NGUYỄN KHẮC THẠCH, BÚT DANH ỨNG VỚI CUỘC ĐỜI


NGÔ MINH

Nhà thơ Nguyễn Khắc Thạch
Nhà thơ Nguyễn Khắc Thạch

Bên dòng sông Hương dùng dằng biếng chảy như nỗi đời trăm năm ngưng đọng có một nhà thơ đếm bước bộ hành, trầm tư nghĩ ngợi. Con người có vóc dáng cao lớn như vận động viên, lại cứ muốn thu mình lại ấy là nhà thơ Nguyễn Khắc Thạch, người đã làm ra thứ thơ nhói buốt lòng người: “Mùa thu ơi/ Ta nhớ đến cằn khô đáy mắt/ Mùa thu còn trở lại/ Năm tháng đời người thì mãi mãi ra đi…/ Ta ngồi dại hóa đôi khi/ Thèm đau lần nữa những gì đã đau…“. Ấy là thơ để mà ngẫm, để mà “ngộ”.

Thạch tâm sự: “Cuộc đời vốn có cái cười và cái khóc. Người ta ai cũng có thể cười theo kiểu cười của kẻ khác, còn khóc thì phải khóc bằng nước mắt của chính mình”. Nên với Thạch, thơ là âm bản của nước mắt. Đi đến tận cùng của nỗi buồn, Thạch đã gặp những bài thơ đích thực của mình.

Và những bài thơ nước mắt ấy đã được hàng chục nhạc sĩ đồng cảm, phổ nhạc như Phú Quang, Ngọc Đại, Hà Sâm, Trần Hữu Pháp, Ngọc Ban, Huy Chu, Phú Ân, Huy Tập, Đồng Tâm… Riêng nhạc sĩ Ngọc Đại đã phổ nhạc hơn hai chục bài thơ Nguyễn Khắc Thạch trong tập thơ “Dòng sông một bờ”.

Như mọi người, Nguyễn Khắc Thạch cũng có một ngôi làng nơi chốn rau cắn rốn. Đó là làng Diệu, xã Phúc Thành, Yên Thành, Nghệ An. Nhưng số phận run rủi đã không hề chiều anh. Thạch mồ côi cha từ khi còn nằm trong bụng mẹ. Rồi mẹ phải đi bước nữa, làm vợ lẽ trong một gia đình con cái chung riêng nhếch nhác. Bị phân biệt đối xử, bị hắt hủi, đi ở thuê, làm mướn tủi nhục, Thạch từ giã mẹ về lại làng Diệu ở một mình.

Năm 15 tuổi, anh phải lên ở với người chị họ ở làng Sẻ, Nghĩa Đồng, miền Trung du Tân Kỳ cách làng hơn 60 cây số kiếm sống. Anh đi làm trăm thứ công việc nặng nhọc như vào rừng đốn gỗ, gánh đất, cày ruộng, be bờ, đắp đập, đốt than, gặt lúa…, lại có thời gian làm nghề rèn suốt ngày đe búa. Tôi tha hương thâm áo mũ thôn Kiều/ phía lời chào không cao như mâm cỗ/ phía con người bắt tay trong mặc cả…

Cố hương trong anh chỉ còn là hình bóng mẹ già gầy gò, khắc khổ vì phải nhiều lần chồng con, sinh nở, mà lâu lâu anh mới được về thăm. Mẹ cũng phải lang bạt nhiều nơi như Đắk Lắk, Lâm Đồng, Quảng Bình, Quảng Trị…. theo con cháu, cho đến khi mẹ thành nấm đất cuối đồi sim mua.

Nguyễn Khắc Thạch được trời cho một sức khỏe hơn người. Ở làng Sẻ, Tân Kỳ, anh cày ruộng, đào đất suốt ngày không biết mệt, gánh lúa, gánh phân bảy tám chục cân chạy băng băng trên đồng, làm nhiều bạn gái nhìn theo tán thưởng. Những năm tuổi 20 ở Đồng Hới, Quảng Bình, có lần trước bạn bè cơ quan, Thạch đã một mình vác chiếc máy bơm Trần Hưng Đạo nặng hàng tạ đi từ cái ao lên đồi hơn cây số.

Thuở nhỏ, Thạch luôn đến nhà  ông giáo Nguyễn Sĩ Ngọ ở làng Sẻ để đọc sách và học nhạc. Nhà ông giáo có một tủ sách ngàn cuốn. Ông giáo là người  giỏi nhạc. Thế là lúc học cấp 3, Nguyễn Khắc Thạch đã biết chơi violon, đàn bầu, đàn nhị…

Thạch học nhạc giỏi, nên khi ra học Trường Kinh tế kế hoạch ở Hà Tây, Thạch đã dẫn một đoàn văn nghệ của trường đi dự liên hoan nghệ thuật các trường chuyên nghiệp miền Bắc. Khi đến cuộc liên hoan, Thạch thấy người ta chơi violon siêu quá, anh bèn tự làm đứt dây đàn để hủy tiết mục của mình. Đó là biểu hiện đầu tiên của lòng tự trọng.

Tốt nghiệp Trường Kinh tế kế hoạch ra, làm việc ở Uỷ ban Kế hoạch tỉnh là một công việc danh giá được nhà nước bảo lãnh suốt đời, nhưng Thạch lại cảm thấy đó không phải là chỗ đứng của mình. Dù đã có vợ con, nhưng Thạch vẫn quyết liệt đi tìm bản thể của mình ở phía trước.

Chị Bích Thủy, vợ nhà thơ bây giờ, thời trẻ là một cô văn công bộ đội Biên phòng xinh đẹp, vận động viên bơi lội và rất mê hát. Nguyễn Khắc Thạch đã tặng người yêu những ca khúc đầu tiên của mình. Chị hiểu chồng, chiều chồng, chung thủy sắt son, tần tảo nuôi hai đứa con khôn lớn, nuôi chồng đi học Trường Viết văn Nguyễn Du. Chị đã chịu nhiều hy sinh cho việc đam mê thi ca của chồng.

Thời ở Đồng Hới, Thạch kết bạn với toàn những người sáng tác thơ ca, âm nhạc như Dương Mạnh Đạt, Hoàng Vũ Thuật, Trần Nhật Thu, Lâm Thị Mỹ Dạ… Lúc đó Thạch đã sáng tác nhiều bản nhạc, nhưng anh không dám công bố với ai.

Năm 1976, đang làm cán bộ kế hoạch “hét ra lửa”, Thạch lại lặng lẽ xin sang Trường Quốc gia âm nhạc Huế làm “tạp vụ”, cốt để học và sáng tác nhạc. Chưa nóng chỗ, anh lại xin qua NXB Thuận Hóa làm chân biên tập để được đọc nhiều thơ văn hơn, mặc dù ở đó “đói hơn”. Nhờ đó mà anh dần có vốn liếng văn chương.

Cuối cùng, đến tuổi “tri thiên mệnh”, Thạch mới chịu đứng chân lâu dài với Tạp chí Sông Hương, trở thành vị Tổng biên tập thứ 6 của tạp chí này. Qua những chuyến “di cư” lặng thầm đó, chặng cuối của cuộc hành trình tìm kiếm, Thạch đã tìm ra cái của mình: Đó Là THƠ!

Không biết có phải vì tên là Thạch mà anh rất lì và quá kiệm lời. Thơ Thạch cũng kiệm lời đến cô đặc. Thơ với Nguyễn Khắc Thạch là một cuộc tìm kiếm gian lao, sự vật lộn bền bỉ. Đối với Thạch, mỗi bài thơ là một cuộc đào bới, lặn tìm chữ. Có rất nhiều nhà thơ cứ ngồi trước trang giấy là thơ tuôn chảy từng câu từng câu.

Thạch lại khác. Cái bút danh của anh như ứng với đời anh. Anh làm thơ như người “làm nghề khắc đá”, cứ đục đẽo tạo dáng từng con chữ, mồ hôi mồ kê khó nhọc.

Tôi đã nhiều lần được  mục kích bản nháp thơ của Thạch. Ngoài Thạch ra không ai đọc được. Cả trang giấy gạch xóa, móc nối, sửa chữa nhem nhuốc. Gạch xóa đến rách cả giấy vẫn chưa tìm thấy chữ ưng ý. Đúng là lao động thơ. Vất vả mất cả tuần, cả tháng để có được một bài thơ mấy câu. Có lẽ vì thế, phải đến 40 tuổi (năm 1988) Thạch mới có tập thơ đầu tay mỏng mảnh “Dòng sông một bờ”, in lụa 300 cuốn tặng bạn bè. 6 năm sau, tập thơ “Nơi ta sẽ về”; 9 năm sau, tập thơ “Mưa hai mặt” mới ra đời.

Bây giờ đã lục tuần, về hưu, Thạch cũng chỉ mới có ba tập thơ. Mà tập nào cũng chỉ trên dưới ba chục bài, in với số lượng rất ít ỏi. Đến nay đã 7 năm rồi, Nguyễn Khắc Thạch vẫn chưa dám in tập thơ thứ tư của mình. Nhiều nhà thơ, nhà phê bình như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Trọng Tạo, Võ Văn Trực, Hồ Thế Hà, Hoàng Ngọc Hiến, Thái Doãn Hiểu… đã liên tục có những bài viết về thơ Nguyễn Khắc Thạch.

Nói như nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, thơ Thạch là những nhịp thơ “đá vỡ”, đó là những câu thơ khắc tạc vào đá. Ví dụ như bài thơ có tên là “Thiền”, chỉ có 5 câu và 15 chữ: Bên thềm hoang/ Thiếu phụ/ Thoát y nằm/ Ngọn nến cháy/ Sau vầng trăng khuyết. Thơ ấy đọc lên nghe nổi da gà như thơ Haiku Nhật Bản. Cô đọng, dồn nén để bật lên cái đẹp bất ngờ…

Nguyễn Khắc Thạch luôn băn khoăn trăn trở về số phận con người. Trong một bài thơ tặng Nguyễn Trọng Tạo, anh viết: “Thời tôi sống thương mình trơ cá gỗ/ nỏ tơi mang mà chẳng áo công hầu /đất của cỏ thì trời cao gác trọ/ sợ miếng mồi như cá sợ mắc câu …/ nhưng không dễ sống mà không biết/ sống mà nghi mình có phải là người…“.

Đó là nỗi đau sâu đậm của tâm linh. Nên, nhà thơ quyết liệt tách mình ra khỏi con lốc sân si về vật chất cuộc đời để nuôi dưỡng tâm thơ bằng ngồi Thiền, đọc sách Thiền, bằng ăn chay và đi bộ. Hiện nay mỗi ngày anh ngồi Thiền ba lần, mỗi lần hai tiếng đồng hồ. Từ gần hai năm nay, Thạch bắt đầu chuyển qua ăn trường chay và đi bộ. Không phải đi bộ thể dục mấy cây số buổi sáng để luyện gân cốt, chống béo phì, mà lấy đôi chân mình làm phương tiện di chuyển trên đường hàng ngày hẳn hoi.

Nghĩa là đi làm, đi họp, đi chơi, đi đám cưới, đám ma…, tất tật Thạch đều cuốc bộ. Hơn chục năm trước Thạch đã tập ăn chay mấy đợt dài. Bát cơm, cọng rau muống luộc chấm xì dầu, quả cà pháo, miếng đậu phụ… cũng ngon lành. Hình như mỗi khi có chuyện gì đó bức xúc, chấn động trong tâm, Thạch lại chuyện từ mặn sang chay.

Từ trai kỳ đến trường trai là một sự thoát, tức là chay đã thành nghiệp rồi. Ăn chay để hướng thiện và ăn chay vì con người đã ngộ ra mình trong đời sống tâm linh thăm thẳm. Nhưng ăn chay cũng  rắc rối cho mọi người lắm. Có cuộc tiệc người ta đã dọn sẵn món mặn. Khi Nguyễn Khắc Thạch  xuất hiện, nhà bếp lại đi làm mấy đĩa chay như đậu phụ rán, khoai tây chiên bưng lên. Lại phải chờ.

Có khi phải ra phố mua, vì trong bếp không sẵn nguyên liệu chay. Bởi sợ làm phiền mọi người, nên Thạch ít khi đi dự tiệc tùng bạn bè hay cơ quan mời. Năm ấy, Thạch phải vào bệnh viên mổ sỏi thận. Viên sỏi to bằng hạt mít. Mổ mất nhiều máu, thế là phải ăn mặn trở lại.

Chay tịnh và đi bộ như thế nên Thạch là người tự do quan sát, nghiền ngẫm được nhiều điều  phía sau những hiện thực cuộc sống xã hội, làm cho những câu thơ của anh mang sức nặng nhân văn, đầy đồng cảm và phản tỉnh: Ai đã thấy những gì cao hơn các tượng đài/ Những gì sâu hơn đáy cốc trên bàn tiệc/ Ai đã từng lấy ngực che Tổ quốc/ Còn ai đem Tổ quốc che thân.

Từ một thiếu niên mồ côi, cô đơn, phải sớm đi làm thuê ở mướn với đủ các nghề kiếm sống, Nguyễn Khắc Thạch đã đến với thơ một cách muộn mằn, thận trọng, đã tự khắc tạc chân dung mình vào lòng độc giả bằng những bài thơ triết, thiền sâu sắc.

Gần 7 năm làm Tổng biên tập tạp chí Sông Hương, Nguyễn Khắc Thạch cũng đã giữ vững chất lượng tạp chí như mọi người mong đợi. Để giữ được “thương hiệu” cho Sông Hương, Thạch đã phải trăn trở, tự nâng tầm tư tưởng, học vấn mình lên nhiều lắm…

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s