! Tôi phì cười, nghĩ bụng: “Bác này dọa trẻ con giỏi thật” và thế là cất công đọc. Trang gia phả viết bằng vôi Nguyễn Trọng Tân tặng tôi đã lâu. Tôi xếp lên giá, quên mất, chẳng hiểu vì sao lại lọt vào mắt xanh cậu út. Đọc xong cảm tưởng đầu tiên của tôi là đáng sợ thật. Dĩ nhiên tôi không như cục cưng của mình “sợ xác chết treo”, dù cái xác ấy treo trong tư thế bụng bị mổ, hạ bộ bị cắt… Nhưng bạn thử hình dung một người ấu thơ đói lả bên đường, được người tốt cho ăn, nhận làm con, nuôi nấng chăm bẵm, lớn lên không coi bố mẹ nuôi ra gì. Một người thấy vợ ngoại tình, không bừng bừng phẫn nộ lại lặng lẽ quay đi nghĩ mưu sâu kế hiểm để xuống tay. Một người dám đóng gói cái dái khô của tình địch làm quà mang đến lễ bố vợ trong ngày giỗ của ông… thì đáng sợ biết chừng nào. Chả thế mà đánh giá về truyện ngắn này nhà văn Ma Văn Kháng đã viết: “Trang gia phả viết bằng vôi, một sáng tác tiêu biểu của nhà văn Nguyễn Trọng Tân, ở những năm tám mươi thế kỷ trước, truyện sắc sảo, tinh tế, cả cái bi và cái hài đều được đẩy đến tận cùng. Dồn nén nhưng từ tốn, câu chuyện về cái ác được kể lại mỗi lúc một sôi nổi, quyết liệt cho đến cái kết thúc bi thảm có tính quy luật…  mang màu sắc kỳ ảo; đọc xong thấy kinh sợ và hoang mang; hoang mang, một hiệu quả tâm lý của những truyện ngắn chấn động nhân tâm và quỷ thần…”

Ác giả ác báo, cuối cùng Xuấn (nhân vật ác trong chuyện) đã bị trừng trị. Hắn bị giết y như cách kẻ tình địch bị hắn giết thông qua bàn tay vợ hắn trước đây, hạ bộ bị cắt xẻo cắm vào mồm, bụng bị mổ phanh… Cái chết của Xuấn là lời cảnh tỉnh cho những kẻ chuyên ngậm máu phun người, ra tay tàn độc. Lịch sử cách mạng của nước Việt Nam hiện đại, cải cách ruộng đất là một trang bi thương bậc nhất, mà vì nhiều húy kỵ, văn học viết về thời kỳ này rất ít. Trong bối cảnh ấy, dù xuất hiện muộn gần bốn mươi năm so với sự kiện xảy ra Trang gia phả viết bằng vôi vẫn chiếm một vị trí đặc biệt khiến người ta không thể không nhắc đến. Chỉ là một truyện ngắn, nhưng với những gì mà nó thể hiện, soi chiếu tác phẩm xứng đáng là một danh tác trong rất nhiều những truyện ngắn, truyện dài của văn học nước ta thời kỳ đổi mới.

Văn chương phải dựa vào thực tại nhưng thực tại không có văn chương ám ảnh làm sao có thể hình dung, có thể được gọi ra. Và thực tại của những trang văn để đời ấy chính là những chuyện đã và đang xảy ra trong cái làng Phù Phong chôn rau cắt rốn của tác giả. Cái làng thật lạ, hẹp, mảnh như lá lúa, dù đất đai trong vùng chưa phải đã hết. Vì sao nó lại mảnh, hẹp như vậy ? Huyền sử Phù Phong kể, cách đây 350 năm Phù Phong là một làng trù phú ở đất Phong Châu, gần đền Hùng bây giờ. Làng có tới 18 vị làm quan trong triều. Hàng năm, Hội làng được định kỳ tổ chức vào ngày 7 tháng Giêng. Như thường lệ, năm ấy Hội làng đang sôi nổi thì bỗng đâu lính tráng triều đình ập đến bao vây và một cuộc tàn sát diễn ra, 18 dòng họ bị tru di, Phù Phong bị xóa sổ. Những người sống sót bị biếm ra bãi sông phía Hạc Trì lập làng mới. Triều đình còn cẩn thận xẻ một hào đất “hình nhân bái tướng” yểm long mạch để con cháu làng sau này không có cơ trong việc học hành, làm quan.

Hạc Trì (Việt Trì ngày nay) là nơi gặp gỡ của ba con sông: Sông Hồng (sông Thao), sông Lô và sông Đà. Nhất cận thị, nhị cận giang. Tưởng ở cạnh sông thì đời sống kinh tế văn hóa của làng sẽ nhờ sông mà khá lên, nhưng do bị trù yểm nên dù ở ven ba con sông lẫy lừng đất nước mà dân làng không một ai biết bơi lội giỏi, không một người nào làm nghề sông nước, buôn bán đò dọc đò ngang… vốn là những nghề giúp làm nên những phố Hiến (đàng ngoài), Hội An (đàng trong) thời xưa, sự mưu sinh vẫn theo cái nết của người vùng đồi. Đã thế khúc sông trước mặt làng mới lại là nơi hợp lưu của hai con sông Đà và sông Thao, vì vậy qua một mùa mưa hình thế làng lại thay đổi, lũ lụt liếm hết cửa nhà. Không ở được, các bô lão mới xin với xã một rẻo đất rộng bằng hai sá cày phía trong đê lập làng khác, tức làng Phù Phong, xã Cao Xá, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ ngày nay. Chẳng biết một sá cày rộng bao nhiêu, nhưng cứ theo chiều đi của sá cày mà làm nhà nên bây giờ làng mới mỏng mảnh xanh dài như chiếc lá bập bênh giữa một vùng sông nước.

Vì sao lại có cuộc tàn sát ấy ? Huyền sử làng kể tiếp, có một kẻ xiểm nịnh nào đó đã tâu với bề trên, dưới chiêu bài Hội làng – mười tám ông quan Phù Phong họp nhau “Tế cờ khởi ngụy”. Vua tin lời dèm, sai Tuần phủ Sơn Tây đem quân sang triệt hạ mầm mống làm xã tắc nghiêng đổ.

350 năm với biết bao tao loạn xảy ra, sự trù yểm âm thầm phát tác. Mãi tới những năm bảy mươi của thế kỷ trước, do chiến tranh ác liệt Phù Phong mới có đôi ba chàng trai học hết lớp 10 được xét thẳng vào đại học, không qua thi tuyển. Nhưng dường như cái “dớp” bùa yểm vẫn còn, nên vừa xong năm thứ nhất tất cả bọn họ đều  nhất loạt từ giã học đường, khoác lên mình bộ quần áo lính. Đi qua cuộc chiến tranh người còn người mất, điều kỳ lạ là trong số những người còn không một ai quay lại các giảng đường. Năm  1977 Phù Phong mới có công dân đầu tiên tốt nghiệp đại học, đấy là ông anh con bác Nguyễn Trọng Tân. Nhưng đường học của ông này không mấy “phong phù”. Để kiếm được mảnh bằng cử nhân, dù rất giỏi ông cũng không thể vào đại học mà phải theo Sư phạm 10 + 3, tốt nghiệp làm giáo viên cấp 2. Sau đó vừa làm thầy vừa làm trò, trầy trật dạy trầy trật học lên. Cư dân Phù Phong đầu tiên vào đại học một cách chính thống, không liên thông, không chuyên tu, tại chức chính là nhà văn của chúng ta. Với kết quả thi 14,5 điểm cho ba môn Văn, Sử, Địa (điểm chuẩn 12), mùa thu năm 1976 sau mười năm bộ đội Nguyễn Trọng Tân chính thức trở thành sinh viên Văn khoa trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Mục sở thị tờ giấy báo kết quả thi anh mang về, nam phụ lão ấu Phù Phong mừng lắm. Theo các bậc tiên chỉ làng Phù, thành công của cậu Cả Tân trên con đường khoa cử đã giúp giải lời trù yểm bao đời nay vẫn đè nặng lên làng. Để làm được điều này, con đường Nguyễn Trọng Tân đi xem ra “vó câu còn khấp khểnh, bánh xe còn gập ghềnh” hơn cả con đường của người anh em thúc bá.

Là con cả trong một gia đình có sáu người con, năm 1964, mười lăm tuổi, vừa học xong lớp 8 trường cấp 3 huyện, Nguyễn Trọng Tân đã phải nghỉ học để lao động nông nghiệp, góp sức cùng bố mẹ nuôi các em. Vì vậy mọi công việc đồng áng anh sớm thành thạo. Cuối năm đó Ban chủ nhiệm hợp tác xã Cao Xá cử anh đi học một lớp sơ cấp Thủy lợi 3 tháng ở thị xã Phú Thọ. Trở về, đang say sưa áp dụng những kiến thức học được vào việc thiết kế mương máng dẫn nước từ kênh chính của làng vào các cánh đồng, một hôm ngó trước trông sau Nguyễn Trọng Tân giật mình thấy trên đồng toàn đàn bà, trẻ con. Chán ngán, anh  tìm cách đi bộ đội bằng được. Vừa may lúc đó người của binh chủng Thông tin Liên lạc về xã tuyển quân, ưu tiên những thanh niên có học vấn từ lớp 7 trở lên. Dù  chớm 17 tuổi, cân chưa đủ nặng nhưng trước nhiệt tình của tuổi trẻ, ông trưởng đoàn cán bộ tuyển quân đã phải chấp nhận cho anh vào lính, anh sung sướng tưởng phát điên.

Những năm đầu đơn vị tân binh của anh đóng quân ở Pháo Đài Láng, Hà Nội. Nhớ trường nhớ lớp, hàng đêm chàng binh nhì trẻ đã âm thầm cuốc bộ lên tận phố Hàm Long, khu Hoàn Kiếm để học tiếp lớp 9 và 10 ở trường PTTH Ngô Sĩ Liên. Nhờ vậy mà sau ngày 30 – 4 -1975, anh bộ đội giải ngũ Nguyễn Trọng Tân lúc này đã gần ba mươi tuổi mới đủ điều kiện làm một thí sinh dự thi (và đắc cử) vào Đại học. Anh học khóa 21 Khoa Văn trường Đại học tổng hợp Hà Nội, niên khóa 1976 – 1980, tốt nghiệp, được giữ lại trường làm giáo viên. Nhưng không khí tĩnh lặng của giảng đường không phù hợp với anh, được 4 năm Nguyễn Trọng Tân xin trở lại nghề làm báo. Nói trở lại, vì trong hơn 10 năm đi B, gần một nửa thời gian anh gắn với tờ Thông tin Liên lạc trên cương vị Phóng viên chiến trường. Và cái nghề làm báo nay đây mai đó đã chung thủy cùng anh cho đến tận hôm nay. Hẳn vì thế  mà trong số 12 tác phẩm anh đã xuất bản, có 5 tác phẩm là bút ký, phóng sự. Nhiều bài trong số đó khi xuất hiện đã gây xôn xao dư luận, thể hiện tích cực tính công dân của người viết, buộc cơ quan công quyền phải vào cuộc. Tuy nhiên thể loại anh tâm đắc, gặt hái nhiều thành công và được đánh giá cao vẫn là truyện ngắn. Sau khi cho công bố những Tiến sĩ vinh quy, Trang gia phả viết bằng vôi, Tháng năm nghiệt ngã, Công ty điếu văn, Chuyện buồn thời con gái, Bà The, Vật hy sinh của dòng họ, Chuyện làng Phù… tác giả khẳng định mình.

Ở phần đầu bài viết tôi đã đề cập đến Trang gia phả viết bằng vôi. Đây là truyện ngắn Nguyễn Trọng Tân tâm đắc nhất. Đằng sau câu chuyện chấn động nhân tâm và quỷ thần ấy,thông điệp tác giả muốn gửi tới người đọc nằm cả ở sáu câu thơ mang tính sấm truyền cuối truyện: “Dân là gốc, gốc nở cành sinh ngọn/ Nước là nguồn cho bể rộng sông sâu/ Người ta nguồn, gốc từ đâu ?/ Có tổ tiên trước rồi sau có mình!/ Ác nhân ác giả vô ảnh vô hình/ Nhân bồi nhân nở, sinh sự sự sinh”.

Nhưng không chỉ một Trang gia phả viết bằng vôi, Nguyễn Trọng Tân còn nhiều truyện ngắn để đời khác. Công ty điếu văn chẳng hạn, truyện thể hiện tính nhạy bén của tác giả khi anh vạch trần từ rất sớm thói giả dối trong xã hội. Theo Họa sĩ Đỗ Đức: “Công ty Điếu văn gây ra một cú sốc tâm lý khá mạnh: vừa giật mình, vừa thích thú  về sự táo bạo của người viết khi xả một đường gươm xé toang thói giả dối của cuộc sống mà ai cũng biết, ai cũng ngại nói ra…”

Tiến sĩ Vinh quy lại hấp dẫn người đọc ở một khía cạnh khác. Bằng giọng văn tưng tửng, chỉ với mươi trang in tác giả đã phác họa hầu hết khuôn mặt và tính cách của đủ mọi thành phần xã hội trong cái “sân khấu đời” dồn nén đến tức thở: Một công chức lưu dung về hưu (Văn Nghĩa Vương), một thương binh (Tự), một anh cán bộ tuyên huấn (Ngư), một người lao động tự do (Tế), cô nhân viên thương nghiệp (Băng Thanh), anh phó tiến sĩ trong nước (Liêm), cô giáo cấp một (Tầm), mỗi người một số phận, một bi kịch trong cái xã hội đang chuyển đổi đến chóng mặt…

Cũng với cách lập ý trên, sau đó ít lâu Nguyễn Huy Thiệp viết “Không có vua”, phổ vào đó công năng đặc dị của mình và “Không có vua” lập tức thu hút dư luận, góp phần làm nên một hiện tượng. Mới hay muốn nổi tiếng, trở thành người của công chúng, ngoài tài năng còn phải hội đủ cơ trời. Nguyễn Trọng Tân hình như thiếu cơ trời, cả trong văn chương lẫn ngoài đời. Trong văn chương rõ nhất là lần anh bị vuột mất giải nhất cuộc thi truyện ngắn hay do thành phố Hồ Chí Minh tổ chức năm 1990 mà trước đó Ban chấm giải đã nhất trí trao cho truyện của anh, với lý do để bảo vệ tác giả! Cuối cùng cuộc thi kết thúc mà không có giải nhất. Còn trong đời sống, anh hình như cũng không thích tự quảng bá. Tôi cảm nhận điều này năm 1998 trong lễ kỷ niệm 50 năm báo Văn Nghệ ra số đầu tiên được tổ chức tại cung Văn hóa Việt Xô. Lần ấy anh lên đọc báo cáo. Lắng nghe anh đọc, nhìn phong thái của anh trên diễn đàn, tôi nghĩ thầm: “- Hội Nhà văn có một ông chững chạc như thế này mà sao mình không biết nhỉ ? ”. Hỏi hai ba người bên cạnh, ai cũng lắc đầu. Mãi rồi cũng có người cho tôi hay, người đang đăng đàn là  Phó Ban thường trực Ban Sáng tác, thành viên Hội đồng Chung khảo giải thưởng Hội Nhà văn; Phụ trách nhiều tờ báo, tên gọi là Nguyễn Trọng Tân. Về sau khi đã quen nhau tôi kể lại với anh điều này, anh cười: “-Hữu xạ tự nhiên hương”. Biết vậy, nhưng trong bầu không khí xô bồ của cơ chế thị trường, của thế giới mạng, quan niệm ấy có phần hơi “xa xỉ”.

Dù sao thì Nguyễn Trọng Tân cũng không quan tâm tới việc PR, nó làm anh mệt. Mang sứ mệnh nhà văn anh sống giữa nhân sinh, cảm thông với khó khăn của những người lính trở về sau cuộc chiến, nói tiếng nói của những sinh viên, trí thức nghèo, những con người bất hạnh. Đọc Nguyễn Trọng Tân, người đọc nhận ra ngòi bút nhiều giọng điệu: Lúc dung dị, tinh tế, khi hài hước dí dỏm, lúc đằm sâu suy nghĩ, lúc sắc lạnh ghê người. Hình ảnh miền quê nghèo trung du với những nét chung và vẻ riêng của một làng quê Việt Nam, cùng mọi tập tục, quan hệ cố hữu lâu đời, thoạt nhìn có vẻ bình yên, nhưng trong dòng trôi của lịch sử đất nước với chiều rộng của không gian, chiều sâu của thời gian, con người bị va đập dữ dội giữa cái thiện và cái ác, tốt và xấu… luôn làm day dứt người đọc.

Những năm gần đây ít thấy tác phẩm mới của Nguyễn Trọng Tân xuất hiện. Anh bận. Dĩ nhiên, vì phải lo cơm áo gạo tiền cho những tờ báo mà giờ anh vẫn phụ trách. Công việc làm báo chiếm hết thời gian của anh ? Nhưng trong thẳm sâu suy nghĩ tôi biết, anh mang những nỗi niềm riêng: anh buồn vì sự bất lực của văn chương trước cuộc sống. Các nhân vật của anh thường có nguyên mẫu ngoài đời. Ngay với Xuấn, kẻ dám phóng tay làm những việc táng tận lương tâm trong Trang gia phả viết bằng vôi cũng vậy. Ngoài đời Xuấn sống phây phây, và trời ạ lại là kẻ có tiền muôn bạc tỉ, quyền lực đầy mình. Thế mới thấy cái ác, cái giả dối lộng hành đáng sợ biết bao nhiêu. Nhưng không lẽ vì thế mà chúng ta buông bút, thưa bác Tân yêu quý ?!

TP Hồ Chí Minh, tháng 4 – 2013

Nhà văn Nguyễn Trọng Tân sinh năm 1949. Quê quán: làng Phù Phong, xã Cao Xá, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

17 tuổi nhập ngũ, nhiều năm chiến đấu chống Mỹ tại chiến trường B. Năm 1980 làm giảng viên trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, chuyên gia giảng dạy Ngữ văn Việt Nam tại trường Đại học Tổng hợp Phnômpênh, Cămpuchia. Từ năm 1984 đến nay chuyên tâm sáng tác văn học và làm báo. Đã xuất bản 12 tác phẩm gồm: 3 tiểu thuyết; 4 tập truyện ngắn; 5 tập bút ký, phóng sự.

Giải thưởng văn học: Ba lần tặng thưởng giải A của thành phố Hà Nội về truyện ngắn, Giải thưởng của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam cho tập Đò chiều (1996). Giải thưởng truyện vừa của tạp chí Tác phẩm mới, 2000.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s