ĐÔI ĐIỀU VỚI INRASARA


ANH CHI

Nhà thơ Anh Chi

Nhà thơ Anh Chi

LTS – Thời gian qua, sau khi giới thiệu vệt bài “Chuyển động thơ Việt Nam hiện đại – đương đại” của nhà nghiên cứu Anh Chi, cùng với sự cổ vũ của nhiều bạn đọc, chúng tôi nhận được một số bài trao đổi của các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình văn học. Trong ba số báo gần đây, chúng tôi đã giới thiệu phần trao đổi của nhà thơ Inrasara “Phê bình phê bình”. Trước khi giới thiệu ý kiến của một số nhà phê bình văn học khác, theo yêu cầu của nhà nghiên cứu Anh Chi và cũng để tạo cơ hội cho tác giả có thể trao đổi lại, báo Nhân Dân Cuối Tuần kỳ này giới thiệu “Đôi điều với Inrasara” mà Anh Chi muốn “làm sáng rõ hơn một số vấn đề” chưa thống nhất. Chúng tôi mong tiếp tục nhận được những ý kiến tâm huyết, trách nhiệm của bạn đọc cũng như những người quan tâm đến văn học nước nhà.

1. Inrasara viết: “Thơ hiện đại chưa được bạn đọc ưa chuộng, chưa vào được bạn đọc đương thời, là điều không khó hiểu: độc giả hôm nay chưa dược chuẩn bị để đón nó”. Ở đây, cần minh định từ Thơ hiện đại mà Inrasara dùng, nói đến thời đoạn nào? Như cách nhận định của Xuân Diệu “Tản Đà là thi sĩ đầu tiên mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại”, vậy cách phân kỳ “Thơ hiện đại” của Inrasara có khác không? Vả lại, theo Inrasara, độc giả hôm nay phải chuẩn bị cái gì? Và nếu đúng vậy thì Inrasara cùng các bạn viết đồng chí hướng với anh nên đổ công sức tìm ra cách nào đó để “chuẩn bị” cho họ tiếp nhận thơ ấy đi. Nếu không cố mà làm được điều đó, thì thơ ấy chết mất, thật đấy!

Chúng tôi cũng ngạc nhiên khi thấy Inrasara bỗng đề cao nhóm Sáng tạo (do nhà thơ Thanh Tâm Tuyền và nhà văn Mai Thảo chủ trì những năm trước 1975 ở miền Nam) bằng cách, trước tiên là chê trách học giả Nguyễn Hiến Lê: “Kinh nghiệm đọc của Nguyễn Hiến Lê với nhóm Sãng tạo là một bài học nhỡn tiền…Vị học giả khả kính cho rằng các tác giả theo phong trào này chẳng làm gì ra hồn cả, ngoài món lập dị”. Không cần chứng minh, anh khẳng định: “Ở miền Nam chính nhóm Sáng tạo (có) công lớn trong nỗ lực chuyển hướng và phát triển thơ Việt trong hậu bán thế kỷ 20”. Chúng tôi nghĩ, Inrasara chủ quan chăng? Chí ít, nên viết: “…phát triển thơ miền Nam (cũ)”. Bởi, thời kỳ đó, ngoài miền Bắc, Văn Cao, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phùng Cung… đang dốc lòng cách tân ngôn ngữ thơ, và thực tế cho thấy họ đạt được hiệu quả rất đáng trân trọng. Thứ nữa, Inrasara lại quên mất rằng, trên Tạp chí Nhà văn số 6, năm 2012, anh viết bài Thơ Việt, sau hiện đại – hậu hiện đại làm gì?, trong tiểu mục Thơ hiện đại gẫy cánh, không chỉ vì tối nghĩa và khó hiểu, anh trích Thanh Tâm Tuyền: Cuối đêm/ em rũ tóc nói lời mê sảng/…gây thương tích nơi cườm tay/ anh xô ngã em từ chóp đỉnh hạnh phúc. Anh trích cả thơ Tô Thùy Yên, Trần Dần, Đặng Đình Hưng, và cả Hoàng Hưng: Bão loạn. Lốc dù…Óc lói. Lơ láo tù về lạc thế kỷ. Sương đầm đẫm tóc miên mai. Và anh đã nhận định: “Các đoạn thơ vừa trích dẫn là rất tiêu biểu cho sáng tác hiện đại Việt. Dẫu vậy, hơn nửa thế kỷ đi qua, chúng vẫn là những gì khó tiếp nhận”. Như vậy, thơ ngắc ngoải những hơn 50 năm rồi, mà chưa gọi là chết ư?! Nay, lại biểu dương nhóm Sáng tạo và Hoàng Hưng, chả nhẽ, từ tháng 6 – 2012 đến nay, mới chưa đầy một năm, mà Inrasara đã từ hệ mỹ học này nhảy sang hệ mỹ học khác sao?!

2. Inrasara đưa ra ý kiến: “Một nền văn học lành mạnh khi mọi trào lưu văn chương được đối xử công bằng. Thái độ công bằng cần thiết của độc giả chuyên nghiệp (nhà phê bình) là tránh đồng hóa mọi sáng tác dị hợm (không thuộc hệ mỹ học truyền thống) vào các loại thơ cách tân để chê trách nó. Họ cần từ bỏ chấp nê vào hàng đống bài thơ “cách tân” kém để quy trách trào lưu này “mang tính chất phá hoại”, phản (chuyển động). Hệ mỹ học nào bất kỳ chỉ có thể bị vượt qua khi phần vô ngôn chưa được nói của nó được phơi mở trọn vẹn qua sáng tác ưu tú nhất thuộc về hệ mỹ học đó”. Đọc ba câu văn trên, chúng tôi thấy có phần khó hiểu, tác giả viết về ai, về cái gì? Chúng tôi thấy ngờ ngợ, phải chăng Inrasara trách hận độc giả chuyên nghiệp (nhà phê bình) nào đó? Hay anh coi nền văn học đương thời của ta không được lành mạnh, đòi hỏi nó phải lành mạnh?.. Chúng tôi thấy có lẽ Inrasara đã không công bằng. Bởi, trên diễn đàn trao đổi, anh có thể nói cụ thể ai đồng hóa mọi sáng tác dị hợm (những sáng tác nào dị hợm) vào các loại thơ (tác phẩm) cách tân nào để chê trách nó. Rất tiếc, anh đã viết một cách phiếm chỉ!

Lại nữa. Ở đây, chúng tôi không viết về Nguyễn Quang Thiều, mà viết về Inrasara, người nói nhiều về sự nhìn nhận thơ theo hệ mỹ học, đã bình luận về thơ Nguyễn Quang Thiều: “Sự thiếu tạo nên chông chênh của nhịp thơ. Cái hay của thơ Trúc Thông là cái hay thiếu, Thiều thì ngược lại, cái hay của sự thừa. “Những chiều xa quê  tôi mong dòng sông dâng lên ngang trời cho tôi được nhìn thấy/ Cho hai hốc mắt tôi như hai ổ cá bống được dàn dụa nước mưa sông” (Sự nất ngủ của lửa, 1992)…”. Chúng tôi không nghĩ như vậy. Dịp khác sẽ nói về sự thiếu, giờ chúng tôi chỉ nói về sự thừa (chữ). Câu thơ thừa chữ, lê thê, là điều các thi nhân thời đại nào cũng cố gắng tránh xa, đặc biệt là thời nay. Đơn cử, Văn Cao trình bày đời sống tinh thần của mình chỉ bằng mấy câu chắt lọc: Tất cả tình yêu khát khao hy vọng/ Bốc lên trong lòng/ Rơi xuống những giọt nước mắt. Có thể nói, đó là hội họa ấn tượng, Văn Cao vẽ bằng thơ. Còn những câu thơ Nguyễn Quang Thiều mà Inrasara khen là cái hay của sự thừa, chúng tôi nghĩ, đó là một lỗi đáng phải sửa chữa. Không lý luận xa xôi, hai câu thơ Inrasara dẫn ra để khen, chúng nhìn nhận bình dị, là tác giả để văn nói tràn vào thơ một cách thoải mái, nên thừa nhiều chữ. Gần 20 năm trước có một tác giả lý luận phê bình đã sửa câu thơ đầu của Nguyễn Quang Thiều (mà Inrasasra dẫn ở trên), từ 17 từ, rút xuống còn 14 từ, rất có lý: “Những chiều xa quê mong dòng sông dâng ngang trời cho tôi nhìn thấy”. Trong văn xuôi đã tối kỵ để văn nói lấn văn viết, trong thơ càng phải nghiêm ngặt hơn.

Để củng cố lý luận về sự thừa, Inrasara khẳng định “sự thừa này góp phần không nhỏ tạo nên nhịp điệu của thơ Nguyễn Quang Thiều”. Và như muốn nhấn mạnh thêm, anh còn viện dẫn Ch. Harman đã nói: “Nhịp điệu đóng góp toàn bộ ý nghĩa của bài thơ, và phép làm thơ là chuyển nó thành ý nghĩa”. Không biết Inrasara trích dẫn Ch. Harman có chính xác không, nhưng chúng tôi hiểu rõ, nhịp điệu có đóng góp cho phẩm chất bài thơ, nhưng không phải là “đóng góp toàn bộ ý nghĩa của bài thơ”. Cụ thể hơn, câu thơ bỏ bớt ba từ thừa (như đã dẫn ở trên), có làm hỏng gì về nhịp điệu của nó đâu. Và nữa, Nguyễn Quang Thiều chuyển sự thừa thành nhịp điệu ở chỗ nào?

3. Trở lại vấn đề  nhịp điệu thơ, có thể nói, chẳng cần lý luận cao xa gì, người đọc bình thường cũng hiểu nhịp điệu làm cho thơ dễ vào lòng người đọc hơn:

– Hoa cúc vàng đẻ ra hoa cúc tím

Em lấy chồng rồi, trả yếm cho anh.

– Hoa cúc tím đẻ ra hoa cúc xanh

Lấy chồng em cứ lấy, yếm anh em cứ cầm.

Chưa bàn về yếu tố tượng trưng, siêu thực, phần nào yếu tố tính dục mà các nhà hiện đại chủ nghĩa đôi khi coi là một yếu tố của “hậu hiện đại”, đã khiến những câu ca dao trên mang một vẻ đẹp lạ thường của thơ ca đích thực; chỉ nói, chính nhịp điệu đã khiến nó neo được ngay vào lòng người đọc. Không biết đứng trên hệ mỹ học của mình, Inrasara giải nghĩa cái hay của mấy câu thơ cổ trên như thế nào, hay là thấy nó không hay? Nhưng, những người đọc văn học mà chúng tôi được tiếp cận nhiều năm nay, có nông dân, giáo viên trường làng, công nhân, có các nhà khoa học tự nhiên, các nhà triết học, nhà mỹ học, sử gia, các nhà báo và văn nghệ sĩ… Khi chúng tôi nói chuyện với họ, đọc cho họ nghe những câu trên, họ đều khen một cách bình dị: “Thật là hay”. Hai câu thơ của Chế Lan Viên, Thời gian chảy đá mòn sông núi lở/ Lòng ta luôn còn mãi vết thương đau, nhịp điệu hay đến mức đã làm cho cả ý thơ và tình thơ thật sâu. Và, đôi câu thơ của Bích Khê, Ô hay buồn vương cây ngô đồng/ Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mêng mông, chính nhịp điệu của nó góp phần tạo nên vẻ đẹp thơ ca, mà Hoài Thanh và Hoài Chân (trong Thi nhân Việt Nam) đã coi đó là “những câu thơ hay vào bậc nhất trong thơ Việt Nam”. Xin dẫn thêm một câu ca dao mà có phẩm giá như thơ ca kinh điển:

Dao vàng cứa ruột không đau

Cắt ra làm chín gửi nhau mang về.

Hai câu lục bát trên, ngôn ngữ và hình tượng thơ đẹp rực rỡ. Trong đôi câu buồn và đẹp rực rỡ đó, ẩn chứa một thiên tình sử. Và nếu biết người Việt ta có câu “Chín khúc ruột mềm”, lại có câu “Chiều chiều ra đứng ngõ sau/ Ngóng về quê mẹ ruột đau chín chiều”, còn có cả câu: “Quanh co mấy khúc đoạn trường” (nói về đường đời nhiều lúc đau đứt ruột), thì mới hiểu 14 từ kia mang một trữ lượng đáng kể về văn hóa Việt, về đời sống và tâm hồn người Việt Nam ta. Như vậy mới thấy cái đẹp của ngôn ngữ thơ ca là vô cùng quan trọng, cũng vô cùng quan trọng là sự sống chất chứa trong thơ. Tâm hồn người viết mang vẻ đẹp văn hóa của dân tộc mình, chất chứa những sự đời của người Việt mình, là quan trọng nhất!

(Nguồn: Nhân Dân cuối tuần số 20/ 2013)                                      

2 bình luận

  1. Ối…Cả hai đều thiểu năng tuần hoàn …Trym? Đã sống và làm việc trên lãnh thổ hình chữ S này thì hà cớ gì phải đưa ra những khái niệm dở người như “hậu hiện đại”, hay “siêu thực”. G.Chirico là họa sĩ “hoài nghi” chẳng dính dáng gì đến “siêu thực” vì cách vẽ của ông chưa đủ để ta thấy một “hiện thực” cao siêu nào cả. Thế thôi nhé Sara và Anh Chi?

  2. Hình như tác giả Anh Chi đã không đọc kỹ Insara rồi. Từ trước đến nay, có nhiều người bàn đến thơ hiện đại và hậu hiện đại ở VN nhưng có lẽ Insara là người có tiếp cận đúng nhất.

    Tính hiện đại không chỉ thể hiện ở vỏ ngôn ngữ của thơ (như với trường hợp NQT) mà thể hiện ở trải nghiệm của nhà thơ ở mức độ xã hội, bối cảnh lịch sử cũng như thể nghiệm nó trong thơ.

Bình luận về bài viết này

Tạo trang giống vầy với WordPress.com
Hãy bắt đầu