GS NGUYỄN ĐĂNG MẠNH: TRẠNG SƯ VÀ NHÀ PHÊ BÌNH


Nico-Paris

Nico-Paris

NTT: Trên nico-paris.com có loạt bài hỏi chuyện Gs Nguyễn Đăng Mạnh khá hấp dẫn. Xin phép giới thiệu cùng bạn đọc trang web này, bằng việc trích đăng một phần cuộc trò chuyện của Nico và Gs Mạnh.

Nico-paris.com: Năm 2012, nhà giáo nhân dân, giáo sư, nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh bước vào tuổi 83. Hơn 50 năm gắn bó với nghề dạy học và nghiên cứu-phê bình, ông đã từng là chủ biên của nhiều tập giáo trình đại học, nhiều bộ sách giáo khoa Ngữ văn, nhiều bài phê bình văn học sắc sảo và không ít công trình nghiên cứu công phu, có giá trị về các nhà văn Việt Nam hiện đại, đặc biệt là các nhà văn trong giai đoạn 1930-1975. Trên hành trình từ bục giảng đến văn đàn, ông đã để lại dấu ấn đáng nhớ trong tâm khảm của nhiều thế hệ học trò cũng như trong lòng độc giả.

Bạn đọc trong và ngoài nước đã có dịp làm quen với nhiều bài phê bình văn học đặc sắc của ông, nhưng những chuyện “bếp núc” xung quanh các bài phê bình ấy thì ông vẫn ủ kín trong lòng như những kỷ niệm khó quên.

Nico-paris.com hân hạnh được khai thác và trân trọng giới thiệu với bạn đọc những tâm sự của GS Nguyễn Đăng Mạnh qua những cuộc phỏng vấn xung quanh một số bài phê bình nổi tiếng của ông.

Đôi bạn: HNH và Nguyễn Đăng Mạnh, 18.11.2009

Đôi bạn: Nguyễn Đăng Mạnh (trái) và Hoàng Ngọc Hiến, 18.11.2009 – Ảnh Nguyễn Đình Toán

PHẦN III

Nico: Thưa GSmột trạng sư giỏi có thể bào chữa cho tội phạm trắng án. Liệu một nhà phê bình giỏi có biến một tác phẩm “tầm tầm” thành một tác phẩm xuất sắc trong con mắt người đọc được không ?

GS Nguyễn Đăng Mạnh: So sánh nhà phê bình văn học với ông trạng sư cãi trắng án cho phạm nhân, xét ở một số trường hợp nào đấy, cũng có lý.

Nhưng trước hết cần phân biệt hai loại trạng sư (trạng sư ngành tư pháp cũng như trạng sư văn học). Một là loại có tài và có tâm cãi trắng án cho những phạm nhân (hay nhà văn) bị gán cho những tội mà ông ta không hề mắc phải. Hai là loại trạng sư bất tài và bất lương, bênh vực cho những phạm nhân có tội thật (hay đề cao những cây bút, những tác phẩm tư tưởng thấp kém, nghệ thuật tầm thường đồng thời trù dập những tài năng chân chính).

Tôi xin lấy bản thân mình ra làm dẫn chứng. Tất nhiên tôi tự xếp mình vào loại “trạng sư” tử tế.

Dưới đây tôi xin lần lượt trình bày mấy vụ án văn học người ta đã đưa ra xét xử, và tôi là “trạng sư” cho bị cáo.

1. Vụ hạ thấp tầm cỡ nhà văn Nam Cao

Trong cuốn“Chân dung và đối thoại”[1], Trần Đăng Khoa đưa ra ý kiến đánh giá tài năng và tầm cỡ của nhà văn Nam Cao như sau: Anh so sánh nhà văn Việt Nam này với hai nhà văn nước ngoài: Sêkhốp (Nga) và Lỗ Tấn (Trung Quốc). Anh cho rằng, “xét về tài ông Nam Cao nhà mình cũng chẳng thua kém gì ông Sêkhốp và Lỗ Tấn”. Nhưng về “tầm cỡ” thì anh cho rằng “khoảng cách còn xa lắm”. “Sở dĩ có cái khoảng cách ấy, cũng vì ở chỗ, Lỗ Tấn và Sêkhốp quan tâm đến nỗi đau ở cõi tinh thần, còn Nam Cao lại phải để tâm trí nhiều đến cái bụng. Đọc ông ấy, trang nào cũng thấy đói. Mà văn học chỉ luẩn quẩn xung quanh miếng ăn, cũng khó mà lớn được”[2].

Ôi, như thế là Khoa hiểu Nam Cao rất hời hợt. Đã thế lại rất chủ quan, kiêu ngạo, nên phát biểu không chút dè dặt.

Nếu anh so sánh tầm cỡ ba nhà văn nọ căn cứ vào sự hơn kém nhau về khối lượng và sự phong phú của nội dung các tác phẩm thì còn nghe được. Nhưng nói, một bên quan tâm đến nỗi đau tinh thần, còn một bên chỉ nghĩ đến cái đói, cái bụng, thì quả là chẳng hiểu gì cả.

Mà nói cho hết nhẽ, ở hoàn cảnh một nước Việt Nam thuộc địa vô cùng khốn khổ ngày trước, năm nào cũng có hàng loạt người chết đói, nhất là cái trận đói khủng khiếp năm Ất Dậu (1945) khiến Nam Cao phải thốt lên trong truyện “Đôi mắt”: “Có lẽ đến năm 2000, con cháu chúng ta còn kể lại cho nhau nghe để rùng mình”, thì viết về cái đói, băn khoăn, đau đớn về nạn đói của nhân dân mình, đâu hẳn đã là thấp kém về tầm cỡ. Như cụ Ngô Tất Tố, tác phẩm nào cũng xoáy vào cái đói của người nông dân. Mỗi tác phẩm của cụ là một tiếng kêu khẩn thiết: Hãy cứu đói cho người nông dân! Hãy cứu đói cho người nông dân! Vậy có nên căn cứ vào đấy mà đánh giá tầm cỡ của cụ là thấp kém không?

Nhưng Nam Cao thì khác với Ngô Tất Tố. Ông đâu phải chỉ nói về cái đói, cái bụng. Ông nói về cái nhục, về vấn đề nhân phẩm, nhân tính của con người đấy chứ! Đọc văn phải biết phân biệt đề tài và tư tưởng của tác phẩm. Có nhiều trường hợp đề tài nhỏ mà tư tưởng rất lớn. Có đề tài nhiều nhà văn cùng viết, nhưng tư tưởng mỗi người thể hiện qua đề tài ấy lại rất khác nhau. Ở một đất nước nghèo đói như đất nước ta, cái đói và miếng ăn là đề tài rất ám ảnh của văn học hiện thực. Nhưng nếu Ngô Tất Tố xoáy sâu vào cái đói của người nông dân, thì Nam Cao luôn day dứt vẽ cái nhục của họ – “miếng ăn là miếng nhục”. Tư tưởng xuyên suốt các tác phẩm của Nam Cao là nỗi đau đớn trước tình trạng con người không giữ nổi nhân tính, nhân phẩm vì miếng ăn, vì cái đói. Trong nhiều bằng chứng, hãy lấy truyện “Một bữa no” làm ví dụ: Bà cái Tý, chuyên làm thuê làm mướn, đến lúc già yếu quá, không ai thuê mướn nữa. Nhịn đói mấy ngày không chịu được, bà cụ bèn nghĩ ra một kế: đến thăm đứa cháu đi ở cho một bà nhà giàu tên là Phó Thụ. Tuy là khách không mời, nhưng bà cụ cứ ở lì nhà người ta, vì chỉ cố đợi đến bữa, người ta dọn cơm ra là sà vào ăn, bất chấp sự đay nghiến, lườm nguýt của chủ nhà và sự xấu hổ của đứa cháu vốn vẫn quý trọng bà nó. Lúc ấy bà cụ không còn biết nhục là gì nữa. Đói lâu ngày lại ăn vội, ăn tham quá, bà cụ bị bội thực mà chết. Nhưng trước cái chết sinh vật ấy, bà cụ đã chết hẳn về tinh thần rồi – mà đấy mới thực là chủ đề của tác phẩm.

Nam Cao có một quan điểm nghệ thuật rất sâu sắc: “Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những gì chưa có” (Đời thừa).

Hãy vận dụng quan điểm ấy vào việc tìm hiểu truyện “Chí Phèo”. Ở truyện này, tác giả đã tìm ra được điều gì mới, đã sáng tạo ra được “cái gì chưa có”? Xin trích ra đây một đoạn trong một bài viết của tôi về Nam Cao: “Khi “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố và “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan ra đời, tôi chắc ít ai nghĩ rằng thân phận người nông dân dưới ách đế quốc, phong kiến lại có thể có một nỗi khổ nào hơn nỗi khổ của chị Dậu, anh Pha. Nhưng khi Chí Phèo ngật ngưỡng bước ra từ những trang sách của Nam Cao, thì người ta liền nhận ra rằng, đây mới là hiện thân đầy đủ những gì gọi là khốn khổ, tủi nhục nhất của người dân cùng ở một nước thuộc địa: bị giày đạp, bị cào xé, bị hủy hoại từ nhân tính đến nhân hình. Chị Dậu bán chó, bán con, bán sữa…, nhưng chị còn được gọi là người. Chí Phèo phải bán cả diện mạo và linh hồn của mình đi để trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại”. (Nhớ Nam Cao và những bài học của ông).[3]

Như thế, truyện “Chí Phèo” cũng đâu phải là chuyện cái đói, chuyện cái bụng, cũng là chuyện linh hồn, chuyện nhân tính, nhân phẩm đấy chứ! Cho nên Nam Cao đã cho thằng Chí Phèo lần cuối cùng xách dao đến nhà Bá Kiến, không phải để đòi tiền, đòi rượu, mà để đòi lại bộ mặt người và linh hồn lương thiện đã bị lão ác bá hủy hoại: “Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này?”. Hắn đã đâm chết Bá Kiến rồi tự sát. Hắn đã chết như một con quỷ muốn được hóa kiếp làm người.

Nhân đọc Nam Cao, xin bàn rộng thêm điều này: Cần phân biệt hai khái niệm cái đói và miếng ăn. Miếng ăn suy ra có nghĩa rất rộng. Trên đất nước ta hiện nay, cái đói về cơ bản đã được giải quyết, nhưng chuyện miếng ăn thì còn lâu, không biết đến bao giờ. Nạn tham nhũng tràn lan mọi nơi, nạn mua quan bán chức ở cấp nào cũng có, rồi nạn tranh ghế nhau, lừa nhau, vu cáo nhau, hất cẳng nhau trong đám quan chức cách mạng…, tất cả xét ra đều cũng vì miếng ăn cả thôi – miếng ăn hiểu theo nghĩa rộng. Vì miếng ăn hiểu theo nghĩa đó mà nhiều vị to đầu, ngồi trên ghế rất cao, cũng sẵn sàng vứt bỏ lương tâm, vứt bỏ nhân tính, nhân phẩm – “miếng ăn đúng là miếng nhục”.

2. Vụ chị Dậu (Truyện “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố) bị kết tội bán con

Cũng vẫn là Trần Đăng Khoa. Trong tập “Chân dung và đối thoại”, Khoa hư cấu ra một cuộc đối thoại giữa Người và Ma để phát biểu ý kiến của mình. Anh viết: “Trong cuốn truyện vừa rất xuất sắc này của cụ Tố (cuốn “Tắt đèn”), có một chỗ rất tệ hại. Ai lại dành nhiều công phu và tâm huyết như thế để viết về một bà mẹ đi bán con chuộc chồng (…) một việc làm không bình thường. Ngay ở dưới âm phủ cũng chẳng có bà mẹ nào làm một việc quái đản như thế” (trang 107).

Ơ hay! Thế Khoa thực sự không biết “bán vợ đợ con” đã thành một câu thành ngữ rất quen thuộc của dân gian ta sao? Đúng là một chú nông dân sinh ra sau cách mạng tháng Tám, sau cả cuộc kháng chiến chín năm đầy gian khổ (1958) nên chẳng hiểu gì về tình cảnh người nông dân thời trước. Nhưng viết phê bình thì phải nghiên cứu hoàn cảnh lịch sử cụ thể khi tác phẩm ra đời chứ! “Bán vợ đợ con” đã là một thành ngữ thì có nghĩa là chuyện ấy rất phổ biến ngày trước, sao lại gọi là chuyện “không bình thường”, thậm chí “quái đản”?

Khoa lại so sánh chị Dậu với nhân vật Făngtin của nhà văn Pháp Victor Hugo (tác giả “Những người khốn khổ”). Făngtin bán tóc, bán răng chứ không phải bán con. “Người đàn bà ấy đẹp biết bao, cao thượng biết bao” (trang 108).

Rõ vớ vẩn, ở cái nước thuộc địa hết sức nghèo nàn khốn khổ này, nhất lại ở những vùng nông thôn tăm tối và lạc hậu ngày xưa, bán tóc, bán răng cho ai?

Khoa là một anh nông dân thuần túy mà sao đọc truyện về người nông dân nước mình, cứ như là bằng con mắt của người Tây, người Mỹ vậy. Đi nước ngoài nhiều quá, ở nước ngoài lâu quá, có khi gần chục năm, quen mùi nước hoa của những ông tây, bà đầm quá rồi, nên quên hẳn mùi mồ hồi của người nông dân Việt Nam chứ gì!

Khoa lại liên hệ đến những người mẹ ở những phiên tòa xử ly hôn, “Tôi chả thấy có người mẹ nào bằng lòng bỏ con. Họ có thể bỏ chồng chứ không thể bỏ con, quyết giành con cho bằng được”[4].

Đúng là so sánh khập khiễng. Những người mẹ ấy ly dị chồng chứ có phải nghèo khổ sắp chết đói đâu. Ở hoàn cảnh chị Dậu, bán con cho nhà giàu, con mình khổ nhục thật đấy, nhưng dù sao nó còn được sống làm người. Không bán nó đi để mẹ con ôm nhau cùng chết đói cả sao!

Lập luận như Khoa trước sau đều xoáy vào tình mẫu tử thiêng liêng của những người mẹ. Anh không chấp nhận có chuyện mẹ bán con, càng không chấp nhận cụ Tố tả thái độ của chị Dậu khi chứng kiến con mình bị đánh và bắt ăn cơm thừa của chó. Theo anh, lẽ ra phải tả chị uất lên, rồi “có thế có một phút nghi ngờ quyết định của mình, định thay đổi, vì tình mẫu tử bỗng trào lên”. Nhưng tác giả “chỉ viết sơ sơ có một dòng mà lại thiên về ngoại hình”. Chị Dậu chỉ gục đầu vào cột, nức nở khóc thầm.[5]

Đúng là tả ngoại hình, nhưng tả ngoại hình như cụ Tố, ở đây không phải cũng là một cách tả nội tâm sao?

Bán vợ đợ con” đã là chuyện phổ biến, nên không phải chỉ có cụ Tố mới viết chuyện bán con. Chắc Khoa chưa đọc truyện “Hai thằng khốn nạn” của Nguyễn Công Hoan. Cũng là chuyện bán con, người nông dân bán con ở truyện này còn thảm hại hơn nhiều. Chị Dậu còn bán được một đồng bạc, chứ người nông dân của cụ Hoan chỉ bán được có ba hào. Chị Dậu còn được đứng nhìn con mà khóc, còn được nói với con lời từ biệt đau đớn đến thắt lòng “thôi phải tội với trời mẹ chịu. Cảnh nhà đã thế, mẹ đành dứt tình với con”. Chứ người nông dân của cụ Hoan, thì phải co cẳng chạy thục mạng vì sợ lão nhà giàu nghĩ lại, cho là mua hớ, đuổi theo trả lại đứa bé hay đòi bớt tiền.

Tóm lại, Trần Đăng Khoa cho chị Dậu của cụ Tố là thiếu tình mẫu tử, là nhẫn tâm. Nhưng do không hiểu tình cảnh của người nông dân ngày trước, Khoa đã lên án chị Dậu. Như thế tôi cho cũng là nhẫn tâm đấy.

Nhân ý kiến của Khoa chê cụ Tố tả chị Dậu nhìn con bị hành hạ chỉ bằng một dòng mà lại “thiên về ngoại hình”, tôi thấy cần lưu ý điều này về nghệ thuật “Tắt đèn”. Cụ Tố chưa phải là một nhà tiểu thuyết thực sự hiện đại, như Nam Cao. Dấu vết lối viết truyện cũ ở cụ là chưa biết mô tả trực tiếp nội tâm nhân vật mà chỉ diễn tả tâm lý của các vai truyện bằng hành vi ngoại hiện. Cho nên nếu nhân vật của Nam Cao hầu hết chẳng đi đâu cả, chẳng làm gì cả, chỉ ngồi một mình trong nhà, tự mình trò chuyện với mình, độc thoại nội tâm triền miên, thì chị Dậu của Ngô Tất Tố luôn luôn hoạt động: khi thì chạy ra đình gào khóc về nỗi oan của chồng, khi thì đánh nhau với tên cai lệ và thằng người nhà lý trưởng, khi thì lại lẵng nhẵng dắt con dắt chó đến nhà Nghị Quế… Cho nên muốn tìm chỗ đặc sắc của nghệ thuật “Tắt đèn” thì phải tìm ở những chỗ ấy. Cụ Tố tả nhân vật hoạt động cũng “bợm” lắm đấy!

3. Vụ Nguyễn Tuân bị kết tội tư tưởng trong truyện “Chém treo ngành”

Vẫn là ý kiến của Trần Đăng Khoa. Anh chàng nhà quê này thế mà rất thích gây sự. Trong “Chân dung và đối thoại”, anh kết tội cụ Nguyễn đã “tả một cách nhấm nháp với đầy vẻ khoái cảm một lão đồ tể có tên là Bát Lê” có tài chém treo ngành. “Đưa việc chém người lên thành nghệ thuật và tả đường đao, mỗi đao với vẻ khoái cảm như một dạng thưởng thức nghệ thuật thì (…) con xin vái cụ! Ngay cả kẻ bị chém là lũ tà đạo (…) tả thế cũng không ổn, huống hồ đó lại là quân khởi nghĩa, những người xả thân vì nghĩa cả. Nhà văn lớn ai lại viết thế.[6]

Thực ra ý kiến trên không phải là của riêng Trần Đăng Khoa. Trước anh, đã có người phát biểu như thế rồi, như Hoàng Trung Thông chẳng hạn.

Bác bỏ ý kiến này, trước hết phải tìm về văn bản gốc của tác phẩm, có tên là “Bữa rượu máu”. “Bữa rượu máu” đăng trên tờ “Tao đàn tạp chí” năm 1939. Lúc ấy thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dương chưa chấm dứt. Thời kỳ này, ở Pháp một chính phủ cấp tiến (thuộc đảng Xã hội) lên cầm quyền, vì thế ở các thuộc địa của Pháp, phong trào đấu tranh dân chủ cũng được phát động sôi nổi và dành được nhiều thắng lợi: chế độ kiểm duyệt sách báo phải bãi bỏ, sách báo yêu nước và cách mạng được phát hành công khai, nhân dân được tự do biểu tình, mít tinh, bãi công, bãi thị… nhiều chiến sĩ cộng sản bị tù được trả lại tự do… “Bữa rượu máu” vì thế được in toàn vẹn, không bị cắt xén gì cả. Về sau Nguyễn Tuân đưa tác phẩm này vào tập truyện “Vang bóng một thời”. Nhưng “Vang bóng một thời” ra đời khi thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dương đã chấm dứt, chế độ kiểm duyệt sách báo lại trở lại mà còn khắt khe hơn trước vì giờ đây bọn cầm quyền Pháp ở chính quốc cũng như ở các thuộc địa đã phát xít hóa. “Bữa rượu máu” vì thế không còn được in nguyên vẹn nữa. Truyện ngắn là một thể văn rất hàm súc, từ các chi tiết, tình tiết, đến lời văn đều hết sức chọn lọc. Có những chi tiết rất quan trọng, có vai trò như những thi nhãn hay nhãn tự trong một bài thơ tuyệt cú cổ điển. “Bữa rượu máu” đã bị cắt đi những chi tiết như vậy. Một là tên truyện từ “Bữa rượu máu” bị đổi thành “Chém treo ngành” cùng với sự cắt bỏ chi tiết: thằng công sứ Tây và thằng tổng đốc An Nam chuốc cho nhau hai tuần rượu chúc mừng nhau đã dẹp được quân Bãi Sậy, trước khi ra lệnh cho đao phủ thi hành án. Vậy ai uống rượu? Ai uống máu? Và tư tưởng tác phẩm ở đấy chứ đâu. Hai là một chi tiết còn quan trọng hơn nữa: khi đao phủ thi hành xong bản án, hai tên quan tây quan ta ra về, thì ở pháp trường bỗng nổi lên một cơn lốc dữ dội. Cơn lốc chạy giữa hai hàng tử tù, đuổi theo hai tên thực dân và tay sai, cuốn cái mũ trên đầu thằng công sứ, quăng xuống cho lăn lộn mấy vòng trên bãi cỏ pháp trường. Rõ ràng là một đòn đánh thẳng vào thằng thực dân: hồn oan của các nghĩa quân, đầy căm hờn, quyết đuổi theo thằng tây đòi nợ máu phải trả bằng máu. Các tác phẩm hiện thực phê phán đương thời có cuốn nào dám đánh thẳng vào thẳng thực dân cỡ công sứ một cách mạnh mẽ và táo bạo như thế đâu?[7]

Bữa rượu máu” thể hiện rất rõ một nét phong cách cơ bản của Nguyễn Tuân: nhìn sự vật nghiêng về phương diện văn hóa, nghệ thuật, phương diện thẩm mỹ, và nhìn con người nghiêng về phía tài hoa nghệ sỹ. Tài hoa nghệ sỹ được ông hiểu theo nghĩa rất rộng: không phải chỉ là những người làm nghề nghệ thuật như đào nương, kép hát, nhà văn, nhà thơ, mà bất cứ ai có tâm hồn nghệ sỹ và nâng nghề nghiệp hay công việc của mình đến trình độ nghệ thuật cao siêu. Cho nên trong các tác phẩm của Nguyễn Tuân có đủ loại nghệ sĩ: chơi hoa, chơi chữ nghệ sỹ, uống trà, nhắm rượu nghệ sỹ, tướng cướp nghệ sỹ, con bạc nghệ sỹ (“Vang bóng một thời”), rồi dân quân, tự vệ, bộ đội nghệ sỹ (“Đường vui”, “Tình chiến dịch”, “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi”), lái đò nghệ sỹ (“Người lái đò sông Đà”), tù cộng sản nghệ sỹ (“Đào cộng sản”), rồi ăn phở nghệ sỹ (“Phở”), giã cốm nghệ sỹ (“Cốm”), giã giò nghệ sỹ (“Giò lụa”), lại có cả hồn ma nghệ sỹ nữa (“Xác Ngọc Lam”, “Đới Roi”)… cho nên trong “Bữa rượu máu” có một ông đao phủ nghệ sỹ thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên đối với văn Nguyễn Tuân.

Nhân chuyện ông đao phủ nghệ sỹ của Nguyễn Tuân, xin kể chuyện này chắc ít người biết. Nguyễn Tuân chủ yếu là một nhà bút ký, nên ông viết văn thường dựa vào chuyện thật, người thật. Không biết khi xây dựng nhân vật đao phủ Bát Lê, ông có biết ngày xưa ở Huế, có một ông đao phủ có tài chém treo ngành thật. Khi ông ta chết, gia đình những tử tù bị ông ta chém đã lập đền thờ ông. Họ biết ơn ông, vì nhờ ông mà người thân của họ dù sao cũng được chết toàn thây, không đến nỗi thành ra cụt đầu, quỷ không đầu.

Ở đời có những chuyện bất ngờ thú vị như thế đấy: làm nghề đao phủ mà các gia đình tử tù không oán ghét, trái lại còn biết ơn và thờ cúng nữa.

Cho nên thử bình tâm mà nghĩ lại xem, Nguyễn Tuân say sưa tả nghệ thuật chém treo ngành của Bát Lê có nên coi là hoàn toàn tiêu cực, là chỉ đáng bị phê phán không? [8]

Năm 1980, tôi được giao làm “Tuyển tập Nguyễn Tuân”. Anh Lê Khánh biên tập viên của NXB Văn học cùng lo với tôi chuyện này. Anh nói, tuyển văn Nguyễn Tuân phải cẩn trọng, thí dụ như truyện “Chém treo ngành” thì không nên tuyển. Nhưng tôi đã tìm được nguyên bản “Bữa rượu máu” và đưa vào tuyển tập. Nguyễn Tuân rất khoái. Ông mời tôi uống rượu. Ông vừa uống vừa chửi Hoàng Trung Thông: “Nó cũng làm văn mà sao nó ngu thế!”. Nay Trần Đăng Khoa lại lặp lại đúng cái ngu ấy.

Đọc tiếp Phần III còn hai mục sau:

4. Vụ “Phạm nhân” vị quy tội “đảo chiều” (trước “đánh” sau lại “khen” Vũ Trọng Phụng)

5. Vụ đánh giá truyện “Sống mòn” của Nam Cao là một cuốn tiểu thuyết viết hỏng

______

[1] Bản in lần thứ 9, có chỉnh lý và bổ sung. NXB Thanh niên, 1999.

[2] Chân dung và đối thoại, trang 225.

[3] Văn học Việt Nam hiện đại- những gương mặt tiêu biểu– NXB Phụ nữ, 2012, tr 243

[4] Chân dung và đối thoại (Sđd) trang 109

[5] Chân dung và đối thoại (Sđd) trang 108

[6]  Chân dung và đối thoại ( tr 190)

[7] Trong cuốn “Chân dung và đối thoại” (đã chỉnh lý và bổ sung) Trần Đăng Khoa nói anh có biết chi tiết này, nhưng anh cho rằng: “nhưng đó vẫn là một đoạn tả cảnh, và là tả ngoại hình. Những câu văn gió mây, mang đầy chất thơ ấy, làm sao xóa được cái ấn tượng ghê rợn mà truyện đã mang đến cho độc giả” (trang 118). Đúng là Khoa chưa đọc thực sự văn bản nên mới viết bừa như thế.

5 bình luận

  1. Đọc bài phỏng vấn thì chẳng thấy bác Mạnh “cứu” được tội phạm nào cả, chỉ thấy bác “dìm hàng” thầy cãi TĐK. Các “đại gia” Nguyễn Tuân, Nam Cao, Ngô Tất Tố thì chẳng cần đến bác Mạnh “cãi” hộ họ cũng đã được nhân dân đội vương miện cho rồi.

    Mà hình như bác Mạnh không hiểu câu hỏi phỏng vấn hay sao í? Không hiểu ngày xưa bác Mạnh có “cãi” hộ Phan Khôi, Phùng Quán hay không mà để các cụ bị đầy đoạ khổ sở thế.

  2. Theo tôi, GS Nguyễn Đăng Mạnh đã trả lời đúng câu phỏng vấn đấy chứ! Những dẫn chứng mà GS đưa ra, cách tranh luận và kết thúc vấn đề, GS đã phủ nhận những đánh giá của NT TĐK và nâng tầm giá trị của những Tác giả, những tác phẩm bất hủ, bị đánh giá “oan” hoặc chưa hiểu đúng giá trị của tác phẩm! Những nhà phê bình – trạng sư như vậy, cần lắm thay!
    Cảm ơn anh NTT đã đưa bài viết lên, qua đó, em mới biết có những nhận xét như vậy qua “Chân dung và đối thoại”- Rất tiếc là em chưa được đọc Tác phẩm này của NT TĐK!
    Cảm ơn Nico-Paris đã có cuộc phỏng vấn với GS NĐM! Chúc chủ trang vui khỏe!

  3. Đã đọc Hồi ký của Nguyễn Đăng Mạnh và đọc những bài phê bình trích
    từ trang mạng trên,tôi cũng xin góp vài thiển ý.
    NĐM.trong Hồi ký viết là khi ấy ông đang dạy Văn ở Vinh nhưng lại rất muốn ra Hà Nội dạy Văn,nên ông bắt chước vài người đi trước là phải viết bài ca tụng bác Hồ và nhờ vậy mà ông đạt được ý nguyện đó.
    Cũng giống như nhiều người khác,ông đúng là người khôn khéo đến mức thực dụng,vì thế ông nương theo chiều gió mà phất nhưng ông
    “nhẹ tội” là không nặng tay quá mức như các… quan khác.
    TĐK.chỉ là nhà thơ nên phê bình kém là dễ hiểu,hơn nữa TĐK.chưa
    hiểu hết tình hình văn nghệ sĩ bị khủng bố thời đó nên có phần mạnh
    miệng mà phê …láo.Thế thôi !

  4. Ông Khoa đâu? Người nông dân sống cùng quẫn dưới chế độ phong kiến đế quốc nên mới phải bán con bán chó. Vậy mà ông đã ra vẻ ta đây là một con người có nhân tính mà phản bác lại cái “giá trị chân thực trong tác phẩm văn học này”. Ông quá mơ hồ và sáo rỗng. Tôi nói vậy vì ông biết không, trong thiên đường XHCN và có cả đảng CSVN đỉnh cao trí tuệ mà ông đang sống sờ sờ ra đấy. Thì có chuyện bán con, giết con, giết bố, gán vợ…không? Hỏi ông mỗi câu thế thôi.

  5. Thời đó bán con thì không hiếm!. Nhiều người ở nhiều nơi còn mang con bỏ chợ rồi trốn con về, cầu mong ai đó có hảo tâm mang về nuôi hộ . Ở quê tôi mấy người “con nhặt” như thế còn sống, họ nay khoảng 80, 85.
    Trước đây, đài tiếng nói VN có mục tìm người thân, đêm nào cũng nhắn chuyện cha mẹ bỏ con nay tìm lại, làm đau thắt lòng bao thính giả….

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d người thích bài này: