TỔ QUỐC Ở TRƯỜNG SA


Tùy bút của PHAN THẾ CẢI

Đêm nay là đêm cuối cùng của năm cũ, người lính ở đảo Trường Sa lại thêm nổi nhớ nhà. Nổi nhớ ấy không làm anh và đồng đội lặng im, anh đang trải nổi nhớ trào dâng ấy lên cung đàn đàn bầu thánh thót. “Đàn bầu anh ai gẫy nấy nghe “nhưng tiếng đàn của anh lính không dành cho riêng mình, anh đang dành tiếng đàn ấy cho xứ sở quê nhà. “Cung thanh là tiếng mẹ, cung trầm là giọng cha“. Tiếng đàn bầu của người lính trẻ – chính là tiếng đàn đầu ViệtNam, tiếng thiêng liêng nhất của tổ quốc.

 Tiếng đàn bầu của người lính trẻ xoáy vào hồn những bậc đá xanh rêu, bay la đà trên mặt sóng. Tiếng đàn bầu rót hơi thở hùng tráng du dương vào cây phong ba trước sân nhà, tiếng đàn bầu bay qua biển rộng đến tận cùng non cao trở về cội nguồn sâu thẳm nhất. Tổ quốc ViệtNamtươi đẹp vô ngần, thuỷ chung vô ngần, nhân nghĩa vô ngần trong tiếng đàn bầu. Người lính trẻ vẫy lên cung đàn ấy chứa bao nhiêu pho cổ tích thần thoại.Từ trong tiếng đàn bầu lịch sử dân tộc hiện ra, từ trong tiếng đàn bầu  hồn cốt dân tộc Việt Nam hiện ra.Tôi biết ở nơi đảo xa này không có cô gái nào ngồi bên song cửa để “nghe lén” tiếng đàn bầu của anh. Nhưng dưới luỹ tre làng, dưới mái nhà bình dị nơi miền quê nắng lữa mưa chan kia có một “trái tim thôn nữ” đang khắc khoải với người lính Trường Sa. Người lính ấy cũng chân chất, hiền lành  đầy thông minh, giàu nghị lực quả cảm như chàng trai Thạch Sanh trong cổ tích. Tiếng kêu “Tích.. tịch.. tình tang..”làm thổn thức và si mê công chúa. Tiếng đàn  Thạch Sanh đó là  “tiếng thần linh” của ngay thẳng. Tiếng đàn Thạch Sanh đó là tiếng của “nhân nghĩa thắng hung tàn”. Tiếng đàn  Thạch Sạch gieo sâu và tâm khảm con người “điều thiện” bao giờ cũng thắng được “điều ác”. Dầu mã xà, trăn tinh, hay sự thâm độc với nhiều mưu ma chước quỷ  Lý Thông  cũng không át nổi và đè bẹp được tiếng đàn  Thạch Sanh. Tiếng đàn ấy là thước đo cao nhất của phẩm giá con người. Hồn thiêng của dân tộc ViệtNamtưới lên đất, tưới lên cỏ và tưới  lên cây đàn bầu tạo nên một sắc âm kỳ diệu muôn đời bất tử. Lẽ nào người lính Trường Sa lại không được hoá phép mầu nhiệm bằng những tiếng đàn này?

Tiếng đàn bầu người lính trẻ Trường Sa, lúc  ào ạt dồn dập lúc khoan thai lâm li sâu lắng. Tiếng đàn bầu như giục giã núi xa xích gần lại, biển xa xích gần lại, đầu đen máu đỏ đều con Lạc, cháu Hồng. Tiếng đàn bầu xui ta về với đất tổ Hùng Vương, với bà mẹ  Âu Cơ  sinh thành ra đồng bào ta từ trong bọc trứng. Thưở ấy năm mươi con lên rừng, năm mươi con xuống biển. Những đứa con đầu đội trời chân đạp đất Việt Namđã khai sinh ra nền văn minh lúa nước. “Ôi từ không tới có/ Xẩy ra như thế nào ” qua cung trầm cung bổng thời gian đều hiện hữu lên trong tiếng đàn. Tiếng đàn bầu thành những chiếc thuyền vô hình trong khoảng lặng mênh mông chở những người con xa xứ, những người con nửa đời phiêu bạt về lại với bến nước sông quê, về lại để ngắm “cây trúc xinh”, về lại để “ngồi tựa mạn thuyền”, về lại để ngắm ngôi chùa cổ kính. Nơi ấy có khoai ngọt sắn bùi, có bếp lữa chiều đông sưởi ấm. Có cối xay tre từ thuở xưa nặng nề vòng quay xay nắm thóc để nuôi con người Việt Nam lớn lên từ đó. Biết ăn, biết ở biết học bài học làm người từ đó. “Đất nước tôi thon thả giọt đàn bầu/ Nghe dịu nổi đau của mẹ/ Ba lần tiễn con đi hai lần khóc thầm lặng lẽ/ Các anh không về mình mẹ lặng im”. Mẹ của Việt Nam – mẹ của “đất nước sớm chắn bão dông, chiều trông nắng lửa, lao xao trưa hè một điệu ca dao”. Tiếng đàn bầu đã xoá dịu nổi đau của bao bà mẹ Việt Nam trong cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại. Bởi mẹ đã hiểu hơn ai hết giá trị của độc lập tự do dân tộc, một giá trị vĩnh hằng mà bất cứ giặc giã ngoại xâm nào nhân dân ta cũng vùng lên đánh bại. Vâng người lính trẻ Trường Sa trong những giờ phút nhớ đất liền gửi về cho mẹ tiếng đàn bầu cũng giống như hình ảnh chiến binh hôm  nào ra trận. Tiếng đàn bầu người lính trẻ hôm nay hội tụ đầy đủ những khí chất binh hùng tướng mạnh. Bốn ngàn năm lại dồn nén lên tiếng đàn  cung bậc trầm hùng nhất. Ngỡ như trong tiếng đàn hồn thiêng của Lý Thường Kiệt lại bay về và tuyên bố dõng dạc với toàn nhân loại một lần nữa “Nam quốc sơn hà nam đế cư“. Ngỡ như trong đàn  có bóng hình Nguyễn Trải thức dưới trăng ngà chép binh thư. Ngỡ như trong tiếng đàn có tiếng hò reo vỡ trời của đạo quân Ngô Quyền trên sóng Bạch Đằng. Ngỡ như trong tiếng đàn bầu có tiếng ngựa phi xen lẫn tướng gươm khua người anh hùng áo vải Quang Trung. Đất nước bốn ngàn năm,  dân tộc bốn ngàn năm làm nên những sự tích anh hùng mà thanh thản và ung dung đỉnh đạc hơn bao giờ hết. Tiếng đàn bầu đã một thời bay dọc chiến hào Điện Biên Phủ, tiếng đàn bầu đã một thời bồng bềnh trên cánh võng Trường Sơn, theo gót những dấu chân du kích bưng biền Đồng Tháp.  Tiếng đàn như tiếng kèn, như hiệu lệnh để tất cả dân tộc ViệtNam hành quân ra tuyến lửa.

Đất nước đã thanh bình, biển trời quê ta đẹp như gấm hoa. Nhưng tất cả những người Việt Nam hôm nay đang hướng về Trường Sa, đang hướng về những người lính “áo màu xanh trứng sáo”  làm tiếp sứ  mệnh lịch sử mà cha ông giao lại. “Trường sa đất – một phần thân thể/ Trường Sa hồn – tổ quốc ở Trường Sa”. Không ai có quyền xoá đi tiếng đàn bầu Việt Nam và không ai có quyền chà đạp lên sự thật, phỉ báng sự thật  biến Trường Sa nằm trong “đường lưỡi bò” của kẻ “Đại Hán”. Người lính trẻ Trường Sa như cây phong ba trước bão gầm gió hú.Trái tim của người lính bao giờ cũng được sưởi ấm niềm tin từ máu thịt của đất liền. Niềm tin thắp sáng lên từ đôi mắt, ánh mắt đồng đội trao gửi, ánh mắt người thương trao gửi, ánh mắt cả dân tộc trao gửi  để nhìn rõ qua hàng trăm hải lý những “con ma đen ” đang ngày đêm rập rình giữa biển khơi. Trường Sa hôm nay đang trổi dậy một sức sống phồn thực như cây đàn bầu của người lính trẻ kia đang dào lên một khúc ca ngày mới. Một tấm chăn gửi tới Trường Sa, một can nước ngọt san sẻ cùng Trường Sa, một viên đá nghĩa tình gửi tới Trường Sa càng làm cho Trường Sa vững bức trường thành thế trận mới. Không có vinh quang nào không trải qua gian khổ. “Việt Nam ngời vinh quangViệt Nam Hồ Chí Minh” – tiếng đàn bầu người lính Trường Sa đồng vọng khắp hành tinh để nói mọi màu da rằng

Ôi tổ quốc ta yêu như máu thịt.

Như mẹ cha ta như vợ như chồng.

Ôi tổ quốc nếu cần ta chết.

Cho mỗi ngôi nhà ngọn núi con sông”
(Chế Lan Viên)

Tổ quốc ở Trường Sa và Trường Sa trong lòng tổ quốc.Ta mừng cho người lính trẻ ở Trường  Sa xuân này thêm một tuổi, thêm một lần cứng cáp giữa Trường Sa. Giữa muôn trùng sóng biếc, cả quê nhà đang thấy bóng hình anh dưới bóng cờ tổ quốc, trong mênh mông biển cả với cánh chim hải âu đang lộng lộng gió tự do, mát rượi hoà bình..

1- 2012

 

Advertisements

No Responses Yet

  1. Tôi là người lính năm xưa , năm 1969 hành quân suốt dọc đường 7 ( nghệ tĩnh) toàn đơn vị được các mẹ các anh các chị, em giúp đỡ rất tận tình, nhưng vẫn chủ yếu là các mẹ dọc sông Lam ngày ấy, chăm sóc như những đứa con ruột thịt của mình, các mẹ tự gội đầu cho một số chiến sỹ, cán bộ, coi như con chính mẹ đẻ ra. đất nước đã thống nhất, hòa bình đã trở lại nhiều năm, chỉ là người lính năm xưa, nay có lời tạ ơn. kính nhờ anh Tạo đăng giùm.
    MAI ĐÌNH BÁ
    maidinhba@yahoo.com

    Sông Lam ngày ấy

    “ Ai có biết nước sông Lam là trong là đục
    Thì biết sống cuộc đời là nhục là vinh
    Thuyền em lên thác xuống ghềnh
    Nước non là nghĩa là tình ai ơi”

    Tình với nghĩa, nghĩa tình sâu nặng
    nghĩa với tình son sắt thủy chung
    Trăm năm muối mặn là đây
    Nghìn năm gừng vẫn còn cay vị gừng
    Sông Lam nước chảy không ngừng
    Xanh trong soi bóng bao đoàn quân xa
    Sông Lam ai đã từng qua
    Biết bao tủi nhục đắng cay muôn phần
    Sống đời bĩ cực đã từng
    Để rồi sớm có những ngày thái lai
    Đường đi, đi tới tương lai
    Đất nước trọn vẹn bốn bề non sông
    Có ai đã nghĩ đến công
    Biết bao bà mẹ ngóng trông từng ngày
    Đoàn quân tiếp bước hăng say
    Mẹ nấu nước gội sẵn nồi nước xông
    Ngắm nhìn mẹ những cảm thông
    Các con đau mỏi khi hành quân qua
    Coi như con ruột trong nhà
    mỗi khi đau yếu mẹ dành cháo thơm
    Nghèo mà vẫn nhịn sẻ cơm
    Sắn lùi để lại mẹ ăn qua ngày
    Bốn mươi năm đã bấy nay
    Giờ con xin được có lời tạ ơn
    Dù rằng muộn ít còn hơn
    Những mong mẹ nhận lạy này của con

    Tp thái bình 5-2008 Bá vt-tb

    Chuyện cái ”ao” chung

    Anh thân mến, thưa anh” bành” thân mến
    Chuyện lâu rồi nay mới tỏ cùng anh
    Từ xa xưa tôi anh thấu ngọn ngành
    Nhà kề đó đã phân ranh rành rọt
    Cây cắm sào đất đã căng dây
    Vậy mà nay xảy chuyện đã tầy
    Cái ” ao” lớn tôi, anh, hàng xóm
    Từ ngàn xưa đâu có chuyện om xòm
    Mà giờ đây bao kẻ ngó người nhòm
    Tham nhận hết cả bên phần người khác
    Riêng phần tôi sao anh đứng cản ngăn
    Cấm đánh cá gây bao nỗi khó khăn
    Với lý lẽ thương thay mùa cá đẻ
    Để nó sinh, nó nở tồn vong
    Phải chăng anh lo lắng thực lòng?
    Hay chứa đựng tham lam đầy trắc ẩn?
    Nhận quàng xiên ao của riêng mình
    Cậy thế lớn ép tôi hàng xóm
    Nín nhịn nhiều nhẫn nại bao phen
    phải chăng anh chuyên bắt nạt quen?
    Hãy sớm bỏ thói xấu quèn quen đó
    Nên nhớ là đồng chí tốt của nhau
    Tôi anh là hàng xóm cũ của nhau
    Đừng nuốt hứa láng giềng thân thiện
    Bỏ ý tham luôn gây nhiều bất tiện
    Để “ ao” kia lặng sóng bình yên
    Phận phần tôi chỉ tôi mới có quyền
    Tùy đánh bắt bốn mùa không ai cấm ./.

    TB 11-7-2009- ao tức biển Đông

    Thư gửi anh “Bành họ trương”

    Ai đều biết tôi anh đồng chí
    Cũng biết là đối tác của nhau
    cũng lại là hàng xóm kề nhau
    Hơn thế nữa láng giềng thân thiện
    Hà cớ sao anh gây nhiều bất tiện?
    Phiền lòng tôi nay đã bao phen
    Anh cho tôi là kẻ yếu hèn?
    Gây khó dễ ấy điều anh quen thói
    Tiện thư đây lòng tôi muốn hỏi
    Tôi anh là đồng chí tốt của nhau
    Tôi anh là đối tác cũ của nhau
    Sao anh bắt thuyền dân tôi vô tội?
    Đòi chuộc tiền vô cớ vì đâu?
    Ngư dân tôi đau đáu nỗi sầu
    Cảnh ly tán gia đình khốn khó
    Thẹn hổ thay chữ vàng kia còn đó
    Nghĩa nặng tình dầy gian khổ có nhau
    Tôi mong anh sớm sớm mau mau
    Thả tất cả 12 người lương thiện
    Không lý do không qua điều kiện
    Bỏ mưu mô nham hiểm hại dân lành
    Thư tôi đây tha thiết đợi chờ anh
    Vì cuộc sống yên lành mong anh giữ
    Mười sáu chữ vàng hãy nhớ lấy đừng quên ./.

    TP-TB 22-7-2009
    bành họ trương – bành trướng

    Thư gửi anh ”bành” lần 2

    Anh thân mến thưa anh” bành” thân mến
    Phong thư này mong chóng đến tay anh
    vì thương yêu tới mọi dân lành
    Mà nhân đây ngọn ngành tôi muốn nói
    Không ra khơi thuyền dân tôi chịu đói
    Việc mưu sinh phải đánh bắt xa bờ
    Bỗng một hôm đau xót thật không ngờ
    Bão ập đến thuyền dân tôi mau tránh
    Anh dương súng không cho vào lánh
    Mặc chủ quyền đảo nhỏ cũ của tôi
    phải tới khi bão ập tới nơi rồi
    Anh mới chịu dân tôi vào trú
    Tình xưa kia mới chớ đâu đã cũ
    sao lỡ coi như một kẻ thù
    Đánh đập bạo hành dân có tội chi
    Giựt cướp đồ của cải lấy đi
    Cả dầu mỡ trong những thùng phuy
    Cũng ép gạn lấy cho bằng hết
    Ngang ngược thay chuyện tưởng như đã hết
    Tiếp dở trò chụp ảnh quay phim
    Phải chăng anh không có một trái tim?
    Của những người mang lòng quân tử
    Hành hạ dân lành anh đáng bậc tiểu nhân
    Thư tôi đây mong anh chớ lấn dần
    Đừng thế nữa quá tam ba bốn bận
    Dân tôi lành sẵn bỏ qua thù hận
    Vẫn bạn bè đồng cí tốt của nhau
    Và luôn là đối tác tốt của nhau
    Tình sâu đậm láng giềng thân thiện
    Tránh cho nhau những điều bất tiện
    Để luôn là chỗ dựa tin nhau
    Dân việt tôi, dân anh cùng chung sống
    Trong hòa bình của thế giới bình yên.

    TP-Tb 25-10-2009

    Nghĩa tình Lào Việt

    Đất nước Chăm Pa đất nước Lào
    Nhớ lại thủa xưa những năm nào
    Chia ba xẻ bốn khổ làm sao
    Dân tình đôi ngả xa chân bước
    Anh em nhà một rẽ bề chia
    Giờ đây chung ngả cùng chung lối
    Anh em sớm tối lại một nhà
    Chăm Pa vẫn rộ soi trong nắng
    Như hình với bóng chẳng hề xa
    Tình nghĩa nghĩa tình ta sâu nặng
    Việt Lào mang nặng mối tình sâu
    Hôm nay nhân tiện ngày xum họp
    Chúc các bạn Lào khỏe trẻ vui
    Cùng nhau xây đắp tình bè bạn
    Thủy chung son sắt mãi bền lâu
    Dù xa xa tít tận nơi đâu
    Loong Chẹng xa xưa mãi là đâu
    Xảm Thông ngày ấy hang ba cửa
    Coong tháp máu đào nhuộm cỏ cây
    Bạn ơi ta bạn đừng quên nhé
    Tình nghĩa ngàn đời mãi khắc ghi

    tp thái bình 3/2008

    Long Chẹng xưa

    Địch bủa vây bốn bề không lối thoát
    Mấy ngày rày khát đói vẫn dọa đe
    Đạn mang theo chặn đánh phải chia dè
    Bắn điểm xạ cho là hoang là phí ( 1)
    Đời lính ta bao yêu thương và quý
    khẩu mía héo gầy dành dụm xẻ chia ( 2)
    Băng đạn AK vơi súng còn kia
    Cũng đã được san đều cho đồng đội
    Quả US dành cho nhau giữa lối (3)
    Chặn địch trên đường ngăn chúng tấn công
    Cuộc vượt vây ta đã thành công
    Giữa sào huyệt địch hoang mang lo sợ
    Thiệt hại đã nhiều không diệt được quân ta
    Bao hiểm nguy quyết chí vượt qua
    Cả mặt trận đón mừng khôn xiết
    Cuộc sống ơi ta yêu người tha thiết
    Suốt chặng đường dài mới có được hôm nay./.

    tp thái bình 22-12-08

    (1) địch đông mà đạn ta đã cạn
    (2) trong lúc khát Cường cho khẩu mía
    (3) lựu đạn Mỹ tôi vay của Cường, đến giờ vẫn
    chưa trả được., thỉnh thoảng Cường vẫn đùa, đòi

    Một đời oan khuât

    Ngửa mặt lên than phận với trời
    Cúi xuống nhìn đời ôi cách biệt bao xa
    Ba mươi sáu năm qua thân phận đã già
    Chờ khuất núi trở về nơi cửa phật
    Nỗi oan này sao mãi còn che khuât
    Theo suốt cuộc đời đau nhói tim ta
    Chuyện ngày xưa mình bán chuộc cha (1)
    Nỗi oan gia kêu trời chẳng thấu (2)
    Còn ta đây vui buồn ai có thấu
    Bộc bạch lòng mình mong được bớt oan
    Để đời vui đỡ những lo toan
    Lòng thanh thản khi về nơi an nghỉ

    (1) kiều bán mình chuộc cha
    (2) oan này… kêu trời nhưng xa
    Tp Thái bình 25-9-2008

    ví một đời người

    Đời người ta khác chi một cung đường
    Đoạn thẳng tưng tưng đoạn quẹo cong
    Đoạn lao lên dốc lưng chừng núi
    Đoạn xuống thác ghềnh chốn vực sâu
    Ngẫm lại đời ta nay ở đâu?
    Đang thăng đang độ trên đỉnh dốc
    Hay cong hay quẹo chốn nơi mô
    Đường đời còn độ dài hay ngắn
    Vốn còn đọng lại mấy mùa Xuân
    Số trời định mệnh đâu là hẹn
    Việc tử bất kỳ chuyện đã quen./.

    tp thái bình 7-6-2009


    Thân phận

    buồn vui hay dở ở trong ta
    Khổ đau do lỗi ta tự chuốc
    Đau sót chua cay chịu một mình
    Không ai sẻ gánh cùng chung vác
    Chỉ một mình ta với ta thôi
    Con cái xa xôi chẳng ngóng trông
    Anh em ruột thịt ai mong đợi
    Cách trở dặm trường chẳng dễ lui
    Ngẩng mặt than thân trời chẳng thấu
    Cúi xuống đất dầy đâu có hay
    Phận trai sao nghĩ mình cô quạnh
    Phải chăng tài kém sống quẩn quanh./.

    tp-tb7-6-2009

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s