LẶNG LẼ HIẾN DÂNG TỪ VẦNG TRĂNG MƯỜI SÁU


(Về tập thơ TỪ VẦNG TRĂNG MƯỜI SÁU của CAO XUYÊN – NXB Thanh Niên 2012)

TRỊNH SƠN

Phật giáo có nghi lễ “cúng dường” với ý nghĩa sự cho, ban phát tình yêu thương, lòng nhân ái. Cho tha nhân và cũng là cho chính chúng ta. Pháp luân hồi chứng tỏ sự cho và sự nhận không khác nhau lắm, đều là “mắc nợ” và “trả nợ” lẫn nhau trên con đường kiếm tìm bản ngã cuối cùng. Một nghi lễ được thực thi có ý thức và thường xuyên dần dà trở thành một hành động sống. Như con chó thè cái lưỡi mềm mại liếm vào vết thương đau. Như bàn tay cáu bẩn thò vào lòng trắc ẩn. Như sen khởi sinh từ bùn và tận diệt từ bùn. Như niềm hy vọng níu kéo bi ai vẫy vùng cùng tuyệt vọng. Cúng dường vừa là hoạt động tâm linh hướng đạo vừa là hoạt động xã hội văn minh, gắn kết con người với nhau và đi vào thơ:

Chuối sau vườn bói quả

Cúng dường lũ chim non

Đêm nay rằm em ạ

Cúng dường nhau trăng tròn

(4)

Tôi đọc được bài tứ tuyệt này lần tiên vào một đêm trăng tháng hai và tấm tình thơ ấy cứ đuổi theo tôi suốt những đêm trăng trời trăng người tiếp mãi. Người nông dân chân chất ở dải đất Xuyên Mộc lặng lẽ nép vào một góc khuất của đêm, giơ ngón tay thô ráp vẽ vào hồn tôi một niềm thương cảm về vẻ đẹp của những đỉnh cao. Tình yêu, xứ sở, con người… Tập tứ tuyệt giản dị 81 bài lặng lẽ tỏa hương và lặng lẽ hiến dâng. TỪ VẦNG TRĂNG MƯỜI SÁU.

Vứt em vào luân lạc

Chưa kịp một yêu đầu

Thương cỏ đồng hoa nội

Son phấn hãi hùng đau

(17)

Người thơ đang ở trong mê ly náo loạn của thế giới chữ nghĩa và thế giới giống nòi. Đang trải qua niềm điên dại của Nguyễn Trọng Trí những ngày đầu chập chững khai tâm LOẠN. Tại sao lại “vứt”, cớ gì không vơ vào, riết vào, xiết vào mình? Tại sao lại “vứt” khi “chưa kịp”, cớ gì không chỉ rời rã cách xa nhẹ nhàng ly biệt trong hoang vu bỡn cợt? Tôi và tôi-cô-đơn là đôi lứa bi-hài nhất sau tấm màn đời khép vội. Yêu nên phải đem tình yêu ấy đi, đi đâu? Chạy trốn hay giải thoát? Người con gái “son phấn” ở đây, hẳn đã buông neo êm ái bên vũng kín gió nào đó chứ chẳng phải “hãi hùng đau” “luân lạc”. Luân lạc là tôi mà hãi hùng đau cũng là tôi. Hiến dâng đến cạn cùng mới tự đắm mình vào nỗi mình một cách nhẹ nhàng từ tâm đến thế. Để thấy đời có sẵn mọi thứ của ta và trừ ta:

Sẵn bài ca – chim hót

Sẵn mùi hương – hoa ngát

Sẵn niềm yêu – tôi khóc

…Và thế giới đăng trình

(31)

Lên đường, bắt đầu từ đâu? Khi đã lên đường tự trong trứng nước. Khi đã khua chân từ chưa biết đi. Khi đã xa lắc xa lơ trong mang mang sóng gió.

Hiến dâng – theo thiền luận của DT.Suzuki thì, như cách một bông hoa phải nở khi đến kỳ mãn nụ, như một hạt mầm phải lên xanh lúc không thể chối từ dòng nhựa sống thôi thúc, như mưa móc từ trời xé bụng mây rơi xuống mặt đất giữa sức nặng của nước và sức nhẹ của gió. Hiến dâng, theo E.M Remarque, là “uống hết tất cả vào người như một con lạc đà tích trữ nước để dùng trong một chuyến qua sa mạc… nhắm mắt lại, sung sướng hưởng ánh nắng mặt trời và uống” (Bóng tối ở cuối đường). Hiến dâng, theo Hàn Mặc Tử, là “Trăng vàng ngọc, trăng ân tình chưa phỉ/ Ta nhìn trăng khôn xiết ngậm ngùi trăng”. Hiến dâng, theo Luiser Rinser, “lòng yêu tha nhân không phải là một khái niệm trừu tượng hoặc chỉ có nghĩa là bố thí mà trái lại, quy định một cách rất cụ thể các giao tế hằng ngày của ta với người chung quanh” (Chấp nhận cuộc đời – Bản dịch Nguyễn Hiến Lê). Hiến dâng, theo Nguyên Sa, là “Ngày trần trụi như ái tình/ Ngày hoảng hốt như đam mê/ Ngày mệt mỏi sau đó/ Tao đấy, tao đấy/ Ngày mệt mỏi sau đó/ Ngày khốn nạn, tao ghét mày như chó” (Nguyền rủa ngày – Tạp chí VĂN số 89, 9/1967). Hiến dâng, theo Hoàng Phủ Ngọc Tường, lại là “Hai mươi lăm năm, ta đã lấy máu hồng che kín non sông. Máu đã tưới thắm đất đai yêu quý” (Như con sông từ nguồn ra biển). Hiến dâng, theo Trịnh Công Sơn, là “sống trong đời sống cần có một tấm lòng… để gió cuốn đi…”… Với một triệu người, cách thức dâng hiến có nhiều hơn triệu cách. Có khi, trong cùng một con người, lại xuất hiện cùng lúc nhiều phương thức hiến dâng. Và, trong cùng một phương thức hiến dâng, lại có năm bảy đường dâng hiến. Người ta không thể so sánh cái chết của một vị thánh tử vì đạo với cái chết của một người đánh bom tự sát, lẽ thường, họ chọn cho mình con đường để đi và kết thúc nó ngay khi có thể. Với Bùi Giáng, hiến dâng là tận hiến, là “còn hai con mắt khóc người một con”, nét đẹp tâm hồn này ít nhiều đã bị hiểu lầm từ ngày nó ra đời đến nay, nhưng tuyệt nhiên nó lại thấm vào lòng người như nước tan vào đất, dù là đất khô nứt mùa hạn hay đất đồng bãi mùa mưa sa. Tôi luôn cố tìm hiểu trong bất kỳ tác phẩm nghệ thuật nào, dù thích hoặc không, một tâm tình dâng hiến cho người, cho đời. Người đời, khi ấy là tôi và tôi đang đứng bên ngoài mình:

Kẻ đến còn ngập ngừng

Người đi chừng tiếc hối

Tình chia ngã ba sông

Con đò nào chết đuối

(66)

“ngã ba” nào ấy, số phận đón tôi và tiễn tôi không tách rời thân phận tôi-chung là dân tộc, quê hương:

Ngoài kia chiều đã tắt

Mẹ thắp hương bàn thờ

Đứa nón cối nón sắt

Thêm một ngày bơ vơ

(65)

Thơ nói nhiều hơn chữ nói. Ở “ngã ba” của thơ và chữ, đại lộ con người chia ranh phải trái. Đen và trắng. Sáng và tối. Hân hoan tủi nhục và hạnh phúc dè xẻn. Miên man nhựa chảy khắp cây và khoảnh khắc trơ trụi đầu cành lá vượt. Lý giải hay chối từ vận mệnh người nhạc sĩ họ Trịnh đã dự báo từ lâu: “Đêm nay hòa bình sao mắt mẹ chưa vui…”? Chấp nhận hay lắc đầu khi Kiều gõ cửa lúc nửa đêm sau mười lăm năm ngửa sóng Tiền Đường? Mẹ ở trong tôi và bốn thiên niên kỷ tôi chưa làm nên mẹ. Nguyện cầu là phương thuốc kỳ dị nhất người ta dùng đến khi căn bệnh trầm kha đến hồi vô phương cứu chữa – nguyện cầu thỏa hiệp để thỏa hiệp khác biệt:

Em là con Thiên Chúa

Anh là con Phật Đà

Mình kết hôn đi nhé

Phật Chúa thành sui gia

(69)

Hẳn nhiều người sẽ nghĩ ngay, đây là một lãng mạn quá đáng. Tôi cho phép mình tưởng tượng lại cái thời của Martin Luther King. Tôi cho phép mình ở lại vĩnh viễn trong ảo tưởng tự do chính tôi mở ra khi tinh thần tôi chưa thoát khỏi vòng tù tội của ý chí và niềm tin bất cẩn:

Quỳ gối giữa Phật đường

Lạy ông Phật dễ thương

Như ngàn năm đã lạy

Mùi hoa cau trong vườn

(68)

Hàn Mặc Tử ngốn hết trăng từ Vỹ Dạ, Quy Nhơn, Xóm Động, Gò Bồi, Xóm Tấn, bệnh viện Quy Nhơn, Quy Hòa để trải qua tượng trưng, siêu thực, bán cổ điển, tân cổ điển và tìm thấy lạnh lùng đài các Đức Maria trị vì cõi thơ sau khi đã “sống gần đứt sự sống”, sau ngàn lần vô vọng “không có một nàng tiên mô đến khóc”. Vì đâu? Nông nổi của thi nhân làm nên thi nhân. Nông nổi của thi nhân giết chết thi nhân. Thi nhân nhận ra mình giữa biến động muôn trùng. Thi nhân thanh thản bước ra ngoài thơ để ngắm nhìn, mân mê và mê say từng nếp áo Nàng thơ. Thì ra, Nàng thơ kiêu sa đã giản dị ở cùng ta từ bốn phương tám hướng thuở nào. Cao Xuyên đến đích của thời gian và không gian vô thỉ vô chung bằng tấm tình hiến dâng rất đỗi sung sướng tự nguyện trong tan hoang đổ vỡ “ba vạn sáu dâu biển thơ mãi là thơ thôi” nếu không phải là duyên thì há chăng, là cốt cách của một linh hồn bắt đầu cuộc thập tự chinh một thân xác mới từ phòng Guf? Đạo không có ở Thiên Đường, Đạo không có ở Niết Bàn. Đạo chỉ có ở nơi có linh hồn.

Xâu từng hạt lệ đời

Lệ nồng mặn, em ơi

Đêm đêm lần tràng lệ

Tụng câu thơ-nụ-cười

(75)

Mỗi giọt đau giọt khổ giọt buồn giọt vui giọt rưng rức giọt ngậm ngùi là mỗi món quà người đếm tay người người đếm tay mình. Nghệ thuật “hung hữu thành trúc”, nói như Tô Đông Pha, phát lộ và mong manh vững chãi tự tồn. Mùi hoa cau trong vườn hay bất kỳ một dung dị nhỏ bé nào ta đã chung sống, cộng sinh ở cuộc đời này đều là một Thượng đế, là một Thiên thần và là một Quỷ sứ. Nghệ thuật, phải chăng là sáng tạo ra linh hồn/bản chất thực cho những thứ đã có chứ không phải đi tìm kiếm những thứ chưa hề biết mặt?

Tôi có hỏi Cao Xuyên về con số 81 bài tứ tuyệt trong tập TỪ VẦNG TRĂNG MƯỜI SÁU: Ngẫu nhiên hay dụng ý 9×9? Ngay khi lời phát ra khỏi môi dại tôi, lời đã biến hút vào đêm, một khoảng trống của sự thừa thãi vừa sinh ra. Người nông dân sạm nắng gió Xuyên Mộc cười hiền khô như chưa từng biết mặt những hoài nghi trắc trở đã qua. Trăng mười sáu là đỉnh cao của một vòng trăng. Là đứa con của trăng đang hoài thai. Là mẹ của mọi trăng đã mất. Chúng ta an nhiên đợi chờ mây xâm chiếm niềm hạnh phúc viên mãn, sẵn sàng cho một cuộc điêu tàn xoay vần mới:

Sẵn bài ca – chim hót

Sẵn mùi hương – hoa ngát

Sẵn niềm yêu – tôi khóc

…Và thế giới đăng trình

Bàrịa, 03/2012

5 phản hồi

  1. Viết hay. càng ngày thêm hay. Nhưng không biết có phải đã hơi phung phí các vĩ nhân, danh nhân dùng làm nền cho 1 cá nhân không! Bởi vì sẽ còn viết nhiều, vậy sẽ vẫn lặp lại những vĩ nhân danh nhân ấy ư, dẫu là mỗi lần một khía cạnh khác nhau. Cái gì nhắc nhiều cũng cũ.

  2. mặc dù chưa có tập thơ từ vầng trăng mười sáu, nhưng với bài bình của trịnh sơn cùng một số bài trích dẫn trong tập thơ đó,chúng tôi có một số nhận xét sau: Bài bình của trịnh sơn nhẹ nhàng, sâu sắc với một số trích dẫn theo chúng tôi là rất hay, Tuy nhiên bài viết trên của TS đã không cho chúng tôi nhiều trích dẫn hơn để chúng tôi có thể đánh giá về tác phẩm này, hay TS còn để dành cho chúng tôi tìm tòi. Nếu vậy, xin cho biết nơi nào , nhà sách hay địa chỉ nào có thể mua được tập thơ này, vì qua một số trích dẫn của TS chúng tôi cảm thấy có một giọng thơ khác lạ, trăn trở gây cho chúng tôi hơi bị tò mò . xin cảm ơn

  3. Tôi đã đọc “Từ vầng trăng mười sáu” của Cao Xuyên… còn một số “Tứ thơ” rất hay mà TS chưa trích dẫn, nhưng một vài goc nhìn của người đọc như TS cũng là rất tốt cho tác giả rồi. Tuy nhiên đúng như ý kiến của bạn đọc đúng là TS dùng của nhiều Vỹ nhân để làm nền như có vẻ trưng dẫn sự hiểu biết một cách không cần thiết, Về CÚNG DƯỜNG một từ ngữ thuần Phật giáo, TS giải thích như thế chưa sát chưa thỏa đáng…và cũng bớt đi vẻ thơ trong cấu tứ của tác giả Cao Xuyên…

  4. Tôi hay nghe cúng dường từ trong các lời nói của phật tử, không rõ từ gốc, từ nguyên của từ này là như thế nào, có phải đơn thuần dành cho phật giáo hay không? xin TRỊNH SƠN cho tôi được rõ , xin cảm ơn

  5. Thêm một vài cảm nhận khi đọc
    “TỪ VẦNG TRĂNG MƯỜI SÁU” * của Cao Xuyên

    Tôi đã từng là một “nông phu”, vì vậy đọc tập thơ của một “nông dân”, nên thấy có chút gần gũi. Dù vậy qua tập thơ này tôi lại thấy chất “sỹ phu” ngời lên trong từng ý thơ…Và tôi có ba nguyên tắc thầm nhắc chính mình trong câu chuyện thơ này:
    Một là: không xoa bóp tác giả như những cách thường gặp đâu đó trên tạp chí, sách báo lâu nay vì như thế với tính cách “sỹ phu” tác giả sẽ không cho phép, nên tôi quyết không như vậy, không bị câu thúc bởi bất cứ lý do gì, vì bợ đỡ, phỉnh nịnh không khác một kẻ xài bạc giả – như một tác giả nào đó đã nói.
    Hai là: không khen tác phẩm, bởi nhà thơ Trụ Vũ đã khen trong lời giới thiệu ở đầu sách, một lẽ khác tôi xin dẫn ra đây lời của một thi sỹ đời Tống – Lý Chi Lai “Ở đời có ba việc đáng tiếc: thứ nhất- lớp thanh niên ưu tú bị hư hỏng bởi một chế độ giáo dục sai lầm; thứ hai- những cánh trà ngon bị hao phí quá nhiều vì những bàn tay bất tài vày vò; thứ ba – những tuyệt tác bị mất giá trị bởi những kẻ phàm phu tục tử tán thưởng…Mà tôi thì cũng chẳng khác gì đám phàm phu tục tử kia nên không dám khen láo.
    Ba là: phê bình (ở một nghĩa nào đó) tôi không đủ vốn liếng chữ nghĩa và kỹ thuật để chẻ sợi tóc làm tư, làm tám như các nhà chuyên môn vì vậy coi như tôi không làm điều này.
    Ở đây tôi chỉ nói lên vài chút đồng cảm với tác giả trong một số tứ thơ mà thôi. Chắc trong chúng ta không ít người đã đọc: “ Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ…”( ta có một tấc lòng không biết ngỏ cùng ai) của cụ Tiên Điền, ở đây Cao Xuyên cũng thế không biết ngỏ cùng ai nên “ngỏ” bằng thơ- tôi nghĩ như thế, nhưng như mọi người đều biết ngoài chức năng “minh đạo, tải đạo…” thơ còn có một chức năng rất dễ thương là làm cầu…Thật vậy, nhà thơ Trần Ninh Hồ đã viết thế này:
    “ Thơ là chiếc cầu bơ vơ
    Mà nghìn năm vẫn ngóng chờ người sang…”
    Theo tôi nghĩ nó đúng với rất nhiều trường hợp là những bài thơ được sinh ra bởi những nhà thơ chân chính hay nói một cách hoa mỹ là “ có kim bản vị..” Thật vậy, các tác phẩm đều muốn tận hiến, đều muốn làm một chiếc cầu nối liền đôi bờ thương mến giữa thơ – người thơ và người đọc thơ. Người thơ luôn mong ngóng có người đi sang, được phục vụ vô điều kiện. Ôi! Những bài thơ, những người thơ thật đáng yêu biết bao khi mỗi câu thơ là “tâm tình hiến dâng”. (chữ Tagore) và tôi nghĩ Cao Xuyên cũng không ngoại lệ muốn làm cây cầu nối hai bờ đơn chiếc. Trong tập “ Từ vầng trăng mười sáu” dễ thương này ta có thể đọc xong trong bao lâu là tùy mỗi người, có thể đọc xong tập thơ trong vài chục phút, vài tiếng, vài ngày …hay vài tháng. Theo tôi, trong nó có chứa một hàm lượng thơ lớn và một khía cạnh nào đó nó cũng không dành cho đám đông vì nó thường có double code (song mã), về hình thức cấu trúc bốn câu, có lẽ không mới so với thơ truyền thống, nhưng nội hàm nếu qui chiếu với trào lưu “hậu hiện đại” nó vẫn có phần.
    Ta thử đọc một số bài trong 81 bài bốn câu:
    Giọt mồ hôi An Tiêm
    Thắng trùng trùng bão tố
    Giọt mồ hôi An Tiêm
    -Nhịp cầu dưa hấu đỏ.
    Thật vậy, giọt mồ hôi mặn chát của gã nông phu An Tiêm- Hoàng tử An Tiêm đã khuất phục trùng trùng bão tố…hay chiến thắng chính mình để những quả dưa “xanh vỏ đỏ lòng” làm nhịp cầu thơm thảo nối đôi bờ tin yêu thương mến.
    Thơ với ai đó có thể là một phương tiện hoặc họ đặt để cho thơ một cứu cánh nào đó, nhưng với Cao Xuyên tôi nghĩ trong đời sống của anh và từ “Vầng trăng mười sáu” không ít lần anh đã ngã lòng phải “vịn câu thơ mà đứng dậy” ( Thơ Phùng Quán), song ta vẩn thấy toát lên cái lạc quan nhi nhiên của tác giả:
    Ông nông dân thi sỹ
    Viết chơi bài thơ tình
    Chữ sặc mùi rơm rạ
    Mà nghe hồn long lanh.
    Như thể ta thấy tác giả không dụng công làm thơ vì thiên nhiên đã là thơ rồi:
    Sẵn bài ca – chim hót
    Sẵn mùi hương – hoa ngát
    Sẵn niềm yêu – tôi khóc
    …Và thế giới đăng trình.
    Đôi khi ta có cảm giác Cao Xuyên lấy thơ ra từ túi áo ngực trái, hoặc lấy ra từ đất trời không chút dụng công:
    Những đóm lửa trên cành
    Hoa lựu gởi về anh?
    Ồ !- chùm thơ nắng Hạ
    Thảo thơm chút duyên lành.
    Hoặc:
    Cành khô trắng hoa cò,
    Chiều sông lạnh câu hò,
    Bác tiều phu xuống núi

    Thế là thành thơ cho…
    Và ở đây ta thấy một nông thôn Việt Nam đầy tính ảnh viện và tính thơ:
    Sương lưng lưng bờ dậu
    Chiều tàn trên đọt cau
    Dáng gầy cô thôn nữ
    Về muộn, tóc cài sao.
    Thật là một khung hình đẹp và sang trọng biết bao, một khung hình mà nhà chụp ảnh nào cũng ao ước. Từ ngạc nhiên này đến cái dễ thương khác…nhưng cũng rất “triệt nghĩa” Thiền:
    Quì gối giữa Phật đường
    Lạy ông Phật dễ thương
    Như ngàn năm đã lạy
    Mùi hoa cau trong vườn
    Với người thơ, ông Phật – vị Đạo sư tót vời của cõi Trời cõi Người ( theo thế giới quan Phật giáo) kia thực sự là vị cha lành chung bốn loại ( Hóa sanh, thai sanh, noãn sanh và thấp sanh) và đức Phật gần gũi biết bao nhiêu, tự nhiên như mùi hoa cau trong vườn, tác giả đã vượt qua biên kiến tôn giáo, ý thức hệ…:
    Em là con Thiên Chúa
    Anh là con Phật Đà
    Mình kết hôn đi nhé
    Phật – Chúa thành sui gia.
    Cũng ở đây mỗi người gặp lại chính mình trong thơ Cao Xuyên hình ảnh thân thuộc xưa cũ và thoáng chút đạo vị:
    Ngồi đóng đinh quán cũ
    Phố phơi đầy xác Thu
    Guốc phơi dòn kỷ niệm
    Thoáng ba ngàn kỳ khu”
    Hoặc:
    Tiền kiếp nào xa xôi
    Em về trả nợ tôi
    Cái nợ tình lắt léo
    Trả là vay nữa rồi.
    Như bao nhiêu Người thơ khác, Cao Xuyên cũng dành một thời lượng lớn cho lao động thơ, suy tư thơ về tình yêu lứa đôi. Thoạt đọc, ta sẽ bật cười cho sự dối trá đáng yêu này :
    Chẳng có ai thất tình
    Tình yêu làm sao mất
    Và Cao Xuyên lại tự dỗ dành mình:
    Nó ẩn trong tim mình
    Để nuôi bền nhịp đập.
    Mà đúng vậy những thứ người đời cho là “được” và “mất” đó chỉ là sự đắp đổi và tình yêu chân thành sẽ lặn sâu vào tim mình làm cho ta vững vàng hơn, nuôi bền trong ta tình yêu cuộc sống…
    Và rất hiếm, song không phải không có-những tình yêu trong suốt, vô tư, vô ngã:
    Đóa lòng Nghi Lâm
    Đóa yêu nở thầm
    Đóa thơm vô sắc
    Đóa từ bi tâm.
    Ở một góc khác chúng ta gặp trong thơ Cao Xuyên sự bùng cháy thôi thúc còn ẩn chứa trong trái tim mình câu hỏi: – Ta về đâu?!
    Hai mươi năm đất cũ
    Chìm trong chuyện đời thường
    Thoáng EM về một tối
    Bỗng nhớ mình tha hương.
    Đại từ EM ở đây là một thứ Double code rất thú vị… Tuy nhiên ta thấy tác giả cũng điêu linh như bao đôi lứa khác :
    Hạt lệ thằng chăn trâu
    Rơi xuống thành mùa ngâu
    Giờ đã vào tháng bảy
    Mưa đầy trời …Em đâu ?!
    Hoặc:
    Có cơn mưa trái mùa
    Rạc rài qua phố nhỏ
    Có cuộc tình trái gió
    Khiến lòng ai trở trời.
    Hay:
    Cô sơn nữ vai gầy
    Gùi sương hồng xuống phố
    Má cô tương ánh hồng
    Sỏi ven đường nín thở.
    Sỏi bên dường nín thở hay Người thơ nín thở ?
    Qua 81 bài thơ, tác giả đặc biệt dành sự cảm thông và kính trọng cho những “mẫu thân” (chữ của thi sỹ Bùi Giáng). Người phụ nữ qua thơ anh là sự kính trọng, trân trọng, cảm thông và yêu thương…, những người ấy là mẹ, là chị, là vợ, là người yêu, là những người Em mà Cao Xuyên thương yêu quí trọng thật lòng chứ không phải chỉ bằng khẩu hiệu của những ngày lễ về phụ nữ. Tác giả thấu thị được sự yêu thương vô bờ của những người Mẹ Việt Nam đầy thương kính trong tình tự dân tộc -không biên kiến về ý thức hệ qua cuộc chiến tranh:
    Ngoài kia chiều đã tắt
    Mẹ thắp hương bàn thờ :
    Đứa nón cối, nón sắt !
    Thêm một ngày bơ vơ.
    Mẹ lại một lần nữa lo cho linh hồn những đứa con của mình bơ vơ, mà không biết là chính mình đang bơ vơ vì những đứa con của hai chiến tuyến đã mất đi vì chiến tranh…và Cao Xuyên cũng cho chúng ta thấy cái vĩ đại của Mẹ ở một góc khác:

    Chỉ một túp chùa cỏ
    Đuốc Tuệ làm linh thiêng
    Chỉ một vành nôi nhỏ
    Mẹ cho con Thiên đường.
    Ôi! Với tình yêu rộng lớn, Mẹ trở thành người có pháp thuật và quyền thuật dễ thương…
    Thuở còn nằm nôi ( dụng cụ bằng tre này đã mất dần trong thế kỷ 21) ai trong chúng ta không nghe câu ca Mẹ hát: “Đói lòng ăn nửa trái sim, uống lưng bát nước đi tìm người thương…” Một lần nữa bằng hình ảnh này Cao Xuyên đã đưa chúng ta tới một khung trời thật cảm động khiến ta nín thở vì xúc động bởi sự chân thành:
    Lại về đồi sim cũ
    Nửa trái cho no thèm
    Nửa trái đặt lên mộ
    Dâng hồn em khôn thiêng.
    Ở đây ta thấy bóng dáng của nhà thơ Hữu Loan, với đồi sim cũ và người vợ vắn số…có thể Cao Xuyên thay lời Hữu Loan chăng…?
    Lẩn trong những xúc cảm lãng mạn, ta còn nhận thấy ý thức công dân hay ý thức của một “sỹ phu” trong tác giả: nhất là với những những cuộc đời luân lạc bất hạnh, Cao Xuyên dành cho họ sự cảm thông rất mực:
    “…Lấy hiếu để làm trinh”
    Kiều ơi! Em đã chọn
    Mười lăm năm điêu linh
    Và niềm thơ nên trọn.
    Hoặc người phụ nữ ở bến Tầm Dương của xứ Trung Hoa xưa cũ kia:
    Trong thinh lặng hồn mình
    Bỗng cồn lên tiếng sóng
    Tiếng “xé lụa” Tầm Dương
    Nghìn xưa còn đồng vọng.
    Hay những thân phận hồng nhan đa truân ở thế kỷ 21 của xứ sở mình:
    Vứt em vào luân lạc
    Chưa kịp một yêu đầu !
    Thương cỏ đồng hoa nội
    Son phấn hãi hùng đau.
    Xuyên suốt 81 bài thơ, một pháp số mà có lẽ tác giả đã dụng công không ít…ta còn thấy hình ảnh hoa cau như một loại quốc hoa tượng trưng cho sự gắn kết thủy chung thân thuộc với đại đa số người Việt Nam mà anh hay nhắc tới: “Như ngàn năm vẫn lạy. Mùi hoa cau trong vườn.” hay “ Chiều tàn trên đọt cau…”. Đây có lẽ là một ám ảnh lớn của tác giả?
    Cổ kim hình như các tác giả lớn thường cố gắng chỉ ra cái “thường” và “ vô thường” của nhân sinh, theo như nhà văn Nguyễn Huy Thiệp thì: – Nghệ thuật nào cũng vậy, nó sẽ chẳng là gì nếu nó không góp phần truyền đến con người ta sự sống đang sôi động ngoài kia về cái “đang là” buộc họ tìm đến ý nghĩa của cuộc sống đang sôi động đó, để xác định vị trí của mình và bật lên câu hỏi: “ Ta là ai?…
    Qua : Từ vầng trăng mười sáu dù là tụng ca, bi ca, hay bình ca…ta đều thấy mầm sống mạnh mẽ nhú lên từ cay nghiệt cuộc đời, và về đâu? Luôn ẩn chứa giữa hai dòng chữ:
    Khô lạnh như ngọn giáo
    Tháp chàm đâm lên trời
    Hồn chàm vươn đá sỏi
    Hoa xương rồng nở tươi.
    Hoặc:
    Kẻ đến còn ngập ngừng
    Người đi chừng tiếc nuối
    Tình chia ngã ba sông
    Con đò nào chết đuối ?!
    Và :
    Ta nhặt cánh hoa rụng
    Về chưng lên bàn thờ
    Trong cái niềm tơi tả
    Ngát một làn hương thơ.
    Hay:
    Từ tiếng khóc chào đời
    Đến nấm mộ im hơi
    Ba vạn sáu dâu biển
    Thơ mãi là thơ thôi.
    Thơ chỉ mãi là thơ thôi, và chúng ta cứ đuổi mãi đến vô cùng…có chăng “…mua vui cũng được một vài trống canh” ( Kiều-Nguyễn Du). Tác giả lại dùng đại từ ngôi thứ hai: -EM để xâu chuỗi suy tư mình :
    Xâu từng hạt lệ đời
    Lệ nồng mặn em ơi!
    Đêm đêm lần tràng lệ
    Tụng câu thơ – nụ – cười.
    Và sẽ chẳng là gì nếu như sự tận hiến của người thơ không xao động một chút trên mặt hồ yên lặng của sự kiêu ngạo và vô tâm:
    Coi như là trớt quớt
    Bài thơ viết bao đêm
    Bao lửa lòng đã đốt
    Chẳng nhen hồng má em!
    Với góc nhìn của một độc giả “sính” thơ, ghi ra vài cảm nhận, dù sai dù đúng thì cũng là tấc lòng dù tấc lòng cạn cợt không thấu đáo bao nhiêu sự đời, sự người, sự thơ…! Xin cám ơn tác giả đã cho tôi được đọc một tập thơ gợi mở nhiều chiều kích cuộc sống và sang trọng( không phải sang trọng về hình thức).

    Tân thành, Trọng Xuân Nhâm Thìn 2012
    B’yên

    * Tập thơ TỪ VẦNG TRĂNG MƯỜI SÁU – Cao Xuyên NXB Thanh niên 2012

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s