• Chuyên mục

  • Các bài viết nổi bật

  • RSS Hội Ngộ Văn Chương

    • TEX 07.11.2018
      123
    • Phùng Gia Lộc và Nguyên Ngọc 08.09.2018
      ĐÕ NGỌC THỐNG Thế là đúng 30 năm tính từ khi bài kí “Cái đêm hôm ấy đêm gì” (1988) của Phùng Gia Lộc (PGL) xuất hiện trên tờ Văn nghệ. Ngày ấy nhà văn Nguyên Ngọc làm Tổng biên … Tiếp tục đọc →
    • Tâm sự vô lối của kẻ vô lối từ trường Viết văn Nguyễn Du 29.08.2018
      Vũ Gia Hà Tôi viết những dòng này gửi đến các bạn có ý muốn theo đuổi văn chương, báo chí. Những tâm sự này, tôi viết khi chuẩn bị ra trường vào hồi tháng 6 năm 2013, được cả … Tiếp tục đọc →
    • DƯƠNG TƯỜNG, BẢN NHÁP CHIỀU TƠ LIỄU 28.08.2018
      Nguyễn Đức Tùng Trong khi chúng ta quay đi, thế giới thay đổi. Những liên kết nhảy vọt trong thơ Dương Tường tạo ra các ảo ảnh. Đó là chuyển động nhanh từ một hình ảnh này đến hình ảnh … Tiếp tục đọc →
    • LỜI BẠT NHẠC SĨ NGUYỄN VIỆT ĐỨC 23.08.2018
      NGUYỄN TRỌNG TẠO Nói đến Nguyễn Việt Đức là nhớ đến một nhạc sĩ thời đương đại, thời của chúng tôi. Hồi những năm 80 thế kỷ trước, cái người bộ đội Phòng không – Không quân yêu văn nghệ … Tiếp tục đọc →
    • Ngâm Thơ Và Nghe Ngâm Thơ Việt Nam 21.08.2018
      THẠCH CẦM Ngâm Thơ Và Nghe Ngâm Thơ Việt Nam Phần I : Ngâm Thơ I.                   Xuất xứ từ “ngâm ” và những cụm từ liên quang “ngâm nga, ngâm vịnh, ngâm thơ “. 1.     Ngâm – 吟 là từ Hán Việt. Có nghĩa … Tiếp tục đọc →
    • TÍNH ĐẶC SẮC CỦA ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG HUẾ 21.08.2018
      NGUYỄN TRỌNG TẠO – VIỆT ĐỨC NTT – Hơn 26 năm trước, có một cuộc hội thảo về Di sản văn hóa phi vật thể vùng Huế do UNESCO tổ chức tại Huế. Nhận lời mời của bà Giám đốc UNESCO, … Tiếp tục đọc →
    • Trần Tiến âm nhạc là ngẫu hứng 19.08.2018
      HỒ VŨ KHÁNH LINH Âm nhạc là cuộc sống Âm nhạc xuất phát từ cuộc sống, để rồi quay về phục vụ cuộc sống. Âm nhạc từ buổi sơ khai là những âm thanh độc đáo mà giản dị bật … Tiếp tục đọc →
    • ĐÊM NHẠC NGUYỄN TRỌNG TẠO VỚI GIÁNG SON “CỎ VÀ MƯA” 14.08.2018
      NGUYỄN TRUNG HỢI Nhà thơ, nhạc sĩ đa tài, đa tình Nguyễn Trọng Tạo, người con của quê hương xứ Nghệ, có thể nói anh là một người rất hiếm của Việt Nam vừa nhà thơ, vừa là nhạc sĩ. … Tiếp tục đọc →
    • Nguyễn Trọng Tạo lại hát khúc sông quê 11.08.2018
      NGUYỄN THỤY KHA (Người Lao Động, 05/08/18 04:00 GMT+71) Một việc ngỡ không thể ở một người vừa bị đột quỵ đúng nửa năm trời lại trở thành có thể: Tạo lại khởi sự một đêm thơ nhạc của mình … Tiếp tục đọc →
  • RSS Blog Quê Choa

    • Quê Choa chí dị 25.04.2021
      1. Đài thôn thông báo: A lô a lô… chiều ngày 16 tháng 5 năm 1965 em Ngô Thị Lý học sinh lớp 10 đã thắt cổ tự tử. Em Lý chết vì mắc bệnh hoang tưởng, quá sợ bị người ta hiếp. Qua vụ việc này thôn yêu cầu các gia đình có con […]
    • Tiếng kèn trompet 25.04.2021
      “ Xin hát về bạn bè tôi Những người sống vì mọi người…” (Lời một khúc ca) Khi đó anh ngư­ớc lên, ngơ ngác tr­ước. Mênh mông cát trắng. Em chỉ đứng cách anh có một quãng, sau một mô cát cao, thế mà anh chẳng thấy. Anh đi. Rồi chạy. Nhìn bóng anh cuống quýt […]
    • Đường đời không lối rẽ 25.04.2021
      Hai mươi năm trước tôi làm ở tạp chí Cửa Việt, tờ văn nghệ địa phương thôi nhưng được cả nước biết tới, thích lắm, tự hào nữa. Trước tết khoảng hai tháng bao giờ tôi cũng mò ra Hà Nội, vừa moi bài vở vửa tận hưởng mùa lá rụng và nhấm nháp chút […]
    • Những giấc mơ phải gió 25.04.2021
      Có hơn chín ngàn đêm tôi mơ thấy nàng. Khi nàng chỉ thoáng qua trong giấc mơ phù phiếm nào đó, khi nàng là nhân vật chính trong giấc mơ thật ly kỳ hấp dẫn giật gân kiểu truyện trinh thám An Nam chẳng may tôi đọc được, hoặc một giấc mơ thật ai oán […]
    • Vọng trắng 25.04.2021
      Đêm suông buông lạnh người đâu Vu vơ hương đã nhạt màu tìm chi…? (Thơ Trần Anh Thái)             Năm m­ười sáu tuổi chị tôi đẹp nhất làng Đông. Đến năm chị tôi hai mươi sáu tuổi, làng Đông vẫn không ai đẹp hơn. Tuổi ấy ở quê tôi coi như­ đã ế chồng. Thế mà […]
    • Người đàn bà đau đớn 25.04.2021
      Chị khẽ hích vai tôi ra hiệu phải kiên trì bám trụ trong cuộc nhậu tơi bời kéo dài mười sáu tiếng đồng hồ chưa có dấu hiệu kết thúc, do chồng chị- người đàn ông tuyệt hảo, người đàn ông toàn năng, người đàn ông hết sảy… đứng ra tổ chức.             Ông […]
    • Đò ơi! 25.04.2021
      Ngư­ời lái đò cắm sào đẩy con thuyền tiến thêm chừng một sải nước rồi nhảy xuống, neo thuyền vào một gốc cây bần mọc chìa ra ngoài mé nước. Nắng chư­a tắt hẳn, hãy còn vài giọt bấu víu trên những ngọn cây bần. Phía bên kia sông, một dải nước sáng vàng lấp […]
    • Truyện tình thảm thiết toàn T 25.04.2021
      Trần Thị Thu Thủy tên thật Trần Thị Thỏ, trú tại thôn Tám, Trảng Tranh, Tỉnh Thừa Thiên. Thủa thiếu thời, trí tuệ thì thường thôi, tuy thế, tính Thủy thật thà, thủ thỉ thù thì, thỏn thà thỏn thẻn, thật thương! Tới tuổi trăng tròn, Thủy tròn trặn, tư­ơi tắn, trắng trẻo, tay tròn […] […]
    • Đợi đến mùa hoa phượng 25.04.2021
      Em không thể chờ anh Mùa hoa phượng còn xa Xa hơn một đời người Em không thể chờ anh (Thơ của một nhân vật trong truyện) Vẫn ông hiệu trưởng gõ cửa nhà chị vào lúc khuya khoắt thế này. Trên tay cầm xị rư­ợu sắn, ông chui qua tấm cửa liếp, đứng giữa […]
    • Bốn mươi chín cây cơm nguội 25.04.2021
      Chỉ bước khoảng vài mươi bước chân, từ cái cổng sắt gỉ của một người bạn gái, chị đã giật mình nhận ra sai lầm của mình. Tại sao lại ngang nhiên rảo bước trên d­ờng m­a vào lúc gà sắp gáy nh­ư thế này? – Chị đứng khựng lại, ngoái cổ về phía sau […]
  • Khách trực tuyến

HOÀNG CẦM – BẤT CHỢT VĨNH HẰNG


NGUYỄN THẾ KHOA

Thi sĩ Hoàng Cầm – Ảnh: Nguyễn Đình Toán

“Anh nghe bất chợt dòng thơ vĩnh hằng”, đây là câu thơ khép lại bài thơ “Bất chợt vĩnh hằng” trong  chùm thơ “Điệu lý cuối đời” của Hoàng Cầm (tập thơ “Đến từ hư không”). Cuộc đời nhà thơ Hoàng Cầm là tập đại thành những “Bất chợt vĩnh hằng”: Bất chợt vĩnh hằng “Kiều Loan”, Bất chợt vĩnh hằng “Bên kia sông Đuống”, bất chợt vĩnh hằng “Về Kinh Bắc”, bất chợt vĩnh hằng ánh mắt cả tin và nụ cười thơ trẻ… Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha, bạn vong niên gần gũi của Hoàng Cầm những năm cuối đời, luôn có cảm giác “ông cứ đi như đi trong chốn không thời gian”. Cảm giác ấy có lẽ càng rõ ràng hơn bao giờ hết không chỉ với Nguyễn Thụy Kha mà với tất cả những ai đã từng gặp gỡ Hoàng Cầm, đã từng yêu thơ Hoàng Cầm, ngày 6/5/2010,  khi nghe tin nhà thơ ra đi, ở tuổi 89…

1

Còn nhớ những năm 2001 – 2003, khi tòa soạn tạp chí Văn hiến Việt Nam ở 1B Chân Cầm, Nguyễn Thụy Kha cùng làm việc với chúng tôi nên anh thường tụ họp bạn bè ở đây. Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Đình Toán, Nguyễn Hoa, Bằng Việt, Hoàng Trần Cương, Tuyết Nga, Ngọc Đại…và thường xuyên hơn cả là nhà thơ Hoàng Cầm. Đơn giản vì nhà Hoàng Cầm sát ngay đấy, ở 43 Lý Quốc Sư, và Nguyễn Thụy Kha thì luôn muốn có ông trong mọi cuộc vui của anh. Kha nói: “Phải để Cụ được vui chơi cho bõ những ngày khốn khổ”. Có lúc Kha thầm thì khoe: “Cụ vẫn còn “yêu” được nhé, oách lắm”. Đã qua tuổi 80, đời luôn nghèo túng, lại nhiều rủi ro, oan trái nhưng Hoàng Cầm vẫn đẹp lạ thường. Mảnh khảnh thư sinh, khuôn mặt búp sen hồng hào, môi đỏ tươi, mắt xanh biêng biếc, nhà thơ “Bên kia sông Đuống” đến với đám văn chương hậu sinh hâm mộ mình như một bạn đồng niên nhút nhát, ông ít nói, lẳng lặng lắng nghe mọi người lớn tiếng bàn chuyện văn chương, thế sự và chỉ cười, với nụ cười quen thuộc trong câu thơ thủa nào ông viết về người mẹ quan họ “hàng xén răng đen” của mình, nụ cười “như mùa thu tỏa nắng”.

Nhờ thế, nhưng năm đó, tôi hay được gặp nhà thơ Hoàng Cầm và thỉnh thoảng được trò chuyện cùng ông. Tôi có dịp kể với Hoàng Cầm rằng cuối những năm 1960, ở nơi sơ tán của khoa Ngữ Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội trên vùng rừng núi Thái Nguyên, tôi và Bế Kiến Quốc từng ứa nước mắt khi đọc được câu thơ “Cúi lạy mẹ cho con về Kinh Bắc” và đã cùng thức trắng nhiều đêm để chép lại toàn bộ tập thơ “Về Kinh Bắc” từ bản chép tay không biết Quốc mượn được của ai. Hoàng Cầm thì bảo ông rất thích tờ tạp chí mà chúng tôi đang làm. Ông ân cần chia sẻ: “Tay trắng khởi nghiệp, khó đấy, khổ đấy nhưng đừng nản. Sẽ ngày càng có nhiều người ủng hộ, phải làm cho xứng với cái tên Văn hiến Việt Nam”. Rồi Hoàng Cầm bày tỏ sự ủng hộ của ông bằng cách liên tiếp đem đến cho chúng tôi nhiều bài viết thật hay: “Men đá vàng”, “Mở lối về cõi xưa Kinh Bắc”, “Sông Đuống bắt nguồn từ đâu?”, “Đường ta ta cứ đi”, “Múa sạp thấu lòng Tử Phác”, “Màn quan họ mừng chiến thắng Điện Biên và đại tướng Nguyễn Chí Thanh”, “Ngày trở về Hà Nội”…những bài viết làm nên vệt sáng Hoàng Cầm trên tạp chí Văn hiến Việt Nam thủa ban đầu.

2

Sau khi đỗ tú tài toàn phần ở trường Thăng Long nổi tiếng của Hà Nội, Hoàng Cầm đã bước vào hoạt động văn chương báo chí ở Tân Dân xã của nhà viết kịch Vũ Đình Long với việc dịch và phóng tác các tác phẩm nổi tiếng của Lamartine, Andersen, Nghìn lẻ một đêm…Hoàng Cầm thực sự xuất hiện trong văn chương nghệ thuật nước nhà không phải bằng thơ trữ tình mà bằng kịch thơ. Đầu tiên là kịch thơ “Hận Nam Quan”viết năm 1942, năm ông 20 tuổi, phục hiện cuộc chia tay lịch sử của cha con Nguyễn Phi Khanh – Nguyễn Trãi với những câu thơ cháy bỏng lòng yêu nước và ý chí độc lập dân tộc:

Giống Đại Việt không bao giờ hèn yếu,
Tự nghìn xưa ngẩng mặt lên trời cao…
Những trang sử đẹp như vàng với ngọc
Bóng muôn đời không thẹn với trăng sao

Cuối năm 1942, Hoàng Cầm viết tiếp kịch thơ“Kiều Loan”. Với câu chuyện về số phận bi thương của nàng Kiều Loan thời cuối Tây Sơn đầu Nguyễn, thời nhiễu nhương bậc nhất trong lịch sử dân tộc, “Kiều Loan” của Hoàng Cầm đã dựng lên một tấn kịch lớn về xung đột  không khoan nhượng giữa người yêu nước và kẻ bán nước, giữa anh hùng và tiểu nhân, giữa lòng trung chính và sự phản trắc, giữa sự thức thời và thói cơ hội, giữa cái thiện và cái ác, giữa tình riêng và nghĩa cả:

Nguyễn Huệ cớ sao thành phản nghịch

Để loài mãi quốc dựng ngôi vua…

Chí lớn từ xưa chôn chật đất

Riêng đàn đom đóm lại thênh thang

Nếu “Hận Nam Quan” mới như hoạt cảnh thơ ngắn đơn giản với chỉ hai nhân vật thì “Kiều Loan” là kịch thơ bề thế 5 hồi với kết cấu chặt chẽ, sự phát triển xung đột kịch đầy éo le, bất ngờ, hệ thống nhân vật có tính cách và số phận khá phức tạp, đa dạng, ngôn ngữ thơ tài hoa, sáng tạo, hài hòa giữa tính thơ và tính sân khấu.

Ở giai đoạn nở rộ của kịch thơ trong văn chương kịch nghệ nước nhà (1940 -1960), trên nền mấy chục tác phẩm của nhiều thi sĩ lừng danh như Nguyễn Bính, Yến Lan, Phạm Huy Thông, Vũ Hoàng Chương, Lưu Quang Thuận, Nguyễn Đinh Thi, Lưu Trọng Lư…“Kiều Loan” của Hoàng Cầm và “Cung phi Điểm Bích” của Hoàng Công Khanh đã bứt lên thật xa, trở thành hai tác phẩm tiêu biểu nhất.

Ngay khi vừa viết xong, giữa năm 1943, Hoàng Cầm đã định tổ chức một Ban kịch để đưa “Kiều Loan” lên sân khấu tại thị xã Bắc Giang quê hương nhưng kịch bản đã bị Công sứ Pháp ở đây là Luciani gạch bỏ. Cuối năm 1943, Ban kịch Hà Nội của Chu Ngọc cũng định dựng diễn “Kiều Loan” giữa Hà Nội nhưng ý định không thành vì kịch bản lại bị Phủ Thống sử Bắc Kỳ bác khi kiểm duyệt.

Phải đến khi Cách mạng tháng Tám thành công, khi Hoàng Cầm đưa “Kiều Loan” đến Hội Văn hóa Cứu quốc, tính nhân văn và tính cách mạng của tác phẩm đã được những người lãnh đạo như Đặng Thai Mai, Nguyễn Huy Tưởng, Nam Cao, Nguyên Hồng hết sức khen ngợi và khuyến khích dàn dựng. Ban kịch “Đông Phương”do Hoàng Cầm và họa sĩ Hoàng Tích Chù, nhà văn Kim Lân cùng hai đạo diễn Trần Hoạt, Hoàng Tích Linh thành lập từ tháng 9/1945 lên ngay kế hoạch dàn dựng “Kiều Loan”.  Rất nhiều bậc tài danh của giới văn nghệ thủ đô lúc ấy đã tự nguyện chung tay chăm lo cho ngày ra mắt vở kịch thơ này. Nhà thơ Trần Huyền Trân, Trưởng Ban kịch “Tháng Tám” đang thành lập, cho mượn ngay cô đào chính tuyệt vời tài sắc Tuyết Khanh để đảm nhận vai chính Kiều Loan. Họa sĩ Tô Ngọc Vân vẽ bìa cho program quảng cáo. Các họa sĩ Nguyễn Tiến Chung, Nguyễn Sĩ Ngọc, Nguyễn Đình Hàm, Hoàng Tích Chù, Hoàng Lập Ngôn mỗi người mổi việc tham gia lo phục trang, trang trí, hóa trang. Các nhà văn Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng luôn đến động viên ban kịch tập luyện. Hai nhà viết kịch Trúc Đường, Lưu Quang Thuận viết báo tuyên truyền trước cho vở.

Một ngày chủ nhật cuối tháng 11/1946, “Kiều Loan” hiện diện rực rỡ trên sàn diễn Nhà hát Lớn Hà Nội suốt hơn bốn tiếng đồng hồ trong sự bàng hoàng ngây ngất của khán giả thủ đô. Tuy vì tình hình chiến sự căng thẳng, “Kiều Loan” không thể có 5 buổi diễn như dự định mà chỉ diễn được một buổi duy nhất, nhưng có thể nói, cùng với “Bắc Sơn” của Nguyễn Huy Tưởng (được dựng diễn trước đó, ngày 6/4/1946, cũng tại sân khấu Nhà hát Lớn Hà Nội), “Kiều Loan” của Hoàng Cầm là hai vở diễn đánh dấu sự ra đời của sân khấu cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Một sự ra đời thật đáng tự hào…

3

Như vây, bắt đầu từ “Kiều Loan”, tác phẩm lớn viết ở tuổi 20, được chính Hoàng Cầm và bạn bè cho ra mắt đông đảo công chúng trên sân khấu sang trọng của Nhà hát Lớn Hà Nội trong “cái thủa ban đầu lưu luyến ấy/nghìn sau chưa dễ mấy ai quên” của nền dân chủ cộng hòa, Hoàng Cầm đã trở thành một trong những người đặt nền móng của nền văn nghệ mới không chỉ với tư cách một nhà thơ mà còn với tư cách một người hoạt động nghệ thuật trình diễn. Từ ông bầu của Ban kịch “Đông phương”, với các vở diễn “Bóng giai nhân”, “Hận Nam Quan”, “Lên đường”, “Kiều Loan” lưu diễn ở Hà Nội và các tỉnh vùng ven những năm đầu độc lập và kháng chiến, giữa năm 1947, Hoàng Cầm đã gia nhập Vệ quốc đoàn tại chiến khu 12. Tại đây, được sự khuyến khích của Chỉ huy trưởng Lê Quảng Ba, ông đã tập hợp bạn bè văn nghệ lập nên Đội Tuyên truyền Văn nghệ của Chiến khu gồm 11 anh chị em đem các tiết mục ca múa nhạc kịch đến phục vụ từng đơn vị Vệ quốc đoàn, dân quân du kích và nhân dân khắp bốn tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Hải Ninh. Đây được coi là đội Văn công đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ít lâu sau, Đội Tuyên truyền Văn nghệ này phát triển thành Đoàn Văn công Quân khu Việt Bắc của tướng Chu Văn Tấn. Bài thơ “Đêm liên hoan”, bài thơ nổi tiếng đầu tiên của Hoàng Cầm trong những năm đầu kháng chiến thực ra là một tiết mục đối thoại thơ rất được ưa thích của Đoàn:

Đêm liên hoan, trời đầy sao vinh quang

Đầu nhấp nhô như sóng bể ngang tang

Ta muốn thét cho vỡ tung lồng ngực

Vì say sưa tình thân thiết Vệ quốc đoàn

Chính Hoàng Cầm và nhạc sĩ Phạm Duy trong hai vai chiến sĩ Vệ quốc đoàn, một miền xuôi, một miền núi đã ngâm diễn bài thơ này trong đêm liên hoan mừng cuộc gặp mặt giữa các đơn vị chủ lực của Quân khu với đại biểu nhân dân Việt Bắc tại Thái Nguyên cuối năm 1947, được cả chục ngàn người xem hoan nghênh nhiệt liệt. Cần nói thêm:  Hoàng Cầm không chỉ là một thi sĩ bẩm sinh mà còn là một nghệ sĩ biểu diễn bẩm sinh. Phạm Duy nhớ: Hoàng Cầm có một giọng ngâm thơ trác tuyệt với khả năng diễn cảm kỳ lạ. Trong suốt những năm kháng chiến chống Pháp, ông là giọng ngâm thơ rất được hâm mộ và “Oanh vàng Kinh Bắc” là biệt hiệu bạn bè dành tặng giọng ngâm thơ của ông

Năm 1952, Hoàng Cầm được cử làm Trưởng ban Chuyên môn cuộc tập huấn văn công toàn quân dài ngày tại Việt Bắc với sự tham gia của hơn 600 diễn viên, cán bộ chuẩn bị phục vụ các chiến dịch lớn trong năm 1953-1954. Cũng trong năm đó, ông được đại tướng Nguyễn Chí Thanh điều lên làm Trưởng đoàn Văn công Tổng cục Chính trị và đảm nhận chức vụ này cho đến khi về tiếp quản thủ đô.

Như vậy, gần như trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, Hoàng Cầm đã là người sáng lập và thủ lĩnh của Văn công Quân đội. Trên cương vị này, Hoàng Cầm là người tiên phong trong việc khai thác, phục hồi, phát triển các tinh hoa nghệ thuật dân tộc, làm nên những tiết mục biểu diễn mới hết sức hấp dẫn, tiêu biểu là các tiết mục múa sạp, xòe, quạt, lượn, nón và hoạt cảnh “Đôi lời quan họ” gom đủ những “Mời trầu”, “Lý cây đa”, “Cây trúc xinh”, “Qua cầu gió bay”, “Ngồi tựa song đào”, “Trống cơm”, “Hoa thơm bướm lượn”, “Người ở đừng về”…

Ở tư cách một nhà thơ, sau những sáng tác sinh động, kịp thời rất được bộ đội và nhân dân ưa thích như“Đêm liên hoan”, “Khóc anh Lê Lương”, “Tiếng hát sông Lô”, “Tâm sự đêm giao thừa”, Hoàng Cầm vụt sáng với “Bên kia sông Đuống”, bài thơ làm nên một trong những đỉnh cao của thơ ca kháng chiến, bên cạnh những “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi, “Tình sông núi”, “Nhớ máu” của Trần Mai Ninh, “Màu tím hoa sim”, “Đèo Cả” của Hữu Loan, “Đồng chí” của Chính Hữu…

4

Em ơi buồn làm chi

Anh đưa em về sông Đuống…

Bài thơ “Bên kia sông Đuống” đánh dấu sự bừng thức của Hoàng Cầm về quê hương. Trước đó, dù đã sáng tác khá nhiều văn thơ kịch, Hoàng Cầm gần như chưa hề viết gì về quê hương. Ông chưa biết những ký ức của 12 năm thơ ấu và niên thiếu sống ở quê hương Phúc Tằng, Việt Yên, Phủ Lạng Thương, Song Hồ, Thuận Thành, Lang Tài, giữa các dòng sông Đuống, sông Cầu, sông Thương, bên những Thiên Thai, Bút Tháp, Đồng Tĩnh, Huê Cầu, với “nét tươi trong” của tranh Đông Hồ và vẻ duyên dáng của “những cô nàng môi cắn chỉ quết trầu”, “mặc yếm thắm”, “thắt lụa hồng”…đã ẩn rất sâu vào tâm hồn mình. Chỉ đến khi nghe tin quê hương lọt vào tay giặc, đang từng giờ từng phút bị tàn phá, dày xéo, yêu thương và căm giận cuồn cuộn trào dâng, tất cả những ký ức đó chợt sống dậy mãnh liệt, ào ạt tràn ra ngọn bút, giúp ông một đêm đã làm nên một “Bên kia sông Đuống” chấn động tâm can mọi người Việt Nam yêu nước. “Bên kia sông Đuống” đã làm Hoàng Cầm hiểu ra một điều quan trọng: quê hương Kinh Bắc chính là điều kỳ diệu nhất tạo hóa ban tặng ông, là “thiên mệnh” thơ của ông. Từ đó, dòng thơ về quê hương của ông bắt đầu tuôn chảy với “Tiếng hát quan họ” (Trường ca, 1956), “Trương Chi” (Kịch  thơ, 1957), “Men đá vàng” (Truyện thơ, 1989), “Mưa Thuận Thành” (1991), “Lá diêu bông” (1993) và đặc biệt là “Về Kinh Bắc” (1960), tập thơ được coi là kiệt tác, là “thần thi” với 48 tuyệt khúc trong 8 nhịp tuần du tâm linh độc đáo, được viết ra trong những tháng ngày cô đơn tủi cực bế tắc nhất cuộc đời Hoàng Cầm, sau cơn bão Nhân văn …

“Về Kinh Bắc” có vẻ như một bách khoa thư về đất đai Kinh Bắc, văn hóa Kinh Bắc, lịch sử Kinh Bắc, con người Kinh Bắc trong tâm tưởng Hoàng Cầm. Trong đó gần như đủ cả những gì ta cần biết về cái nôi của văn minh sông Hồng, của văn hoá Việt Nam này: làng mạc, sông núi, cây cối, chim chóc, đền chùa, hội hè đình đám, chuyện “Trai đời Trần’, “Gái Hậu Lê”, chuyện Mỵ Châu, Ỷ Lan, Đặng Thị Huệ, Chiêu Hoàng, Ngọc Hân, chuyện “Sương Cầu Lim”, “Khói Yên Thế”, “Nước sông Thương”, “Mưa Thuận Thành”, chuyện chùa Dâu, Phật Tích, chuyện “hội Gióng”, “hội chen Nga Hoàng”, “hội Long Khám”, “hội Vân Hà”, “hội đền Tám vua đời Lý”….Riêng về đặc sản quan họ thì trước đó Hoàng Cầm đã có hẳn một bản trường ca nói rõ nó là tiếng hát tâm hồn tuyệt vời của những người nông dân khổ đau, nghèo khó:

Dù cô gái hái chè

Khuất dần trong lụa the

Có về cung chúa Trịnh

Tiếng hát không biết đi võng đào

Tiếng hát nghiêng chào

Bà chúa

Lấp lánh trở về

Nằm trong hoa cỏ đồi quê

(Tiếng hát quan họ)

Kinh Bắc trong “Về Kinh Bắc” của Hoàng Cầm còn là một Kinh Bắc riêng của ông. Như cái “Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng”, mỗi khi ai mặc vào đúng điệu thì đều như đang rập rờn trên sóng. Như những lá Diêu bông, cỏ Bồng thi, miếu Hai Cô, cầu Bà Sấm, bến Cô Mưa… không hề có ngoài Kinh Bắc đời nhưng lại lấp lánh kỷ niệm trong Kinh Bắc thơ của ông:

Em mười hai tuổi theo tìm chị

Qua cầu Bà Sấm, bến Cô Mưa…

(Qua vườn ổi)

Ngày mười bảy tuổi

Chót chơi đố cỏ Bồng Thi

Cỏ Bồng Thi phải cheo leo mỏm đá

Ù ù gió thổi…

( Cỏ Bồng Thi)

Từ không gian xa vời của truyện Lamartin, Andersen, của Nghìn lẻ một đêm, từ thế giới cao cả của những nhân vật kỳ vĩ như Nguyễn Trãi, Phi Khanh, Kiều Loan, từ không khí sục sôi ý chí “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” của các chiến sĩ Vệ quốc đoàn, Hoàng Cầm đã “Cúi lạy mẹ con trở về Kinh Bắc”, âm thầm trở lại với cuộc sống bình lặng với những con người thân thuộc gần gũi của quê hương mình. Và trong cuộc hồi hương thiêng liêng này, nhà thơ không chỉ thu hút mà còn làm thăng hoa hương sắc, hồn phách văn hóa Kinh Bắc cũng tức là hương sắc hồn phách văn hóa Việt bằng một “Cõi Kinh Bắc thơ” nửa hư nửa thực, vừa lạ vừa quen, anh hùng mà nghệ sĩ, mộc mạc mà diễm lệ, chân chất mà hào hoa, xưa cũ lại mới mẻ tân kỳ và bao giờ cũng rất quyến rũ, ám ảnh, luôn làm sững sờ ngây ngất các thế hệ Việt Nam.  

Ta con chào mào khát nước

Về vườn xưa hạt nhãn đã đâm mầm

Cây ổi giơ xương

                  chống đỡ mùa đông xập về

                                                              đánh úp

Ô này tám đỏ ra hoa  

Ta con chim cu về gù rặng tre

đưa nắng ấu thơ về sân đất trắng

đưa mây lành những phương trời lạ

về tụ nóc cây rơm

(Về với ta)

“Về Kinh Bắc” là tập thơ giúp ta thấm thía thế nào là dân tộc – hiện đại, thế nào là truyền thống – cách tân, các cặp phạm trù nhiều người vẫn thường nói nhưng cũng thường khi không hiểu rõ chúng. Hơn thế, với“Về Kinh Bắc”,  Hoàng Cầm đã làm cho thơ không chỉ còn là thơ mà đã là quê hương, là tâm linh, là văn hóa.

Làm được điều ấy chỉ có thể là Hoàng Cầm.

24/5/2010

Một phản hồi

  1. Anh The Khoa la nguoi viet ve san khau , co nhieu nam lam sep van nghe mien trung . Vay ma doc bai viet nay , toi thay anh kha gan gui va hoa nhap “lang Van” day chu ! Co dieu toi van chua thay Nguyen The Khoa viet ve Qui nhon-Nha Trang , noi anh tung nhieu nam gan bo ?
    Cong bang ma noi , anh viet ve Hoang Cam that su an tuong , noi len duoc su dong dieu giua nguoi viet va nguoi doc doi voi mot “Ong hoang tho tinh ” cua lang van Viet da di vao coi vinh hang !

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s