NHÀ THƠ NGUYỄN THỤY KHA – HIỆP SĨ SAY MÊ KIẾM TÌM VÀ ĐỔI MỚI


BÙI VĂN KHA

Nguyễn Thụy Kha

“Đưa người yêu qua nhà người yêu cũ/ Rơi cơn mưa ban trưa/ Chợt thấy mình tách làm hai nửa/ Nửa ướt bây giờ nửa ướt xa xưa” (Không Đề) chỉ có thể là lời của một quý ông. Trạng huống ấy ở thời nào ta không hay biết, chỉ biết người xưa thì cảm động, người nay, kể cả người trong cuộc thì đồng cảm, còn thơ thì có 4 câu thôi mà cả như một bộ phim Hàn Quốc 108 tập gói gọn vào.

Thời Máu Xanh bắt đầu bằng “Một thế hệ hiến dâng trọn vẹn, hiến dâng vô danh/ Cắn chặt răng không khóc/ Cháy thành lửa, tắt thành vuông cỏ mọc/ Chín muộn như không thể chín tự nhiên” (Máu Xanh). Dòng máu tuổi trẻ có giá quý tộc ép mình lại 50 năm trước giờ vẫn đang “Chảy lặng lẽ trong thân hình bán đảo” đấy! Nhưng đã hi sinh thì không lãng phí, ở trong thơ nhiều lúc có mình hay! Thời Máu Xanh là thời làm lính, thời tuổi trẻ quý báu. Nhưng dòng máu xanh cũng là dòng máu quý tộc đấy. Văn hiến nghìn năm là có thật. Đừng tưởng cứ USA, U Kinh Dom, France,…là ghê gớm lắm.

Chỉ hai câu: “Ngày đánh Pháp cha có bầm làm mẹ/ Giờ đánh Mỹ mạ là mẹ con” (Mạ – với đề từ: Kính tặng mẹ Quảng Bình) mà khắc được hình tượng  Bà  mẹ Việt Nam anh hùng ngay thời đạn bom máu lửa điểm tựa của 2 cuộc chiến thắng lẫy lừng. Những chiều tối ở Hồ Tây thấy đàn dơi ra bắt muỗi tôi thắc mắc với anh Bằng Việt rằng hình như bầy dơi chưa hẳn là loài hốt hoảng thì ngày trước anh Nguyễn Thụy Kha đã viết: “Ẩm ướt làm ta thao thức bao ngày/ Thương ta chiều chiều đàn dơi sà bắt muỗi/ Đá gập gềnh bước xiêu xiêu thiếu muối/ Chợt ấm lòng mắt nhìn nhau như sao” (Những Chiếc Hang). Thì ra cùng một hiện tượng nhưng giữa giai cấp và nhân văn vẫn có cách nói khác nhau, mà tự nhiên thì muôn đời và chung thủy.

Phải là người thị dân làm lính, lại tử tế học hành, mới tinh tường nhạy cảm: “Nếu phút ấy anh là người có mặt/ Xin đừng ngạc nhiên/ Khi thấy nước mắt lăn trên má bé/ Bé đang cười bé chẳng khóc làm chi/ Giọt lệ này của mẹ/ Từng khóc mất chồng giờ lại khóc còn con ”– (Giọt Lệ Của Mẹ). Hay “Vạch đổ nát vốc tro tàn trên tay/ Tìm thấy bản giữa lòng bao người lính” – (Tìm Bản) – thật nâng niu làm sao. Chất kiêu lạc “Ô lạ trong ngột ngạt/ Lòng ta vẫn như sông” – rất Simônốp nhưng cách nói Lão Tử. Người lính thành thị trẻ có học ấy: “Khi vui em hát câu buồn/ Giống nhau hát đồng ca sai nhạc/ Tôi hồi sinh tuổi đôi mươi hồn nhiên/ Dẫu tiết tấu các em, hát theo thật khó nhọc” đã chốt cô hình ảnh: “Dĩ vãng trẻ măng, dĩ vãng binh nhì” – (Nhớ Nắng). Năm Đại thắng mùa xuân 1975, khi vào đô thành lớn khác, chất Hải Phòng – Hà Nội trỗi dậy rõ rệt trong Nguyễn Thụy Kha: “Giữa cơn sốt vơ vét Sài Gòn/ Tôi cô đơn ôm sốt rừng một thuở/ Bao tủi mừng còn đầm đìa đường phố/ Sao quay cuồng ôm mặt khóc mình tôi” – Thật “máu xanh” như thời Oantơ XCôt! “Tạnh mưa rồi…nhưng rét lạnh còn qua/ Có thể ngày mai…nhưng mà thôi hãy hát/ Biên cương ở đây thấy rõ từng cột mốc/ Thấy rõ hơn trong người lính bây giờ” – (Biên Cương Bây Giờ) – Đôi khi đặt lại đúng tầm cũng là đổi mới!

Tôi được làm người em của anh Nguyễn Thụy Kha dễ đến hai mươi năm rồi hôm nay đọc bài Lên Núi đã phổ nhạc như bắt gặp người thân thiết lâu ngày: “Lên núi/ Đồng đội ơi bay vào giấc mơ/ Sương lạnh và mờ/ chúng mình với rừng cây hư ảo/ Đài quan sát như cô đảo/ Giữa mênh mông biển sương/ Đốt lửa lên Ghi-ta bập bùng/Hãy hát, vui buồn đừng có giấu…” –(Lên Núi) – Bài thơ bay lên từ ca từ nội lực! Nhà thơ là cựu chiến binh Binh chủng Thông tin… “Chúng mình đây làm đồng đội quây quần/ Làm ngọn núi đứng trên ngọn núi”. Ở lính, tình đồng đội là tất cả.  “Tôi lên núi ấy tìm đá quý/ Thấy in trên đá dấu chân người” – (Dấu Chân Trên Đá) – thì ra châu ngọc chỉ là vật vô tri, và người nay đi tìm không phải là khủng long kỷ Jura mà là con đường Lỗ Tấn- con đường nhân loại đã đi. “Xốc lên vai trĩu nặng ba lô/ Mang quả núi nhập vào dãy núi/…/ Giữa trời cao/ Những ngọn núi có bao giờ thấp xuống” (Những Đỉnh Cao Tôi Gặp) – tư thế ngạo nghễ tôi đã thấy năm 1974 ở Nước Non Ngàn Dặm của Tố Hữu: “Lá cờ nửa đỏ, nửa xanh/ Màu đỏ của đất, màu xanh của trời/ Ngôi sao chân lý ở đời/ Việt Nam, vàng của lòng người hôm nay/ càng nhìn ta, lại càng say/ Biển Đông lồng lộng gió bay ngọn cờ” – nhưng giọng thơ đã cách 10 năm.

Chàng hiệp sĩ ấy là người của nửa cuối thế kỷ 20 không tách mình khỏi chốn dân gian. Nguyễn Thụy Kha riêng chung âm thầm nhìn: “Họ lặng lẽ chia tay nhau và cùng nhau đi tìm/ Một cái gì đã mất” – (Hà Nội, Chiều Cuối Đông) – vẫn biết rằng “Ta có nhau giữa muôn nỗi buộc ràng/ Như trong lồng chim mang giọng hót/ Hát và buồn tới khi bạc tóc/ Thêm từng xuân thêm thấm thía tự do” – (Cửa Sổ Tiếng Chim) – “Tự do (đúng) là nhận thức được cái tất yếu”! ở một góc cạnh khác “Chỉ mời nước trà thôi không hề ngửa tay xin/ Nhưng với tôi cháu đang đòi dữ dội/ Điều cháu đòi tôi chưa làm nổi/ Bao giờ trẻ con chỉ học và chơi” – (Bên Tôi) – 10 năm sau ta gặp lại ý này ở bài Hà Nội Ngũ Hành: “Gặp người ăn xin thấy bóng mình hèn” đúng là chỉ thị dân chính hiệu mới viết được Nam Cao như thế!

Và Chàng đầy những ưu tư: “Mùa xuân tới lá rơi mưa nhẹ láng/ Rơi lá vàng rơi cả lá xanh mơ/ Nhìn em phấn son thâm quầng khách sạn/ Tội nghiệp như màu vôi mới Tháp Rùa” – “Đàn bà đẹp bây giờ nhiều quá thể/ Nhan nhản quanh như cơm bình dân/ Đẹp giống nhau đến cả vờ e lệ/ Đến nỗi cả đời sáng tác cũng y chang” – (Em 4) –  Trong Hà Nội Ngũ Hành: “Em đẹp như tiên chửi thề văng tục/ Em đầy mình vàng không sang trọng được” – thực ra trong cái chủ ý ấy, thơ không cay nghiệt. Thơ chỉ đầy trách nhiệm đấy thôi: “Bới cát tìm vàng thì em hiện ra/ Anh lần tới vườn thì hương vừa thu” . Cách đặt chữ sáng tạo làm khổ thơ 8 chữ đọc thanh thoát chứ không kể lể. Cái đẹp không tội tình gì, cái tội tình là văn hóa.

Trong tập Mẹ Của Biển,cái người Hải Phòng “din”ấy khi trở về: “Nghe gió miết quanh mình khao khát/ Hải Phòng chiều gió ở đâu gió ơi” – (Ngã Năm) – cái tứ gió muôn thuở của thi nhân giờ ở ngã năm này ngơ ngác chiều đi. “Ta cô đơn hành trình/ Trên sợi dây chênh vênh kỷ niệm/ Chẳng bao giờ bớt đi quạnh vắng/ Ta chìm trong khói mờ/ Cây phượng già ám ảnh/ Ngực gào to mà không thể thốt ra” – Đúng là không có cây đa bến nước sân đình nhưng ở đâu người ta không đầy kỷ niệm. Nhưng kỷ niệm của người thành phố khác kỷ niệm người chốn thôn quê. Hình ảnh cây phượng già ta còn gặp nhiều đều khắc lại diết da ngày ấy của thi sĩ.

Nhớ Thâm Tâm như nhớ người tình buông lời Thế Lữ “Bỗng đâu buông xuống thì thào/ Màn mưa ướt một khoảng xao xuyến trời” – (Chiều Ba Mươi Tết Đường Năm); Nhớ người xa thì “Không em bạc phếch đủ điều/ Tôi đi mòn vẹt cả chiều không em” – (Biến Khúc Mưa – tập Lửa Trắng & Ớt Xanh). Cũng phải nói rằng người con gái của thơ cũng là một phát hiện: “Thật dễ dàng thả thêm ngọn sóng xanh/ Nhưng vô nghĩa biết bao nếu đời chỉ toàn sóng/ Vì thế tháng ngày em một mình lẳng lặng/ Một cánh buồm lướt giữa các anh” – (Cánh Buồm)

“Biển lớn lao sao vô vị thế này/ Không rửa sạch nổi kiếp người lấm láp/ Cứ ồn ào làm nhiễu không nghe được/ Nỗi niềm ai đang gắng thốt vào đời” – (Lời Nghe Lỏm Ở Bờ Biển) – Từ một hiện tượng nhiều khi ta coi thường bỏ qua, ta thấy cõi lầm than không chỉ xóa đi đơn giản bằng ngôn từ kế hoạch dù là thông minh. Nhưng “Dù sao rồi con người vẫn ngước lên/ Trời xanh lắm muôn đời xanh thẳm/ Rộng rãi thế sao tự mình hẹp cạn/ Phải ngước lên, phải ngước lên thôi” – (Ngước Lên Mùa Xuân – tập Lửa Trắng & Ớt Xanh)

Ở tập Lửa Trắng & Ớt Xanh: “Có một cách đi là không đi nữa” – (Năm Biến Khúc Đà Lạt). Thực ra là vẫn đi, nhưng là đi trong đứng yên. Chỉ khi tĩnh lại mới “Thủy tiên ơi thủy tiên/ Anh nâng niu nghẹn gió” – (Và Thủy Tiên Đã Nở), mới “Anh lúc nào cũng sắp ngã vào em/ Lá lại buông mình làm rối cả chiều lên” – (Anh Lúc Nào Cũng Sắp Ngã Vào Em), mới nghìn vàng mà “Tầm tã mưa rửa đền/ Đêm ướt như em tẳm/ Ròng ròng một không gian khỏa trần/ Trinh trắng” – (Đêm Ướt), mới “Tôi dẻo ra như cốm/ Tôi ngát hương giữa thóc và cơm/ Tôi ngủ với lá sen như tân hôn/ Nghe trinh trắng khóc rên sung sướng” – (Cốm) – để rồi: “Thu loang nhanh một tiếng cô đơn/ Những chia tay lá vàng bay lặng lẽ/ Chiều dịu quá ly rượu nồng riêng lẻ/ Níu lại gì cũng chẳng bớt buồn đi” – (Và Thu Nữa). Đã là thi sĩ tình đâu chả buồn.

Trong thơ Nguyễn Thụy Kha, hình ảnh cây được dụng công biểu trưng: Lá đỏ là Trường Sơn – “Cây lá đỏ chợt cháy/ Trong ngôi nhà thiêng liêng/ Có điều gì thân quen/ Ảo huyền như âm nhạc/ Có khao khát không tên/ Cồn cào trong tiềm thức ” – (Cây Lá Đỏ Trong Nhà – tập Càn Khôn Trước Tuổi); Phượng già là kỷ niệm thuở học trò mong manh không vượt qua mà cầm lại được; Riêng sấu xanh là của bây giờ: “Lá đã xanh thiếu nữ xanh da diết” – (Cành Sấu) – “Anh khi bàng hoàng run rẩy mây mưa/ Mộng Liêu Trai chiêm bao thành khờ khạo/ Anh khi đắm chìm con chiên ngoan đạo/ Thiêng một lành thanh thanh/ Ngùn ngụt xanh trời chảy một lõa thể xanh” – (Cây Sấu Ấy)

Còn  với tập Càn Khôn Ngàn Tuổi: “Thành phố giông mưa lồng ngực sông Hồng/ Nắng khúc xạ áo em sặc sỡ/ Ngỡ như nắng nhờ em mà mới mẻ/ Em làm trẻ trung Hà Nội nghìn năm” – (Mùa Hè Hà Nội); “Chiều dâng/ Sương xuống trắng/ Bồng bềnh bao mái nhà/ Tung sóng/ Thoáng nghe Thủ đô/ Dạt dào lên dĩ vãng” – (Sóng Nhà). Năm 1985, anh Nguyễn Thụy Kha, anh Nguyễn Trọng Tạo và anh Nguyễn Hoa in chung một tập thơ tên là Sóng Nhà Biển Biếc Tôi Yêu thì là bài Sóng Nhà này. Nhà ở Hàng Bông, nhà thơ là người hằng ngày đêm thấm đượm Bờ Hồ: “Gió ùa lên níu tôi vẩn vơ ngồi/ Ngồi đến nỗi muốn xanh vào liễu biếc/ Muốn tĩnh lặng Ngọc Sơn hương ngát/ Và nhô lên đột ngột Tháp Rùa” – (Hồ Gươm). Cả sông Tô nữa (Tô Lịch ngày trước dòng đến chỗ Hàng Buồm bây giờ): “Đến ngày không xa nữa/ Sông Tô lại tràn về/ Giữa mướt xanh bờ cỏ/ Thuyền thong dong đi về/ …/ Khi ấy cây muỗm già/ Dẫu không còn cho quả/ Lại thấy mình trẻ trung” – (Những Cây Muỗm Bên Bờ Sông Tô Lịch). Vậy nên nhà thơ mới có quyền khuyên: “Rượu ngấm men thơ/ Thơm trưa gót nhỏ/ Chìm trong mái phố/ Rêu qua ngói cổ/ Hà Nội đâu đó/ Dạ thưa” – (Dần Dần, Em sẽ Gặp Hà Nội). Mới chia sẻ: “Tháng giêng đồng ngoại thành/ Mưa bụi dày giá rét/Không vào vui phố xá/ Em cấy mạ chuyền tay/…/ Em lại níu xuống đất/ Chút niềm tin màu xanh” – (Người Đi Cấy Tháng Giêng); “Sớm sương muối cuối đông băng sông Hồng gió lạnh/ Từng đoàn xe thồ qua cầu chầm chậm/ Họ là những người tiếp phẩm mùa xuân/ Những sọt tre đầy ắp rau xanh” – (Im Lặng Cho Mùa Xuân) – vẻ đẹp vẫn những con người lao động ấy có bao giờ thơ bội bạc đâu. Nhưng mà lắm lúc buồn lắm: “Như trong một giấc mơ lầm/ Lỗi cơn mưa cũ giam cầm bao lâu?/…/ Mưa mưa chợt tạnh chợt tan/ Hoàng hôn lá lá rụng ngàn tiếng ve” – (Mưa Phố Cổ); “Hà Nội thời này tìm một người bình thường/ Khó hơn tìm một người nổi tiếng/ Góc phố nào cũng chật những siêu nhân/ Thành thạo nói năng tung tăng vai diễn/ Để rồi hư danh giữa những thiêng liêng” – (Chợt Lắng Thu)

Xin tạm dừng bài viết này ở tập Biệt Trăm Năm: “Những dấu sắc, hỏi, huyền, ngã, nặng ở bài thơ này/ Là hiến dâng người muôn năm trước/ Những dấu ớ, dấu á, dấu ư, dấu ê, dấu ơ /ở Tuyên Ngôn Độc Lập/ Cũng lay động hồn Nghĩa Thục Đông Kinh” – (Đông Kinh Nghĩa Thục); “Đường Thái Cực cong theo hình Tổ Quốc/ cha ông vẽ ra từ ba trăm năm qua ngày hành phương Nam mở nước/ Mãi tới ngày cuối tháng tư nay mới lấy lại vẹn toàn/ Chợt Trường Sơn và Biển Đông lưỡng nghi vào ngực buốt/ Một nhất nguyên hình chữ S mảnh thanh” – (Đường Thái Cực) – thú thực tôi hay sợ nho y lý số cứ lo Hà đồ Lạc thư chẳng biết về đâu, đọc bài thơ này mới biết hoài nghi huyền bí không thể gọn trong thơ được như thế. Xem thêm: “Khi bên mình còn có bạn sẻ chia/ Và dân tộc kiên cường đã lại vượt qua như cái tên nước mình từ chữ “Việt”/ là cái búa đến chữ “Việt” là vượt/ Đổi thịt thay da hai thế kỷ này” – (Tan Và Biến). Rồi đọc đến: “Người đứng phía quân trắng/ Mách nước cho quân hồng/ …/ Ở đâu giữa đám đông/ Cái người hay lờ lượn/ Khi thì theo quân hồng/ Khi thì theo quân trắng” – (Quanh Bàn Cờ) thì mới thấy người yêu nước mình khi sâu sắc nhường nào mới thấm Dịch để chuyển ngôn nghĩa đến vậy. Để nhận chân rằng: “Tôi đã đi để đón nhận lặng im/ Lặng im như đất/ Đâm lên trong tôi tơ non chồi biếc/ Từ những hạt già” – (Những Người Già Rất Trẻ).

Hơn 10 năm trước tôi từng được bác Nguyễn Thụy Kha khen “thơ lục bát của chú được, hay hơn…”. Đọc những dòng lục bát thay cho lời kết này, Tiểu đệ xin kính nhường chữ nhẫn của Đại huynh mà rằng: “Tai ương dội xuống tâm hồn/ Nỗi buồn chôn chặt nỗi buồn mọc lên/…/ Tháng Sáu cúi mặt mà đi/ Nắng trên đầu vỡ điều gì trong ta” – (Tháng Sáu), nhưng bao giờ cũng “Uống bao thứ rượu trên đời/ Không làm thay đổi thằng người trong ta”– (Những Đêm Thức Tuổi Bốn Mươi)./.

Hà Nội, ngày qua sơ thu 2012

B.V.K

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s