TỪ BI KHÔNG MÀU


Tùy luận của TRỊNH SƠN

Tôi không hề nhớ Bùi Giáng mất ngày nào. Có 2 người qua cuộc đời tôi như thế, là Trịnh Công Sơn và Nguyễn Huệ. Vì, có lẽ, họ chưa từng mất đi. Theo khái niệm liên hoàn của Công giáo, cái chết đồng nghĩa với quãng-chờ: Con đường mù tối để đi tới cánh cửa sự sống. Mới hôm qua tôi xem trên HBO có bộ phim THIÊN SỨ, thấy, những giấc mơ của mình có lý quá. Đã có lý thì làm sao là giấc mơ nữa? Tôi hồi hộp đón nhận ngày mới ngay dưới tầng mây che phủ mái nhà mình. Số phận mình, bạn đã bao giờ tự cho mình cái quyền chạy nhảy cà tưng trên đôi giày/dép/guốc bằng chất liệu của hôn phối hủy diệt?

Tôi không hề nhớ ngày nào Bùi Giáng mất. Còn trong tiềm thức tôi và trong tiềm thức anh em tôi, ông điên ấy mang dáng dấp một ông tiên, không cỡi mây mà cỡi thơ đến thành phố của phù hoa chật hẹp, thét lên mấy tiếng người rồi bỏ mặc chúng ta lại với mông lung cô quạnh kiếp người. Jean Paul Sartre đã ở đâu trong nỗi nhớ của tôi với người thi sĩ đất Quảng bốn phương tám hướng? Dạ thưa, Sartre chưa hề hiện diện. Nhiều và khá nhiều người cứ nhầm tưởng Sartre đã đến Việtnam và gieo lên mảnh đất này những hạt giống của tự do theo mùa Hiện sinh. Đúng hay không? Nếu ngẫm lại, tất thảy vai trò của văn nghệ miền Nam Việtnam đều dồn trên gánh vai của một số hiếm hoi nghệ sĩ – những đứa con của sự sống còn. Phạm Duy, Trịnh Công sơn, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng, Đinh Cường, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Đức Sơn, … Bấy nhiêu cái tên là bấy nhiêu tự do đơn chiếc đã mọc lên và oằn mình trong mưa sương gió tuyết tư tưởng để thành hình và bay. Họ bay qua tâm tưởng thế hệ, họ bay qua lồng chảo nóng rực lửa đạn chiến chinh, họ bay qua cô độc linh hồn ngày tận vong ảo não. Họ bay. Đôi cánh ấy, ai chắp cho? Heideger hay Platon? Chẳng có ai cả. Bản năng sống cộng với bản sắc giống nòi tạo ra một dòng phản kháng đẹp như mơ. Chúa trời đã từng khát khao để tạo ra vẻ đẹp ấy, nhưng rồi Ngài nhận ra rằng, Ngài thụ hưởng nó ít hơn là nó thụ hưởng Ngài. Ích kỷ chăng? Trong chừng mực nào đó, chúng ta nhận ra rằng nguồn sống vô biên này đang ghé thăm trái đất, vài món quà viện trợ và mấy tấm thiệp an ủi. Suốt mấy chục năm nay, kể từ 1973, đã bao nhiêu người tự ý thức được sức nặng của mình trên cán cân Tổ quốc? Ra đi và trở về như những mùa chim, lạ lùng thay, vết chim luôn luôn gắn bó với vết máu. Đỏ vũng thời gian và mái hiên neo đậu trái tim lở thương tật, liều thuốc nào để xoa dịu nỗi đau và trên hết là nỗi sợ cành cong? Tiếng hót hóa vào gió vào đời, chỉ còn tiếng giọt sống chảy rát rạt trên thân cây sinh linh đày đọa.

Tôi phát hiện ra, sốt là một trạng thức con người ta bức xé mình ra thành năm, bảy, mười, trăm ngàn vạn lần mình. Những bản sao y chang từ hình khối cho tới tâm giác bao vây lấy bản chính. Nghẹt thở và cầu cứu trong vô vọng. Người ta vận dụng mọi trí lực để thét gào với chính mình chứ không phải với bất kỳ đối tượng nào thuộc thế giới bên ngoài. Nghịch lý tứa ra chân lý. Chỉ có những bậc quân tử, trượng phu, hảo hớn mới có thể cân đong đo đếm từng bản sao, túm lấy chúng và diệt từng đứa một. Mình diệt mình. Thoát ngộ. Số tâm thoát ngộ không nhiều như sách vở vẫn hồ đồ mị dân bấy lâu nay. Kinh nghiệm của một đấng chân tu thường không được truyền lại cho hậu sinh, vì ngôn ngữ trở nên bất khả kháng trong ý đồ thu vén vũ trụ vào tâm mình. Sốt, diễn ra nhiều cuộc độc thoại, đối thoại đan xen và trùng lấp, đôi khi trở thành một cuộc hội luận lớn giữa bốn bề tư tưởng. Hốt nhiên, anh trở thành đối tượng của chính anh trên bàn mổ một bà mẹ chuẩn bị hạ sinh một mầm sống. Mọi thứ kiến giải bất lực trước khả năng siêu nhiên của một thứ protêin mà khoa học chư từng nhận tên chỉ mặt được: cấu trúc của trí. Trên sơ đồ phức hợp khổng lồ và thiên biến vạn hóa liên tục của loài vật chất này, có những đoạn ngăn ngắn phình to ra, như cách một củ khoai thành hình. Phận sự của chúng ta là khai mở cho những mùa vụ hiếm hoi ấy chảy ra, thấm hạt giống vào mùa mới. Sự luân chuyển tưởng như biến ảo muôn trùng nhưng thực ra bất biến, con mắt tầm thường chỉ có thể hoảng sợ và từ chối bước vào vòng huyền diệu ấy.

Bùi Giáng bước vào bước ra cái vòng huyền diệu ấy nhiều lần, nhiều đến nỗi có khi dợm chân bước ra lại tưởng mình đang bước vào. Cuộc đời hư hư thực thực nhưng không có cái thực nào hư và cũng không có cái hư nào thực. Trang Tử đạt đến thượng thừa tu tập, cái vòng mở ra cực đại bán kính và tâm là bất cứ cái chạm nào của ta vào mặt phẳng sống còn. Nới rộng hay thu hẹp biên độ tri giác tùy ý, tay này cầm quạt tay kia ôm lừa non, lại thấy tay này gãi đầu tay kia vuốt râu, lại thấy tay này vén mây trời tay kia vục sóng hồng góc bể – tưng bừng hành động trên khuôn voan màu sắc huy hoàng. Anh không còn là anh nữa! Anh đi tìm anh trong từng khoảnh khắc không khí sinh nở không ngưng làm đầy khu vườn bát ngát vũ trụ. Li ti tâm hồn anh trôi trên dòng gió. Cát bụi bì bõm ném lên phù phiếm xác thân anh một chữ “điên”. Đó, tảng đá lấp Kitô trở mình sau điệp trùng ngạc nhiên làm nên bí nhiệm về Thiên đàng và Ngày tận thế. Con người khi tự ý bước ra khỏi dòng cát bay gió nhảy của nhựa sống, sẽ vác lấy đôi cánh bản năng đi khật khưỡng say sưa trên đại lộ ý thức. Đèn đỏ đèn vàng đèn xanh, ngã ba ngã tư ngã năm ngã bảy không có mặt giữa bàn cờ mà tay trái thi thố sức mạnh với tay phải. Khi ấy, Bùi Giáng trồng cây chuối, chúc đầu xuống đất đưa hai chân lên trời, không phải để tiêu khiển tiếng cười nói thừa thãi nhân gian, cũng không hẳn để dốc tầm nhìn ngược ngạo vào đáy đời lưu lạc – Người đang thực chứng công phu Tiến-hóa-ngược đã phôi pha rồi mất tích từ thuở nền văn minh cổ Hy Lạp mới tượng hình. Một phần bí kiếp Người tiếp thu được ở thư viện nhà Albert Camus. Trục tiến hóa đã và đang luôn bị khai thác một cách thái quá về phía dương vô cùng – Từ Heraclite, Anaxagorax, Leucippe, Pytagore, Aristote, Socrate,… dường như đã bỏ quên một nửa của quy trình sống, hoặc đã bị hiểu lầm hoặc đã bị đánh cắp một nửa còn lại. Cái cây cứ biết mọc lên, đâm tua tủa ngọn vào bầu trời, khiến trái đất không khác gì mấy mảng da đầu bị ghẻ chóc với lổ chổ óc muốn chườn mặt ra của một đứa bé suy dinh dưỡng ở một nước độc tài chuyên chế. Ánh sáng chúng ta nhận được từ các vị triết gia vĩ đại theo cách con voi nhận từng cái mò mẫm sờ soạng của đám thầy bói mù. Trong khi cục diện khoa học ngày càng có thêm nhiều cuộc khủng hoảng về bản chất của sự sống và bản chất của sự tồn tại thì người ta cố tình đánh lạc hướng nhau bằng cách rọi đèn pin vào một đường hầm nào đó và nói rằng, chân lý dành cho kẻ khai mở được bóng tối ấy. Cánh cửa chúng ta bước vào bị khóa bởi câu thần chú “Vừng ơi, mở ra” nhưng lại được ghi chú rằng, nhấn nút màu đỏ để khởi động cuộc đời.

Sự sống là một cái nút.

Tình yêu là một cái nút.

Chiến tranh là một cái nút.

Anh là một cái nút.

Tôi là một cái nút.

Nó là một cái nút.

Hằng hà sa số nút lớn nút nhỏ nút vừa bày biện trước mắt chúng ta như sao trên trời, nhấp nháy sắc màu không kịp phân giải. Đối diện với quyền được lựa chọn là một cực hình. Bộ vi mạch cực kỳ xảo trá nối những cái nút dẫn dụ chúng ta đi lạc trong chính bộ óc của mình. Từ bi không màu. Dục vọng không màu. Mắt con người là ngọn nguồn của màu.

“Bây giờ ngồi đối diện tôi

Còn hai con mắt khóc người một con”

Bùi Giáng cười hề hề hệt đứa trẻ nít khi nghe ca khúc “Con mắt còn lại” của nhạc sĩ họ Trịnh: Chu choa bây ơi, thằng Sơn nó làm tao chột một mắt rồi! Đáng kính thay, một thiên bẩm nhân hậu. Cái sự chột ở đây có khác gì hình dáng lá nho người ta e ấp vung vãi trên xác thân Adam, Eva? Có khác gì bản tình ca xóa lời để phiên nhạc thành chuỗi âm thanh mùa lá rụng? Có khác gì cái chết êm ái ghé thăm Người với pháo hoa cờ xí diễm lệ tống tiễn ngày sám hối? Có khác gì một tên lửa mang đầu đạn hạt nhân vừa phóng vào vũ trụ hòng đuổi theo một ánh sao xa?

Có khác gì?

Trường học hay dạy người ta rằng Phân biệt là căn nguyên của tiến hóa – tôi chưa bao giờ tin điều này. Đối tượng nghiên cứu của khoa học từ xưa đến nay không hề có sự tiến hóa, mà chỉ có sự khác nhau. Con người với con vật. Cỏ cây với muôn thú. Da trắng với da vàng. Tĩnh với động. Đẻ trứng với đẻ con. Hai chân hai tay với bốn chi… Đó không phải bằng chứng của tiến hóa. Càng không thể khẳng định tiến hóa đã có mặt ở hành tinh này. Còn nhớ thời ấu nhỏ, tôi thường có những giấc mơ nối tiếp nhau ngày này qua ngày nọ, tháng này cộng tháng kia, năm trước chờ năm sau. Sau nhiều thời gian cố ý tìm hiểu và ghi lại những giấc mơ ấy, tôi thấy, chúng là một cuộc-đời-khác của tôi chứ không chỉ giản dị như cách C.Jung hay S.Freud mổ xẻ. Càng lớn, những giấc mơ kiểu ấy thưa thớt dần, có khi vắng mặt rất lâu. Tôi nhớ chúng, nhớ cuộc-đời-khác của mình đến nỗi bỏ bê cuộc-đời-hiện-có để đi tìm. Tìm ở đâu? Chằng có học giả nào trả lời. Chẳng nghe người nào lên tiếng. Rơi về phía tôi là vài váng vất thương hại, cảm thông như những ông cha xứ đành quay lưng với con chiên bị quỷ ám. Cho đến một ngày tôi đọc được một lá thư của một cái cây gởi cho một bông hoa: “Cuộc-đời-khác ấy đã chết! Cứ đi tìm nó, nếu muốn. Đi tìm cuộc-đời-khác chính là một cách sống cuộc-đời-này”. Ám ảnh tôi mãi, Hoàng tử Bé! Bùi Giáng mẫn cảm và sáng suốt hơn hết thảy mọi triết gia đã có. Những lá thư vội vội vàng vàng Người ghi sổ bè bạn, gởi đến cho muôn sau niềm sâu sắc của vỏ sò thiên thần tát biển. Tát cạn tâm trí mình trước khi bạn muốn vục gàu vào giếng bản thể nào khác.

Tôi không thể nhớ Bùi Giáng mất hay chưa. Người tồn tại bằng sự không-tồn-tại nên chẳng bao giờ có chủ nghĩa, lý thuyết nào có thể cắt nghĩa, giảng giải, phân định về Người – nói chi là HIỂU.

Người ta hiểu những gì tôi hiểu. Người ta cũng hiểu những gì tôi không-hiểu. Đặt niềm tin vào điều-không-thể-tin là thỏa hiệp ngượng ngùng nhất của chúng ta với thời gian.

Bà Rịa, 24/10/2011

TS.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s