VĂN CHƯƠNG VỚI CHÍNH TRỊ DƯỚI NGÒI BÚT ĐẶC SẮC CỦA HOÀNG YẾN


PHẠM QUANG TRUNG

Hoàng Yến
Hoàng Yến

Tôi muốn đi sâu vào mối quan hệ giữa văn chương và chính trị vốn là một vấn đề lý luận căn cốt mà nhạy cảm nhiều khi đến mức nóng bỏng qua cuốn tiểu thuyết Chân mây khép mở (*) của nhà văn Hoàng Yến được hoàn thành trong thời kỳ Đổi mới và chính thức ra mắt vào năm 1991. Như nhiều người trong giới đều biết, cùng với mối quan hệ giữa văn chương và đời sống thì đây là một vấn đề trọng tâm khác, quyết định tới sự đổi mới tư duy lý luận buổi đầu ở nước ta. Tuy nhiên, cho đến giờ, trong đầu óc của không ít người, chưa hẳn đã hết những tỳ vết của lối nghĩ giản đơn thậm chí sai lệch. Việc chủ động đặt ra và trả lời theo cách riêng của mình, lại bằng hình tượng văn chương sống động đến mức ám ảnh, chắc mang một ý nghĩa nhất định trong sự nghiệp sáng tạo của nhà văn giàu tài năng và tâm huyết này.

Đi suốt cuốn tiểu thuyết lịch sử thành công với cái tên đầy khơi gợi – Chân mây khép mở là hai nhân vật có thể xem là trung tâm làm bật nổi một trong những ý tưởng cơ bản của nhà văn: Trần Kồ – hầu như hoàn toàn hư cấu, và Trần Thủ Độ – con người mang dáng dấp lịch sử. Hoàng Yến chủ ý khắc hoạ tính cách nghệ sỹ ở nhân vật Trần Kồ. Quả là đời ông gặp không ít sự ngẫu nhiên, trong đó buồn vui, thành bại, sướng khổ xáo trộn, đan xen. Nhưng xem ra, chỉ con đường văn thơ của ông là trước sau như nhất. Nó gần như là một nhân tố bẩm sinh nằm trong máu huyết quyết định tới số phận của đời ông. Người đọc không thể quên sở thích của ông cố tứ đại dòng họ Trần gắn với gốc cây vải cụt cổ thụ nổi tiếng to nhất vùng. Xưa, cành là của nó um tùm, “che rợp một khoảng đất hơn mươi sải”, “từng ôm ấp một nỗi luyến tiếc khôn nguôi” của cụ. Một chuyện lạ kỳ như thế này đã xảy ra: cụ từng làm Thị lang trong thư sảnh, một chức quan to được quyền tâu lên vua “mọi đề nghị sửa đổi và tuyển bổ các quan lại”. Tuy nhiên, chỉ vì tính tình cương trực, dám nói thẳng khi can gián vua, nên cụ buộc phải sớm từ quan về hưu tại quê nhà. Thế rồi, chẳng bao lâu sau đó, cụ mắc phải chứng bệnh “nghiện chim gáy” đến như không phương cứu chữa. Thiếu tiếng chim hót là gần như cụ không thể sống yên ổn cho nổi. Uống trà mỗi sáng với cụ phải có tiếng chim. Cụ nhấp trà cùng tiếng chim. “Dường như tiếng chim quyện với chất trà tạo nên một hương vị khác thường nào đấy”. Cụ ưa dùng những chiếc lồng mồi hình quả đào đẹp do chính tay mình làm ra để đánh bẫy chim. Lúc đầu quả thật cụ chỉ thích các trận chim đấu hót, rồi dần dà mê say giọng chim thành nghiện. Thường loài chim ưa thích lồng rộng. Nhưng ở lồng rộng thoải mái nó lại gáy ít, “lồng chật tức khí nó gáy nhiều”, lạ thế!

Vào một buổi sáng nọ, cụ đang ngồi uống trà thì chợt nghe thấy một tiếng chim rất lạ. “Cụ bàng hoàng sững sờ cầm mãi chén trà trong tay”. Ấy là bởi cụ đã bắt gặp giọng hót mà mình từng ao ước bấy lâu. Trước nhất là vì chất giọng: “Một giọng thổ trầm pha chuông chen lẫn giọng kim trong thanh lảnh lót… Những tiếng bổ giọt sau cùng là những giọt ngọc âm thanh”. Sau đấy là đến sự giàu có của giọng điệu: “Âm sắc của tiếng gáy giàu như sóng dợn… Tưởng như con chim ngậm cả một dàn đàn trong cổ họng”. Nhưng trên hết là ở sức gợi đến mức ám ảnh của nó: “Tiếng nhạc chim kêu gọi khêu gợi một thời thơ dại xa xôi, những giọt nước mắt cười rè, những trận cười đắng miệng, những buồn vui lẫn lộn của một giấc người”. Những khi ấy, “hớp trà cụ vẫn giữ trên đầu lưỡi kỳ cho nó thấm đượm tiếng chim rồi cụ mới uống ực vào tận gan ruột, vào tận tâm hồn”. Cụ vô cùng ngạc nhiên khi thấy con mèo tam thể hay rình vồ lồng chim nhưng cứ mỗi lần tiếng chim quý kia cất lên thì nó “cũng mê mẩn lim dim mắt, dỏng tai vểnh râu nghe say sưa đắm đuối”. Một ý tưởng hay được đúc kết: “Hóa ra cái tuyệt hay tuyệt đẹp cũng có khả năng chinh phục ngay đến cả kẻ thù của mình”. Rồi cụ nảy ra ham muốn lén nhìn thấy bằng được con chim lạ, quan sát kỹ càng sắc diện của nó. Như nhiều chim gáy khác, con này mình thon, đầu bé, cuống mỏ to và ngắn. Cườm nó dày gọn, điểm những hạt vừng phơn phớt vàng. Song lạ nhất là lông ở hai cánh của nó lại màu trắng. Và cụ đã thành thật cảm tạ trời đất vì lần đầu tiên cho mình cái duyên gặp được một con chim trắng. Thế là cụ tìm nhiều cách bắt nó mà không được. Treo giải cho các lực điền giăng bẫy bắt cũng không xong, ngược lại, con chim sợ quá bay đi mất tăm mất tích. Cụ liền lâm bệnh tương tư. Ông cụ tứ đại của Trần Kồ đã ốm liệt giường vì tương tư một tiếng chim. Thương cụ, người con rể đành phải mượn một con chim gáy cự phách nhất vùng, treo ngay ở đầu nhà. Cũng như con chim trắng kia, nó hót hai lần trong một ngày với chất giọng rất quyến rũ. Nghe tiếng chim, cụ tỉnh dần, bệnh tình có chiều thuyên giảm. Nhưng khi gượng dậy lần ra hiên uống trà, tập trung thính lực để lắng nghe, cụ đột nhiên phát hiện ra con chim trắng đổ những chín giọng, trong khi con này chỉ có bốn giọng nghèo nàn thôi. Thế rồi bệnh cũ lại tái phát.

Ông cụ chỉ khoẻ lại khi người con nuôi làm thợ săn hứa sống hứa chết là sẽ bằng mọi cách đem được con chim lông trắng hót đa giọng kia về cho cụ. Anh ta lặn lội đây đó và cuối cùng tìm ra tung tích con chim. Mặc dầu dưới ánh sao với muôn nghìn thận trọng, anh ta vẫn làm xổng con chim, chỉ chụp được 17 chiếc lông đuôi của nó. Nhưng lạ thay, trước con mắt kinh ngạc của cả nhà, ông cụ cười khoái chí, bệnh từ đó không cánh mà bay. Theo lời cụ giảng giải thì: “Chim gáy thường chỉ có 12 lông đuôi. Mắt ta chỉ một lần được thấy con có 12 chiếc. Còn con này có những 17. Ta là cái gì, phúc phận ta ra sao mà dám mơ ước có được con chim này. Con không bắt được con chim trắng cho ta là phải”. Ngay giữa lúc đó thì “đột nhiên quãng đời làm quan trước kia bỗng trải ra trước mặt cụ”. Cụ vốn “đã bỏ lại đằng sau lưng”, “đi qua nó như đi trên sa mạc khô cằn đơn điệu chẳng có gì để mà nhớ”. Và chính từ khi bắt đầu ham mê chơi chim, đắm say tiếng hót của chim, cụ mới thấy là mình được sống một cách đích thực. Đó chính là cái “còn nhớ” và “đáng nhớ” trong cuộc đời dài lâu không ít ý nghĩa của đời cụ. Cụ không quên dặn con cháu: “Hạnh phúc ở đời như con chim trắng. Ai ai cũng muốn nắm bắt nó. Có người tay trắng, có người may ra được vài chiếc lông đuôi. Ta đã săn đuổi làm con chim hoảng sợ. Nhưng phúc phận của ta may sao còn giữ được 17 chiếc lông. Đừng tham lam. Các con nên nhớ con số 17 là chỉ số cùng cực phúc hạnh của một đời người”. Không có gì tuyệt đối cả! Lý tưởng thẩm mỹ cũng vậy. Nó ấp ủ trong ta, thôi thúc ta hướng tới những chân trời cao đẹp. Còn đạt tới mức hoàn thiện hoàn mỹ ư? Khó lắm! Hãy bằng lòng với tất cả những gì mình có sau những nỗ lực bền bỉ vượt bậc để vươn tới. Nghe chuyện cũ dường như quá tầm nhận thức của không ít người này, tôi chợt nhớ phản ứng tự nhiên của nhân vật Trần Thủ Độ. Ông ta không thể nào tin được: “Có ai lại ốm tương tư vì một con chim!”. Cũng phải thối! Trần Kồ buộc phải giải thích: “Chín người mười thích. Ai đam mê cái gì thì tương tư cái ấy. Sao đệ cứ muốn mọi người đều đam mê như nhau, đều tương tư cùng một thứ”. Sự khác biệt căn bản giữa hai người có lẽ nằm ở chỗ đó chăng!

Chỉ có điều, trong một thời gian dài, dễ chừng phải tới hai mươi năm kể từ loạn Quánh Bốc, tập Trường thiên trích quái tiếp theo của Trần Kồ, buồn thay, vẫn còn nằm ngẩn ngơ trong dự định chờ đợi nét bút lông Nôm tài hoa kia. Năm tháng chảy về đâu? – đôi lúc ông băn khoăn tự hỏi. Bao trăn trở thức dậy: “Thời gian tượt qua kẽ tay như dòng bụi không tiếng động. Con người bươn chạy theo những sự việc hàng ngày tưởng như cần thiết”. Trong khi trên thực tế “ngọn bút không chọc vào mạch sống xốn xao của hoài vọng và càng ngày càng ngẩn ngơ trong nỗi hối tiếc mỏi mòn”. Tại sao ư? “Phải chăng vì ngẫu nhiên mình đã quá tận tuỵ với tình bằng hữu của Tự Khánh?” để chạy theo những đòi hỏi mang tính nhất thời của chính sự. Tiếng nói biện hộ tự sâu thẳm bên trong kịp cất lên: “Không, không phải thế!”. Cứ như có một con người khác trong ông lên tiếng phản bác vậy. Có điều, cuối cùng Trần Kồ cũng phải thú nhận: “Cái này ràng buộc cái kia”. Một câu hỏi như lời tự thú đột nhiên xuất hiện như một tất yếu: “Tôi có được tự do đâu?”. Lời của Trần Thị Dung được nhắc lại đúng lúc có giá trị như một sự cứu rỗi: “Phải tự do ngay với tự do của mình” (tr.631). Câu nói như một châm ngôn sống động có sức giải phóng thật lớn lao.

Tuy nhiên, tự sâu xa trong bản chất, dù ít dù nhiều, Trần Kồ vẫn khác biệt với Trần Thị Dung. Ông cậu Tô Trung Từ nói với bà Dung khi Thái tử nhà Trần có ý định cầu hôn thế này: “Cháu cần hiểu rằng Thái tử cưới cháu không như cưới một người thường… Vì vậy từ trang điểm ăn mặc đến đi đứng nói năng cháu phải tỏ ra khác người”. Câu giải thích liền sau đó như nói với chúng ta tất cả: “Điều này quan hệ đến tương lai của cháu và của dòng họ”. Rồi nàng thành thật bộc bạch với An Ly: “Như vậy chị không còn là chị nữa. Chị phải ưỡn ẹo lượn lờ màu mè đóng vai tiên nữ như một con hát cửa đình. Trời ơi! Sao nhục nhã đến thế này”. Có thể đó là tâm trạng thật. Nhưng phần chắc chỉ là tâm trạng nhất thời: “Là nàng tiên, chị phải sắm vai nàng tiên để xứng đôi với ông hoàng tử thiên thần” (tr.613). Đối với bà, khi chiếc đu nhao về phía nào thì ở đó chính là lẽ phải. Vậy khi lấy Hoàng tử Sảm đâu phải là trái mà lúc cưới Trần Thủ Độ cũng nào phải là sai. “Bà không buộc mình vào cột buồm của bất cứ tín điều nào”. Nhưng đâu phải bà đã được hoàn toàn giải thoát để có tự do đích thực! Suy cho cùng, bà chỉ biết để con người tự do của mình lên tiếng tùy nơi tùy lúc và cho phép nó toàn quyền phán quyết xem đâu là phải, đâu là trái. Bà tuyệt đối không bao giờ để cái lẽ phải nhất thời bé mọn như “móng tay” ấy biến thành “lẽ phải của toàn thân” (tr.614). Chẳng phải ngẫu nhiên mà trong vụ Cửu Liên, Trần Thị Dung sau khi sinh công chúa Thuận Thiên liền được sắc phong hoàng hậu. Ông cả Trần Thừa được vua Huệ Tôn cho giữ chức Nội thị phán phủ, ông Hai Trần Tự Khánh được mời làm Thái úy phụ chánh, còn Trần Thủ Độ được giao chức Phó Điện tiền. Hình như nhà văn Hoàng Yến đã đúng khi viết: “Bước chân lịch sử bao giờ cũng chấp chưởng, xiêu vẹo, như bước chân một cô gái đỏng đảnh say men” (tr.591). Hơn thế nữa, Trần Cảnh con Trần Thừa sau này đã lấy cháu mình là Lý Chiêu Hoàng rồi lên làm vua trong tấn kịch “nhường ngôi” phải nói là khá kệch cỡm. Rồi, điều này mới vượt xa trí tưởng tượng của không ít người, khi Huệ Tôn chết, hoàng hậu Trần Thị Dung bị giáng xuống làm công chúa Thiên Cực trước con mắt sửng sốt của bách quan. Để rồi chỉ mấy ngày sau, công chúa được nhà vua đem gả cho Thái sư Trần Thủ Độ. Khi ấy mới vỡ ra mọi chuyện. Lòng người thật khôn lường. Bà nói với An Ly lúc đã quá tuổi 30 rằng: “Trước kia vì họ Trần mà anh Độ với chị phải xa nhau, nay cũng vì họ Trần mà lấy nhau”. Không thật thuyết phục lắm đâu. Chân lý chưa khi nào lại nảy sinh  một cách tuỳ tiện như vậy cả. Cũng chẳng thuyết phục gì hơn khi bà bảo: “Chị đổi cả triều đình để được sự có mặt của anh Kồ trong buổi lễ hôm nay” (tr.616). Nghe cứ giả giả nơi đầu mối chót miệng thế nào ấy!

Nhưng nhân vật đối trọng trực tiếp với Trần Kồ chắc không phải là Trần Thị Dung mà là Trần Thủ Độ. Hãy nhìn lại con đường làm quan của ông. Đầu tiên, ông chỉ là Tổng quản các đội thuyền buôn của Ấp Hải. Đáng nhớ nhất ở ông nằm trong đôi bàn tay, đúng với nghĩa của từ “Thủ” nơi chữ lót. Nó không theo nghĩa “tay” mà theo nghĩa “nắm” hoặc “giữ”. Đôi bàn tay gần như dị dạng “to bè, ngón ngắn củn, vuông vắn như tấm bánh chưng”. Người đời đồn rằng “đôi bàn tay thằng bé đã nắm chặt cứng lại khi còn trong bụng mẹ và lúc cu cậu lọt lòng ra người nhà không ai gỡ nổi”. Đôi bàn tay đó một khi đã nắm được vật gì thì trời có muốn gỡ cũng không chịu buông ra. Hai nhân vật, hai xu hướng “chẳng có điểm gì giống nhau” cả: “Một đằng tính khó đăm đăm lại dốt chữ, một đằng chữ nghĩa đầy mình mồm mép nhênh nhang”. Người ta kể, lúc Trần Thủ Độ đầy năm, nhà làm lễ tuổi tôi, bày ra đủ thứ dụng cụ để thằng bé chọn nghề. Đứa trẻ “gạt phăng bút nghiên sang một bên”, “mắt chăm chăm nhìn về một phía” để “cuối cùng cu cậu đưa tay với cái bay thợ nề”. Khi lớn lên cậu rất chểnh mảng chuyện học hành, cắp sách bữa đực bữa cái, “có mắng lắm mới nhét được dăm ba chữ vào bụng”. Do vậy, Trần Thủ Độ sau này rất ghét bọn nho sỹ mà ông ta gọi họ là “những con công múa chữ”. Mới gặp, do mặc cảm về học vấn nên Trần Thủ Độ tỏ ra khá lạnh nhạt với Trần Kồ. Nhưng hai người nhanh chóng gặp nhau ở tính thẳng thắn bộc trực gần như bẩm sinh. Nói như tác giả: “Hai người như lật ngửa hai bàn tay soi mặt vào nhau để nhận ra nhau”. Trần Thủ Độ dần dần nhận ra Trần Kồ là “một con người khí phách chứ không phải nói phách”. Đặc biệt, con người ít học này nhận thấy ở ông cái sức “sức quyến rũ” bao la “như biển khơi”. Chẳng thế mà Trần Thủ Độ có thể ngồi nghe ông nói hàng giờ liền, chăm chú đến nỗi mặt như “treo lên miệng người kể”, “thả tâm trí chu du trong thế giới lạ lẫm của sách vở cũng bao la đa dạng như biển cả”. Tuy thế, Trần Thủ Độ là mẫu người nếu có “đọc thiên kinh vạn quyển” thì vẫn chỉ là một “kẻ vô học”. Những người này “khư khư giữ sự hiểu biết cứng nhắc của mình như hòn đá tảng đeo chân”. Bởi, sự học đích thực, theo nhà văn Hoàng Yến, “là phải ý hội và vận dụng” (tr.498). Thậm chí, nếu so sánh với một người tưởng chỉ là kẻ võ biền như Nguyễn Nộn thì Trần Thủ Độ cũng nhiều phần khác. Chẳng phải Nguyễn Nộn từng yêu thích giống khướu bạc má vỡ giọng nhờ vẻ bách thanh của nó đó sao? “Nó hót rời từng tiếng. Không tiếng nào giống tiếng nào. Trong giọng nó có đủ giọng” (tr.600). Trong hoàn cảnh đặc biệt hữu duyên hữu số ấy, giữa Trần Kồ và Trần Thủ Độ hình thành nên một mối tình huynh đệ. Nhưng chẳng ai quên bản tính của họ khác nhau một trời một vực. Như sự thổ lộ thẳng thắn của Trần Kồ: “Huynh là kẻ sỹ dù là danh sỹ cũng là cái thá gì trong một xứ chỉ thích làm quan” (tr.496). Có chút dư vị ngậm ngùi nhưng khó lòng phản bác cho nổi.

Ý đồ nghệ thuật của Hoàng Yến thêm một lần thuyết phục bởi cái nhìn không hề giản đơn một chiều của một nhà viết tiểu thuyết hiện đại bậc thầy. Nhân vật Trần Tự Khánh đem lại sự dung hoà ấy. Có thể nói, ông là mẫu hình chính khách mà người nghệ sỹ chân chính mọi thời mọi nơi từng ao ước. Hai Khánh là người “duy nhất không xa lạ với lối viết” của Trần Kồ trong tác phẩm Trường thiên trích quái. Bởi giữa họ có một mối đồng cảm thật lớn lao: “Chàng Hai ước mơ đem cái ánh vàng của lúa chín mạ lên cảnh nghèo khổ của dân. Còn Trần Kồ muốn gieo rắc những hạt bụi vàng của văn thơ lên chiếc xích tháng năm xám xịt của cuộc đời” (tr.434). Với người nghệ sỹ này thì “viết không có chấm câu, chấm câu tự người đọc tìm lấy”. Đáng nói nhất là “viết không trò tiểu xảo, không bàn tay thợ khéo, không lạc vào hoa hòe hoa sói”. Cao hơn nữa, “viết là trải một chân mây bát ngát, bên kia mọi nghĩa, bên kia mọi trời”. Người đọc không quên đoạn văn lột tả tư chất văn chương hiếm hoi tiềm ẩn nơi Trần Kồ: “Coi khinh mọi khuôn phép văn chương cung đình, Trần Kồ hiểu sâu sắc rằng những nghĩa đẹp ý hay là những con chim không gian. Đem nhốt chúng vào lồng chữ nghĩa, dẫu có xòe hết cánh cũng không sao cất mình bay cao được. Phải phá cách, phá nghĩa. Phải biết đánh giá và tận dụng cái ma lực của tượng thanh trong tiếng nói, cái bè đệm nhạc tính của từ ngữ và nhất là ma lực của các khoảng trắng trên trang giấy, những khoảng trắng giữa hai chữ, hai dòng chữ, những khoảng trắng lặng biết diễn cảm, biết bật nói, bật khóc, bật cười, như qua một móng tay thấy cả một cánh tay thậm chí cả một con người, như trong một sợi tóc dài có cả một mùa đông”. Những trang văn nồng nàn và bay bổng nói với ta về những phẩm chất của thứ văn chương đích thực có cơ hội trở thành “cảo thơm” lưu danh muôn thuở. Ông Hai cẩn trọng giữ gìn các tập sách ấy như bảo tồn hương thơm của văn thơ và tình người là vì thế. Ông không chỉ đồng cảm chia sẻ mà trong thực tế còn trở thành điểm tựa tinh thần vững chắc cho Trần Kồ khi bất ngờ gặp phải những cơn giông gió trong cuộc đời cũng như trong văn chương. Mỗi khi Trần Kồ “cảm thấy toàn thân bức bối như cảnh con chim trời sa bẫy”, “linh hồn chàng như gào lên đòi thoát ra khỏi những sợi giây ràng buộc vô hình” thì “ánh nhìn tin yêu ấm áp của chàng Hai” có sức mạnh “xóa tan ngay” những cảm giác khó chịu ấy.

Giữa hai người thật sự nảy nở mối cảm thông bởi thứ lương duyên vô cùng đặc biệt. Và cũng thật hiếm có. Trần Cồ biết Phật của Trần Tự Khánh “không ở trong tiếng mõ hồi chuông, câu kinh lời kệ” mà “nằm sâu trong chất người của chàng” (tr.575). Khi đảm đương trọng trách Thái uý, mối lo chính của ông là ở sự chăm chú vun đắp cho thật bền thật chắc cái “gốc rễ” sâu xa. Nằm ở đâu vậy? “Khánh nghiệm thấy ông vua nào lên cũng nói lòng dân ý dân là cái gốc của đạo trị nước… Nhưng chỉ nên coi đó là lời hoa mỹ trong một phút người của một ông vua. Những lời ấy vua không nên nói trước dân chúng mà tốt hơn nên bộc bạch trước bàn thờ Phật. Vì lời nói và việc làm của kẻ trị vì thường không đi đôi. Họ có thói quen nhắm mắt lại khi nói và mở to mắt khi làm”. Nghĩ vậy nên Trần Tự Khánh chú tâm làm nhiều mà nói ít. Sự nghiệp trong lòng dân sẽ nói lên tất cả về người trị nước. Như lời  khuyên của bố ông: “Con phải đem cái phúc của một tộc họ ra ngoài thiên hạ. Muốn thế cần phải tích trữ lương thực bố thí lòng nhân”. “Lương thực” ở đây cố nhiên không chỉ là của cải vật chất mà cao hơn là “cái vết tích tinh thần, cái công đức của con người để lại cho đời” (tr.579). Vậy với 7 năm cầm cương chính sự, ông đã “tích trữ” được những gì? Đêm đêm, qua những tờ biểu tấu, những đơn kiện tụng, những cáo trạng, những sớ kêu oan, ông “nghe tiếng rên xiết của dân lành như dội vào ngực”. Nào ông đã làm được bao nhiêu đâu theo ý nguyện của mình và của các bậc tiền bối. Vì vậy, ông thường tỏ ra “ngao ngán thở dài” và “”cảm thấy như mình đang cố vớt một mảng trời xanh trên mặt nước sông buồn” (tr.580). Trong giờ phút hấp hối, nổi lên trong lời di huấn của ông là: “Lấy lễ lớn mà đãi, lấy thưởng hậu mà dụ”. Ai có thể nghĩ, nhất là có thể làm được theo lời ông đây? Một thoáng hoài nghi trong đôi mắt của người sắp ra đi. Nên ông cố thu tàn lực để nói đôi lời cuối cùng rồi rơi vào vực thẳm hôn mê. Mọi người gắng căng tai để nghe cũng chỉ nhận biết được những tiếng thì thào đứt quãng: “Tránh đổ máu”. Không ngạc nhiên nếu cái chết của Trần Tự Khánh có lúc đã khiến cho Trần Kồ “như mất phương hướng”. Bởi, dẫu sao “chàng đang tìm, chàng muốn biết”. Nhưng biết gì đây? “Chính chàng cũng chưa rõ”. Trong mâu thuẫn rối vò: “Mà xưa nay có ai sung sướng vì biết bao giờ. Biết lắm khổ nhiều, thêm lo nhiều”. Tự nhiên, chàng quyết định “đi lại giữa ánh sáng” vây quanh. “Nhưng ánh sáng không giúp chàng soi sáng cái điều còn mù mờ trong đầu óc. Cuối cùng chàng hiểu ra rằng chàng đang cố gắng một cách vô ích xé toạc phong thư niêm kín của thời gian để biết những gì xảy ra trong mai hậu” (tr.587). Mấy ai thoả nguyện được như ông!?

Viết đoạn kết của cuốn tiểu thuyết, Hoàng Yến hầu như huy động tất cả bút lực tiềm ẩn để chuẩn bị cho một cuộc gặp gỡ mà đúng hơn là một cuộc đụng độ quyết liệt sau cùng giữa Trần Kồ và Trần Thủ Độ. Đoạn văn đầy chủ ý được viết kỹ lưỡng tới từng câu từ, từng chi tiết vì vậy được nâng lên một tầm cao chưa từng có về mặt ý tưởng cũng như về mặt lịch sử. Đặc biệt rất giàu kịch tính. Có thể nói, văn chương ta xưa nay chưa từng có một cuộc xung khắc nào kín kẽ mà lại gay cấn, quyết liệt trong vẻ âm thầm, lặng lẽ một cách tự nhiên đến thế. Vào cuộc, một ý nghĩ chợt đến trong trí não có chiều xao xuyến của Trần Kồ: “Nhà! Chàng làm gì có nhà”. Bởi: “Nhà nào chứa đựng được khát vọng chân mây của chàng?” Cố nhiên, nên hiểu khái niệm “nhà” ở đây theo nghĩa rộng. Trong khi chờ đợi Trần Kồ, dòng suy tưởng thư thái chảy đều đều trong đầu óc như hoàn toàn thoả mãn của Thái sư Trần Thủ Độ: “Ngồi lặng im ngắm nghía niềm hoan hỉ của mình. Cuộc sống của ông thanh đạm không tham phú quý, không nghiện rượu chè trầu thuốc. Có lẽ cái thú độc nhất trong đời ông là được ngồi một mình nhấm nháp lại những thành quả của ông trên đường chính sự. Trong ông mọi ham muốn của bản thân đều kiềm chế được, duy cái thói đam mê quyền lực là ông thả nổi cho nó mặc sức vẫy vùng, vô thức như làn khói trầm cuộn khúc bay cao, lên cao, cao mãi” (tr.637). “Cái thói đam mê quyền lực” hầu như tuyệt đối và vô tận ấy ẩn chứa vô vàn tai hoạ. Cho mình và cho người. Nó mãi mãi là bài học cảnh tỉnh cho mọi loại chính khách nhỏ to, xưa cũng như nay…

Mở đầu, hai người nhắc tới cái chết của Nguyễn Nộn với hai chiều suy nghĩ khác nhau. Xung đột bên trong bắt đầu khơi nguồn từ đó. Trần Kồ đâu cho là “công lao” như cách nhìn nhận của Thái sư: “Tiểu huynh chỉ biết làm tròn lời hứa với người đã khuất”. Hoàn toàn được hiểu theo ý nghĩa đạo lý. Nên lưu tâm tới cách xưng hô: vẫn là “huynh” nhưng giờ tỏ ra khiêm nhường hơn là “tiểu huynh”. Trong con mắt ông, Trần Thủ Độ “ngưng lại một vẻ thờ ơ xa vắng”. Câu hỏi đầu tiên của ông vang lên như hướng thẳng tới người đối thoại nhưng với một vẻ “mệt mỏi” hiếm thấy: “Huynh cứ tưởng khi con người đã biết trồng trọt chăn nuôi thì phải nghĩ nhiều đến vun trồng nuôi dưỡng. Sao lại cứ phải giết nhau?”. Ông không ngờ mình nhận lại một lời đáp lạnh lùng đến thế: “Vì mình không giết nó, nó sẽ giết mình”. Lý lẽ thẳng thớm, không hề vòng vo, úp mở đến mức nghiệt ngã. Phải chăng đây là lối ứng xử điển hình cho chính giới? Những đoạn đối thoại sau đó được tác giá có ý thức nâng lên tầm mức khác, cao hơn nhiều. Hỏi: “Thế đến bao giờ con người mới khỏi phải giết nhau?” (Câu hỏi thấm đẫm tinh thần nhân bản mà văn chương, nghệ thuật chân chính đời nào và ở đâu cũng luôn đề cao). Đáp: “Khi trên mặt đất không còn con người nữa”. Ôi! Đến thế thì vô tình mà sát ván quá! Biết là xung đột có thể bùng lên dữ dội nên Thái sư chủ động dò hỏi: “Nhưng tại sao huynh lại hỏi đệ điều ấy?”. Đáp: “Vì huynh không hiểu tại sao Thái sư phải giết Lý Huệ Tôn”. Một sự thật gắn với một tội ác rất khó biện minh. Với thói quen bao biện thường thấy, Thái sư cho rằng nguyên nhân của lưỡi gươm vung lên là vì sự tồn vong của cả vương triều, ở chỗ: “Họ Lý đâu chịu nằm dưới yên”. Và không chỉ có thế: “Thà đổ máu một ông vua còn hơn sau này đổ máu bách tính”. Sự biện bạch có nguy cơ đẩy xa hơn, nhưng càng chủ động đẩy xa thì càng có nguy cơ lầm lẫn hồ đồ. Trần Kồ cương quyết không cho là vậy: “Nhưng đây là dòng vua đã xuống ngựa, một ông vua đã ở dưới yên. Ai lại đi giết một kẻ đã ở dưới yên?” Lý lẽ sắc như dao. Hơn thế: “Máu của vị vua là máu của lịch sử, không thể đem ví với máu của bách tính được”. Ông chủ động nắm thắt lưng đối thủ để tiến công. Liên tiếp tấn công. Rồi ông đưa ra lời khẳng quyết chắc như dao chém đá: “Đó là một tội ác”. Như một lời tuyên cáo. Trước lương tri. Và đâu chỉ có vậy, đúng hơn là trước lịch sử. Không thể biện hộ. Không một ai có thể biện hộ. Bị đẩy vào thế yếu, thế bí, Thái sư vẫn cố biện minh: “Đệ nghĩ, đệ làm một cái ác nhỏ để đưa lại một cái thiện lớn cho thiên hạ”. Rất cố chấp. Và lỳ lợm. Nhưng điểm cốt lõi nắm ở chỗ có cần thiết thực thi cái ác như thế không? Trần Kồ trước sau cho rằng đây là “một cái ác không cần thiết’. Thậm chí “chẳng ích lợi gì cho ai cả”. Trừ phi “có ích cho ông và nàng Dung”.

Ván bài đến đây đã được Trần Kồ thẳng thừng lật ngửa ra trong nỗi lo ngại có thật vì ông cố ghìm lời nói trên môi mà không được. Ấy là lúc ông chợt nhìn thấy đôi bàn tay to bè của Trần Thủ Độ “xoè ra như nải chuối mắn rồi nắm lại như nắm chắc từng tiếng nói buông ra rành rọt: Đệ là người làm chính sự đệ phải phòng xa lo giệt trừ hậu hoạ”. Có cảm giác đỉnh điểm của cuộc xung đột đã tới. Trần Kồ cười to, đắc thắng bằng việc vạch trần cái đích đến của những kẻ chỉ quen với mưu mô của kẻ làm chính sự: “Thái sư muốn cạo trọc đầu để khỏi mất công gội tóc. Đó là cách làm giản tiện nhất”. Chỉ có điều ông không nói hết thâm ý “đồng thời hèn nhát nhất” mà thôi! Ai rồi cũng sẽ nghĩ như Trần Kồ: “Mai sau lịch sử sẽ lên án”. Và câu nói chắc sẽ đi vào lịch sử đột nhiên cất lên từ chính miệng viên Thái sư: “Đệ chỉ biết làm cái việc đệ thấy phải với mình, còn lịch sử là thằng nào mà dám bình phẩm phải trái”. Tôi vừa dùng từ “đột nhiên”. Nhưng nếu đặt trong tương quan toàn cảnh thì phải nói là “tất yếu”. Chỉ có điều nó quá thô thiển, không, phải nói là thô bạo quá. Câu nói ấy sẽ còn vang lên từ mọi phía, cả bên này lẫn bên kia với những dụng tâm khác nhau, nhưng đều nổi bật bởi tính điển hình hiếm có trong mỗi cảnh huống. Chẳng thế mà trong đầu Trần Kồ chợt vang lên ý nghĩ sau về đối thủ: “Đây mới chính là thiên tử”, nhưng chỉ là “một vị thiên tử không có mũ bình thiên”. Thế nhưng, như bản tính vốn có, sự kinh bạc cố hữu trong ông như không kìm giữ nổi đã trỗi dậy khiến ông “cười ròn rã”, vì “ngu huynh đang nghĩ… không biết bao giờ Thái sư lấy đầu kẻ sỹ này”. Một ý vị chua chát thấm sâu tới từng lời. Vậy nên, đến lúc này, việc Trần Kồ nhận lời ra làm quan cho triều đại mới chỉ còn là một dự tính xa vời. Không lạ nếu Trần Thủ Độ “ngẩn ngơ nhìn một cách bất lực con người không ham muốn gì hết ngoài tự do của mình”. Ông ta vừa bực bội vừa khâm phục khi buông ra một nhận xét, đúng hơn là một lời than thở: “Giữa huynh với đệ chẳng khác gì giữa âm với dương”. Thế nhưng, chính giữa lúc này lại vang lên lời nhắc nhở chứa nhiều hàm ý của Trần Kồ: “Thái sư thấy giữa âm dương có bao giờ triệt hạ sạch nhau không?”. Một triết lý phương Đông đã và mãi tồn tại. Giữa vũ trụ bao la. Và trong xã hội bất tận. Kết thúc cuộc đối thoại là cảnh kiệu bà Dung trở về, với câu nói dứt khoát, đầy quyền uy: “Ông ấy mà giết huynh em sẽ không để ông ấy sống yên đâu!”. Đó cũng chính là động lực thực tế để Trần Kồ bộc lộ ước muốn về quyền hạn của mình – “Quyền được cãi lại Thái sư khi thấy sai”. Trần Thủ Độ chỉ còn biết gật đầu chấp thuận dầu có phần khiên cưỡng: “Nay huynh muốn đi ngao du, đệ không ngăn cản. Chỉ mong huynh thấy ở đâu còn có gì oan ức bất bình, huynh cho đệ biết. Họ Trần muốn có được sự công minh” (tr.644). Giọng điệu nhiều phần đãi bôi như đã và từng thấy xưa nay trong những hoàn cảnh tương tự…

Gập cuốn tiểu thuyết lại, ý nghĩ của Trần Kồ về sự bất tử của tháp Báo Thiên cứ như ám ảnh mãi tâm trí của những người đọc tinh hoa: “Liệu nó còn đứng mãi được trong muôn đời sau không? Ai lường được cuộc đời dâu bể, ai biết được những kiếp nạn đao binh của một dân tộc… Nhưng cho dù mỗi viên gạch in bốn chữ Long Thụy Thái Bình của nó tan vụn không còn một nét chữ, dù cây tháp đổ nát trở thành tro bụi trên nền tháp hoang tàn, vẫn còn một cái gì đấy, vẫn lưu lại một cái gì đấy bất diệt bất biến”. Đó chính là hình ảnh bóng tháp như “cái cổng lên nhà Trời”. Hay nói chính xác hơn đó là “cái chí khí mở cổng Trời, cái ý chí chọc một lỗ thủng mở-chân-mây cho trời Đại Việt. Dù mai sau có biến đổi, cái ấy vẫn còn nguyên không bao giờ bị hủy diệt” (tr.343).

Với ý nghĩa ấy, nên chăng có thể xem cuốn tiểu thuyết Chân mây khép mở đích thực là một tuyên ngôn nghệ thuật giàu minh triết mà đầy quả cảm của nhà văn Hoàng Yến?

Đà Lạt, Xuân Quý Tỵ

PQT.

…………………

* Hoàng Yến – Tuyển tập (Tập II), Nxb Hội Nhà văn – Hà Nội, 2007. Tất cả những đoạn trích trong bài viết đều rút ra từ bộ sách này.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 333 other followers