Trịnh Sơn: BẮC CẦU SÔNG THƠ


 BẮC CẦU  SÔNG THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠOTrịnh Sơn
1.

“Em sắp đặt anh vào ngăn n
Bên cạnh ngăn cuối thu
Khi ấy biển tràn vào khuya khoắt đèn công viên đủ sáng để yêu nhau
Bụi đời và tình nhân sắp đặt ngăn sợ hãi
Tiếng còi xe tím buốt một câu thề

Em đàn bà
Đơn giản vậy
Yêu em”

Gấp tập sách lại, tôi làm cuộc đối thoại lạnh lùng thật thà với người thi sĩ.
Tôi: – Đàn bà – Có cần định nghĩa lại hai chữ này không?

Thi sĩ: – Ai cũng có riêng mình một định nghĩa. Với tôi, Đàn bà – là Một Sinh sôi không theo định lý nào. Thăng hoa tình ái, Thủy chung tình yêu, Ngọt ngào Tình nhân… Tất cả đều hàm chứa một Nguồn gốc mà đã là Con người thì phải có: Đó là Tình mẹ!

Tôi: – Mẹ vĩ đại! Theo ông, Sinh thực thân xác và Sinh thực tinh thần có tách biệt nhau không?

Thi sĩ: – Duy trì và thể hiện theo thứ tự cảm xúc của mình cho thế giới hiện tại và tương lai, như một người cắm câu đêm vậy. Anh ta lầm lũi thả câu, nỗi sung sướng nhất không phải những tôm cua cá sáng hôm sau thu lượm được – mà chính là quãng thời gian đợi chờ. Trải qua – hay chính là Kinh nghiệm. Sinh thực không có ranh giới phân biệt Thể xác hay Tinh thần, đó là một kết cấu chất chồng theo chu kỳ (lặp lại). Trang trọng diệu kỳ hoặc Thô lỗ thấp hèn – dựa trên cung bậc nghĩ suy và ứng khởi kinh nghiệm. Tôi nói Ứng khởi chứ không phải Ứng dụng. Vì Kinh nghiệm thực chất không có ý nghĩa như một sự lặp lại chỉnh sửa thông thường.

Tôi: – Đàn bà hình như luôn được gắn với đê mê, nhục cảm. Ông lại nói Đàn bà là Sáng tạo. Vậy, Cô đơn có phải là một nhục cảm kéo dài của Đàn bà không?

Thi sĩ: – Cô đơn khởi nguồn Sáng tạo. Những năm tháng thiếu nữ không uổng phí để làm một cuộc chuẩn bị cao cả cho một người đàn bà. Ái ân, Sinh nở, Góa bụa – tích hợp kỷ niệm. Nhìn lại, người ta nhận ra: Kỷ niệm là Sáng tạo của Trí tưởng mà không yếu tố thời gian hay nhân tạo nào có thể tác động trực tiếp lên nó. Đàn bà đẹp vì như vậy.

Tiếng gà gáy lạ lùng giữa thành phố đông cứng building cao tầng cắt ngang cuộc nói chuyện thi vị. Thì ra, chỉ có một mình tôi ngồi với tập thơ mỏng: EM ĐÀN BÀ – NGUYỄN TRỌNG TẠO.

2.

Thay lời bạt tập thơ song ngữ Ký ức mắt đen, Nguyễn Đức Tùng viết :

Thế giới không còn trăng,  dù chỉ là tưởng tượng

Nấm mồ trăng chôn cất ở nơi nào ?
Bài thơ trên đây của thi sỹ Nguyễn Trọng Tạo nói về ý nghĩa của thiên nhiên trong mối quan hệ của nó với xã hội loài người. Nhưng không dừng lại ở đó, bài thơ vượt lên, cũng không bao gồm quá nhiều thông tin hơn mức cần thiết, để lại ấn tượng về một điều gì như tình yêu. Đó thực sự là một bài thơ tình. Một thứ tình yêu cá nhân, riêng lẻ”. (Ký ức mắt đen – Memory of black eyes – Nguyễn Trọng Tạo)
Tôi không tìm thấy tình yêu nào riêng lẻ, cái tôi nào riêng lẻ trong Thơ Nguyễn Trọng Tạo. Nấm mồ trăng hay nấm mồ hoa đào nàng Đại Ngọc khóc mộng Hồng Lâu ? Chôn cả thời gian xuống huyệt cho cỏ xanh lên – hoàn toàn Tự nhiên ấy chứ ! Làm sao tách bạch được đâu là Tôi của em Tôi của anh hay Tôi của ai nữa ? Trăng và hoa đào sắc kiếm đâm tim người. Lại gợi chuyện Người đàn bà ngồi quạt mộ thuở Trang Tử lãng du tầm Đạo. Nguyễn Trọng Tạo không phù phép trên nỗi đau Con người như Trang Tử, thi sĩ làm thơ và sống hồn nhiên với dấu chân Trăng để lại. Cúi đầu hôn dấu chân ấy là một thái độ xuẩn ngốc không bao giờ có ở một tâm hồn luôn hướng tới tha nhân. Chàng thanh niên đích thực chỉ lặng lẽ ngắm những hạt bụi bay qua và đôi ba hạt thản nhiên đậu xuống lấp dấu hồng :

“anh trót để ngôi sao bay khỏi cát
biếc xanh em, mãi chớp sáng vòm trời
điều Có thể đã hoá thành Không thể
biển bạc đầu nông nổi tuổi hai mươi…”

Ngùn ngụt lửa tình trào dâng. Tự nhận mình  nông nổi tuổi hai mươi” – như Cảm giác của một người thiếu nữ lần đầu tiên nhận ra mình dậy thì. Tình ái thường làm người ta đỏ mặt. Hoàng tử bé òa lên khóc sau một lần đỏ mặt như thế : “Từ hàng triệu năm rồi, hoa đã tạo gai. Từ hàng triệu năm rồi cừu vẫn cứ ăn hoa. Và cái sự tìm hiểu xem tại sao mà hoa phải nhọc mệt tạo mãi những gai nhọn chẳng dùng được vào việc gì hết cả, sự đó chẳng phải là chuyện nghiêm trang hay sao? Cuộc chiến tranh giữa cừu và hoa, không phải là chuyện hệ trọng hay sao?” ( Hoàng tử bé – Saint Exupéry – Bùi Giáng dịch ). Yêu thương – Cuồng nộ là hai cánh chong chóng thay phiên nhau chiếm hữu tâm hồn Con người. Khát khao – Chịu đựng cứ tưởng hai mà chỉ một : Thân phận ! Trong con người tóc bồng hào sảng Nguyễn Trọng Tạo, Hoàng tử bé chắc chắn không “bé” chút nào khi dốc máu tâm hồn vẽ Bức tranh tình (Hà Nội 2001):


“Không vẽ trái tim em không vẽ trái tim anh

Tôi vẽ cây Bạch Nhân thân trần cắm chân vào trái đất
Cành vươn tay ghì xiết mùa xanh
Tôi vẽ mong manh mảnh trăng giêng
Hằn dấu môi non
Ai vừa cắn vào da trời sung sướng”

Xuân Diệu vòi vĩnh “vẫn còn xa cách lắm”  tài tình mấy, cũng đến thế mà thôi ! Hình tượng “cây Bạch Nhân thân trần cắm chân vào trái đất” nói nhiều hơn sức mạnh của sắc màu nó có. Gốc rễ tình ái tua tủa xanh non trên lát cắt Tâm hồn. Hoàng Phủ Ngọc Tường luận tình : ” Tình yêu là sự nối kết giữa hai người cùng chiến đấu chống lại cái chết”. Ngữ điệu này là của một anh triết gia chứ không phải lời lẽ của một Nhà thơ. Càng không giống thái độ cảm xúc của một người đang yêu : ” Tình yêu là tất cả những gì xảy ra giữa hai người yêu nhau” (Sagan). Nguyễn Trọng Tạo chứng minh và tự chứng minh Tình yêu đúng bản chất của nó – mà không cần hỏi xem bản chất nó là gì :

“em cỏ khát. Ta mưa rào đầu hạ
cỏ uống mưa run rẩy
cỏ đang thì
mưa rào đến rồi đi
cỏ xanh niềm ngơ ngác
ta biệt em
lớ ngớ chẳng hẹn gì”

 

“có lúc ngôn từ biệt tích
đam mê trơ đá gan lì
em mèo ơi đừng đến nữa
sợ em dựng dậy tử thi

có lúc trời ơi hồng xanh tím
khoả thân chết đuối cứng tường đêm
ta thấy ta thành cây cọ
vẽ trong veo tơ lụa mặc cho em

có lúc trên ngai vàng nguy biến
lạnh người
nghe một tiếng
mèo rên”

Và lại một “màu mèo” liệu có ngẫu nhiên:

“con mèo tôi mới làm quen
Làm quen là bởi nó đen quá chừng”…

Sex – Tình dục, qua văn chương – trở thành sự trải nghiệm gần gũi cố ý. Cũng như tiếng Pháp có chữ âme soeur nghĩa là Tâm hồn chị em, nhưng người ta vẫn hiểu ý nghĩa nó là Tri kỷ. Đưa tính dục lên tầm nghệ thuật là công việc không dễ dãi và bộc phát. Hoàn toàn mang đậm dấu ấn của quá trình học hỏi kỹ năng và kinh nghiệm. Một cái ưỡn mình là biểu trưng cao nhất cho khát khao tràn ứ. Một động tác cọ mũi tay áo, như cách người phụ nữ vò nát lá cây hoặc cành khô trong những buổi hẹn hò. Nếu người nào nghĩ rằng, Tình dục xuất phát từ Tự nhiên là Chủ yếu, thì hãy coi chừng lại vấn đề sức khỏe của mình, nhất là cặp mắt. Thẩm mỹ đã dành nhiều thời gian cho một thứ gọi là Tính dục. Trong thơ, Tính dục trôi chảy qua ngôn ngữ chi tiết chứ không phải trên cái hình tượng phồn thực mà nó gợi tới. Một ví dụ, Lê Văn Ngăn viết :


“Chỉ có em là đàn bà

Nên mỗi khi nghe tiếng giày trận dẫm trên cát
Anh thấy anh chẳng còn sống
Trái tim đã chìm sâu tận cùng giấc mộng
Thế nào anh cũng trở về
Vì còn gió cố quận gọi cánh ngựa hồ
Vì còn đôi tay em quấn quýt
Đêm một thời xưa hoàng lan

Hạnh Phước Hạnh Phước
Người nữ của thành nhiễu nhương
Đôi vú em căng dòng sữa ngọt
Tấm thân anh đắp đời anh bơ vơ
Cảm xúc còn nặng mùi da thịt…”

(Hạnh Phước, người nữ của thành nhiễu nhương – Lê Văn Ngăn)

Người đọc hoàn toàn có thể hiểu được và thông cảm được tính thần tượng tuyệt đối của tác giả dành cho Hạnh Phước “chỉ có em là đàn bà” của mình. Gạn lọc chi tiết – theo một tấm lưới nào đó, tùy vào khả năng thẩm thấu và phát tiết đồng thời cảm xúc và cảm giác của mỗi con người. Người thi sĩ mô tả Tính dục, thông qua hệ thống hình ảnh gợi cảm bộc trực. Đường cong cần có biên độ xác định, nếu nó không muốn gấp khúc ở một điểm cố định nào đó. Phải chăng, chính sự ảo mờ này làm Tình dục trở nên lóng lánh, xuất phát chủ nghĩa Lãng mạn kiểu mới ?

Tiểu thuyết TÌNH ĐỊCH (Rivals) của Janet Dailey (Mỹ) kể về mối tình oan trái nghiệt ngã của đôi trai tài gái sắc Chance Stuart và Flame Bennett, họ bị vướng mắc trong vòng lẩn quẩn thù hận – tham lam – chết chóc, kết thúc ở một bệnh viện: “Chàng cúi xuống áp môi lên trán nàng, rồi thì thầm bên tai nàng: Hẹn kỳ tới! – Hẹn kỳ tới! – Nàng lặp lại ba tiếng của chàng, một cách hăm hở. Lạy chúa, còn có hy vọng, còn có nhiều hơn là hy vọng”. Tình yêu là như vậy! Nó có thể ngọt ngào êm ái trên môi tình nhân – cũng có thể bạo liệt đốt cháy đến tàn tro cuối cùng. Thi sĩ – nhất là với những Thi sĩ của Tình ái lãng mạn – cái cách anh ta trình bày Tình yêu trên tác phẩm đôi khi nhiều hơn Tình yêu nhìn thấy được qua các hành vi của cảm xúc. Nguyễn Trọng Tạo vẫn được biết đến như một nhà thơ tình Việt Nam xuất sắc, từ những câu thơ lột xác hồn nhiên :

“Anh nín thở đến kiệt cùng máu ứa
Cột lửa phun nham thạch phì nhiêu
Rồi chết lịm trong vỗ về mơn trớn
Mười ngón dài thon của gió chiều…”

Cho đến những câu thơ diễm lệ :

“thời gian biến lạ thành quen
quen thành lạ chỉ riêng em, động mùa…”

“viên sỏi hồng nốt ruồi son đáy sông
em là dòng Ngàn Phố gương trăng đêm hè năm Tân Hợi
con đò quay như chiếc lá tre đen
ném cho nhau một vốc vàng trăng
đêm gửi nhòe sương đôi bờ cỏ mượt”

Và sừng sững ngô nghê trên bến mơ:

“Quá bất ngờ, anh nhận thông điệp tình yêu từ Mây Trắng:
17h 17′ ngayf 17 anh ddons em taij haf nooij phi truwowngf
em chir ddeens vowis anh 3 ngayf rooif trowr laij
lamf sao ddeer khoong ai bieets 3 ngayf em owr been anh

Thì ra Mây đã thay em nhắn tin!”

Ấm ớ, vô nghĩa lại bao trùm rành mạch thiên hình vạn trạng. Vô thức từ từ bỏ rơi Ấn tượng, Trừu tượng, Nietzchez… Vô thức cũng không dành bất cứ vòng hoa nào cho Platon, cho Babylon Kim Tự Tháp đền đài, cho chàng gù nhà thờ Đức bà… Vô thức kéo giãn thực tại, thu hẹp tương lai, lật nhào mọi hệ quy chiếu đã có. Nguyễn Trọng Tạo vẽ chân dung người tình chỉ bằng mấy lời u a không dấu vẫn chứa đựng cả thời gian không gian và con người ! Một cú nhảy toàn diện “Bách xích can đầu tu tiến bộ; Thập phương thế giới hiện toàn thân”. Không có lý do gì người ta lại không tin đây là một Sáng tạo tuyệt vời của một Tâm hồn dậy cảm !
Nhưng, nhạy cảm với tất cả nên người thi sĩ luôn thấy trước mắt mình hiện diện một cánh cửa: Cũng có thể kết thúc cũng có thể bắt đầu!

“Anh muốn viết những bài thơ trong đó
Em im lặng trang trọng
Như đoạn cuối của một bài thánh ca
Đoạn cuối của một bài điếu tang
Đưa hạnh phúc tản mát ngoài không gian”

(Thơ vì sự có mặt em – Đỗ Quý Toàn)

Khát vọng làm người ta hạnh phúc, cũng hay làm người ta khổ ải. Thi nhân trên ngưỡng cửa Trái tim – bước ra, buộc bỏ lại cái bóng:

“có thể tóc nàng bạc trắng
vô tình sỏi đá thành vôi
có thể cơn mưa đã tạnh
trái tim chẳng mọc thêm chồi.

chàng trai yêu nàng đã chết
bên tầng tháp cổ rêu mờ
cánh chim thiên di mỏi mệt
bay ngoài câu hát ngu ngơ

bọn trẻ như chàng ngày trước
thả hồn trong quán cà phê
ở đó có nàng kiều diễm
vai thon ôm mái tóc thề

thầm thì đêm nghe gió nói
nàng là con của Diễm xưa…”

Lần đầu gặp Nguyễn Trọng Tạo, tôi bất ngờ tột độ trước một con người kiêu hãnh duyên dáng, mặc dù Thi sĩ đã ngoài sáu mươi tuổi, tóc điểm bạc và da thịt sẵn sàng cho một cuộc đồi mồi. Hình như, không có khái niệm Già cho một nhà thơ đích thực. Ông – Cả con người ông, từ dáng vóc, trang phục, cách thức uống rượu, chuyện trò – đều thể hiện một sự sung mãn tuyệt vời của tài năng và nhân cách. Tôi ngỡ ngàng chuẩn bị cho một câu “Kính thưa” trang trọng, thì Thi sĩ đã gạt phăng lời đầu môi chót lưỡi: ” Đã làm thơ – thì hãy gọi nhau Anh Em thôi, không khách sáo phiền toái. Để dành thời gian cho Sáng tạo”. Tôi bắt gặp sức sống cường tráng vội vàng và thẳng thắn tự nhiên của Nguyễn Trọng Tạo trở lại nhiều lần trong những trang thơ:

“đêm nấc lên giai điệu Diễm xưa
úp vào tiếng nấc
úp vào núi đồi sa mạc biển xanh
bật khóc”

Đàn bà lấp lánh áo hoàng hoa. Đàn bà thanh thoát mảnh nâu sòng. Đàn bà kiêu sa sông đào lụa. Đàn bà thùy mị vén mây ngồi. Tranh Picasso mở được cùng lúc nhiều khuôn mặt của một thế-giới-người. Thơ Nguyễn Trọng Tạo không đem cái trừu tượng để lấp lửng Chân-Thiện- Mỹ, thi sĩ biết cách giải thoát khỏi những ba hoa tranh chấp trên hàm ngôn để chiết sáng theo nhiều góc cạnh bản thể:

“em đốt mình lên cho anh ánh sáng
cho anh hơi ấm
cho anh…

lệ giọt giọt trắng rơi
ôm em thân tròn
ngắn dần cột sống

tiếng chim sớm mai gọi anh thức dậy
em biến đi đâu
chỉ còn biển lệ

bỗng vọng bài ca Bạch Lạp ấu thơ
“nến trắng thành tro
tro còn thắp sáng
cuộc tình mờ xa
tình còn chớp trắng…”

Cảm thấy “ngắn dần cột sống”, thì Tình ái hỡi, Người bỏ ta vào ngục tù thương nhớ mất rồi ! Gọi là, lấy cái không thấy để tả cái thấy. Lấy cái vô hạn đựng vào cái hữu hạn. Hình thức không còn quan trọng nữa. Suối tâm tình ung dung tự tại lúc oằn xiết thác ghềnh khi êm đềm vũng biếc đọng. Nước tồn tại bền bỉ giản dị như vậy nhưng không phải nhiều người nhìn ra chân lý này. Sinh sống ở miền Bắc, nhưng xu hướng thơ Nguyễn Trọng Tạo không tách rời Tia sáng tạo tương đối của thời đại thi ca có tên mình. Sớm và muộn. Muộn và sớm. Không lăm le làm thơ “tân hình thức” hay “hậu hiện đại”, nhưng trên mảnh đất quê hương truyền thống, đã thấy rất nhiều mầm mới – Lạ lùng thăm thẳm :

“à ơi cái ngủ quyến rũ giấc hoa
ngủ thì rực rỡ thức mà phôi pha…”

“cái đêm trăng ấy trăng non
phố phường xa lắc lối mòn cũng xa
một vùng không rượu không hoa
sói con uống cạn cùng ta suối nguồn”

“anh làm vua không ngai em vẫn là hoàng hậu
chàng hoàng tử khóc nhè nàng công chúa hờn dai
chợt thương quan không dân chợt thương ngai không chủ
thương những đời người chung thân trong áo mão cân đai”

Đàn bà là một thể hiện của Tình ái. Thi sĩ không vội vàng nắm lấy tay nàng để rủ rê nàng “qua cầu gió bay”, mà để nàng tự chín trái thần tiên. Tôi nhớ mấy câu thơ của Nh.Tay Ngàn :

“Một sáng thức dậy nàng biết nàng không còn tiếng hót
Mặt trời nàng nhìn thẳng
Cũng hóa đen

Rồi mùa rét mang về nhớ nhung
Lòng nàng mướt xanh
Vết thương tự đấy mưng lên
Nàng muốn bay vào miền ấm áp của lòng chàng
Nhưng cánh nàng đã mỏi

Và bắt đầu nàng gọi
Rừng chập chùng
Căn lầu vườn cây bốc cháy
Đêm ơi đêm anh ơi anh”

(Chim – Nh.Tay Ngàn)

Nh.Tay Ngàn thi sĩ vẽ Đàn bà theo kiểu Lêvitan vẽ rơm vàng chiều. Nguyễn Trọng Tạo thì chọn cách của bác sĩ Tsêkhôp giải phẩu cuộc đời trên trang văn của mình: Lia lưỡi dao bén ngọt bằng bàn tay linh hoạt cảm xúc dưới cặp mắt sáng quắc của khoa học biện chứng. Vượt ra cái bóng ngôn ngữ, như nhiễu từng giọt Người vào thi phẩm: SỐNG !

3.

Bùi Giáng Bồ tát thi sĩ còn phải thốt lên :

“Vai ngần với tóc xanh buông
Dựng càn khôn giữa loạn cuồng si mê”

Chứng tỏ, Đàn bà và Tình ái là thể hiện và lẩn hiện tuyệt kỳ không thể tránh khỏi của một kiếp người. Lý thuyết nhị nguyên làm tổn thương Con người tự nhiên và hệ lụy của nó đã chứng thực qua trăm ngàn thiên bi tình sử đông tây kim cổ. Tôi yêu và tin Đàn bà – phần nhiều, qua hình tượng cảm xúc ấm áp của Mẹ tôi – khi Người còn sống cũng như lúc Người đã ra đi. Mỗi lần nhớ lại thời thơ ấu tươi đẹp có Mẹ, tôi lại nhớ những câu thơ Người hay đọc:


“có ai ngồi xuống chỗ chúng mình kia

chàng trai ấy cùng với cô gái ấy
cô gái đẹp sao giống em đến vậy
và chàng trai run rẩy giống anh sao?

cỏ biếc xanh như cỏ đêm nào”

(Cỏ xanh đêm trước – Nguyễn Trọng Tạo, 1979)

Thi sĩ đã gởi gắm vào tôi Tình yêu miên man từ khi chưa hiểu buồn vui là gì. Cỏ vẫn mọc và còn mọc dịu hiền qua cuộc đời tôi, trải qua Tình ái ngọt mật lẫn đau buồn khôn nguôi. Người thi sĩ ấy – Không tuổi như Tình yêu vô lượng: NGUYỄN TRỌNG TẠO!

Bà Rịa, ngày 16/05/2010
TS.

Advertisements

2 phản hồi

  1. em xin gửi bác bài viết này bác xem thế nào
    ( xin lỗi nếu em có địa chỉ MAIL của Bác Tạo em gửi nguyên bài này, tác giả Đặng Văn Sinh tô màu các chữ để so sánh dễ xem hơn)

    Bài thơ “Lính mà em” của ai?

    Sau khi Phạm Tiến Duật qua đời, tình cờ, một lần vào trang web nguyenkhacphuc.com, tôi thấy nhà văn Nguyễn Khắc Phục cho đăng bài thơ “Lính mà em” của nhà thơ quá cố.
    Bài thơ đã gây ấn tượng mạnh trong tôi bởi yếu tố lãng mạn trữ tình được thể hiện qua những dòng cảm xúc thật chân thành của một người lính trong cuộc chiến đang ở vào thời kỳ vô cùng khốc liệt. Xét về mặt thi pháp, “Lính mà em” thuộc một “kênh” khác hẳn với những gì trước đó Phạm Tiến Duật đã viết. Nó thuộc vào “phần chìm” của tư tưởng nghệ thuật, thoát ra khỏi những ràng buộc của hệ ý thức, khẳng định tư cách cá nhân của người nghệ sỹ trong quá trình sáng tạo.

    Với bài thơ này, tất nhiên, lúc ấy, tốt nhất là nên cất dưới đáy ba lô, còn nếu dại dột mà hở ra thì cái “vạ” có khi còn “đậm” hơn cả “Vòng trắng” sau này.

    Đang định viết vài dòng bình thi phẩm lãng mạn khá hiếm hoi thời chiến chinh này gửi vào “trannhuong.com” để tưởng nhớ hương hồn nhà thơ Trường Sơn thì tôi lại đọc được một tư liệu khá bất ngờ của ông bạn Lưu Đình Tuân về bài thơ trên.Lưu Đình Tuân hiện đang là phiên dịch tiếng Bồ và tiếng Pháp cho huấn luyện viên trưởng và một số cầu thủ nước ngoài của CLB bóng đá hạng nhất tỉnh Tây Ninh.

    Ông có một người anh họ là Vũ Quốc Chấm. Đầu năm 1975, Đà Nẵng thất thủ, ông Chấm khi ấy thuộc quân Giải phóng, nhân lúc lộn xộn ở phi trường, có lượm được cuốn sổ tay của người lính Việt nam cộng hòa nào đó để lại, trong đó chép bài thơ “Lính mà em”.
    Chuyện ấy cũng là lẽ thường, miễn bàn luận nếu không có một cô bé phát hiện ra, trong sổ tay chị gái mình cũng có bài thơ giống hệt như thế (chỉ khác vài ba chữ) mà tác giả lại là… một người lính Sài gòn. Chuyện thực hư như thế nào, bạn đọc đọc những dòng dưới đây, trích từ Blog ABA.ABA.ABA của tác giả Lưu Đình Tuân. (Trích từ Blog ABA.ABA.ABA) …

    Riêng bài thứ ba dưới đây, anh Chấm nói với tôi đại khái:” Cái bọn lính Ngụy chúng nó cũng thích thơ chú ạ.

    Năm 75, lúc vào sân bay Đà Nẵng, giấy tờ ngổn ngang, anh vớ được quyển sổ tay, chép nhiều bài thơ hay ra phết, bài này anh nhớ nhất, anh đọc chú nghe; ấy, cái thời nào nó phải theo thời ấy, chú ạ; nó là bài thơ của người em gái động viên cái bọn lính tiền tuyến ấy mà!

    Bài ấy như thế này: Lính mà em

    Em trách anh sao gửi thư chậm thế,
    Em đợi hòai sẽ giận cho xem.
    Biên thư cho em bao giờ anh muốn thế,
    Hành quân đường dài đấy chứ.
    Lính mà em!
    Anh gửi cho em mấy cành hoa dại,
    Để làm quà, không về được em ơi,
    Không dạo mát nửa đêm cùng em được,
    Thôi đừng buồn em nhé.
    Lính mà em!
    Hẹn nghỉ phép, anh cùng em dạo phố,
    Tay chiến binh đan đầu ngón tay mềm,
    Em xót xa đời anh nhiều đau khổ,
    Anh chỉ cười và nói:
    Lính mà em!
    Qua xóm nhỏ anh ghi dòng lưu niệm,
    Trời mưa hai đứa đứng bên thềm,
    Anh che cho em khỏi ướt tà áo tím,
    Anh quen rồi, không lạnh.
    Lính mà em!
    Anh kể chuyện hành quân và gối súng,
    Trăng đêm đầu không đủ viết thư đâu,
    Biên thư cho em nét nhòe như vụng.
    Hiểu giùm anh, em nhé!
    Lính mà em.
    Ghét anh ghê, chỉ có tài biện luận,
    Làm người ta thêm nhớ thương nhiều.
    Em xa lánh những ngày vui trên phố,
    Để nhớ người hay nói
    “Lính mà em”.
    Vũ Quốc Chấm (sưu tầm)
    Sân bay Đà Nẵng 1975

    Đương nhiên các dấu chấm, phẩy do mình ghi thêm vào (ông Hải, ông Côn, ông Báu, xem lại và comment hộ) và từ em ban đầu nay mình sửa lại là anh (chữ xanh).

    Trở lại bài thơ
    Cái li kì của bài thơ này không phải là ở chỗ “người em” của Thôi Hộ không biết bây giờ đi đâu, mà ở chỗ nó ngược lên nữa mình chắp nối lại theo kỹ thuật “truyện trinh thám An Nam” như sau:
    Nhà thơ Phạm Tiến Duật, khi ở Trường Sơn, làm bài thơ này nhưng dấu đơn vị vì nội dung ủy mị quá, không có lợi cho cách mạng. Nhưng có lẽ tiếc chiếc “áo gấm đi đêm” hay vì lí do nào đó, bài thơ được tên lính ngụy nào đó chép vào sổ tay, để rồi, khi tháo chạy/chết, quyển sổ tay rơi vào tay ông anh Chấm mình. Và cuối cùng, khi nhà thơ Phạm Tiến Duật chết rồi, nhà văn Nguyễn Khắc Phục mới công bố nó trên trang web của mình, mà 27-12-2007 mình tình cờ vào được, nay copy lại như sau:

    LÍNH MÀ EM
    Phạm Tiến Duật

    Em trách Anh gửi thư sao chậm trễ
    Em đợi hoài em sẽ giận cho xem
    Thư Anh viết bao giờ Anh muốn thế
    Hành quân hoài đấy chứ,
    Lính mà em!
    Anh gửi cho Em mấy nhành hoa dại
    Để làm quà không về được em ơi
    Không dự lễ Nô- En cùng em được
    Thôi đừng buồn em nhé,
    Lính mà em!
    Ngày nghỉ phép Anh cùng Em dạo phố
    Tay chiến binh đan năm ngón tay mềm
    Em xót xa đời anh nhiều gian khổ
    Anh mỉm cười rồi nói,
    Lính mà em!
    Qua xóm nhỏ anh ghi dòng lưu niệm
    Trời mưa to, hai đứa nép bên thềm
    Anh che em khỏi ướt tà áo tím
    Anh quen rồi không lạnh,
    Lính mà em!
    Anh kể em nghe chuyện trong này
    Trăng đầu mùa không đủ viết thư đâu
    Thư Anh viết chữ mờ nét vụng
    Hãy hiểu dùm Anh nhé,
    Lính mà em!
    Ghét Anh ghê chỉ được tài biện hộ
    Làm cho người ta thêm nhớ thương
    Em xa lánh những ngày vui trên phố
    Để nhớ người hay nói,
    Lính mà em!

    Như vậy là ông Duật cho tới lúc chết vẫn là thằng cáy và ông Phục là thằng tốt với bạn bè, chẳng quản đến thân.

    Nhưng khoan, vẫn chưa hết truyện li kì
    Khi mình đang vào trang nguyenkhacphuc.com – canhcualieutrai@yahoo.com.vn, gọi cô phụ trách máy tới xem để in ra. Cô này liếc qua, nói “Ơ bác cũng thích thơ à?” – “Ừ, thế mày có thích không? Xem đi!”. Cô bé chăm chú một lúc, rồi nói: “Ơ, cháu cũng biết bài này, à không, nó có mấy chỗ khang khác. Giống cái bài trong sổ thơ của chị cháu. Để cháu về xem lại”.”
    Vậy thì rốt cuộc, bài thơ “Lính mà em” là của ai? Của nhà thơ Phạm Tiến Duật mà người lính Cộng hòa nào đó vô tình “nhặt được” bản thảo rơi trên đường hành quân, chép vào sổ tay rồi đến khi thành phố thất thủ, anh ta “bỏ của chạy lấy người” di tản (hoặc tử thương) tại phi trường hay là ngược lại? Rất mong có sự minh định từ những người lính của cả hai bên đã từng tham gia cuộc chiến và bạn đọc trong và ngoài nước yêu mến văn chương.

    Xuân Mậu Tý
    Đặng Văn Sinh

    Em trách anh sao gửi thư chậm thế,
    Em đợi hòai sẽ giận cho xem.
    Biên thư cho em bao giờ anh muốn thế,
    Hành quân đường dài đấy chứ.
    Lính mà em!
    Anh gửi cho em mấy cành hoa dại,
    Để làm quà, không về được em ơi,
    Không dạo mát nửa đêm cùng em được,
    Thôi đừng buồn em nhé.
    Lính mà em!
    Hẹn nghỉ phép, anh cùng em dạo phố,
    Tay chiến binh đan đầu ngón tay mềm,
    Em xót xa đời anh nhiều đau khổ,
    Anh chỉ cười và nói:
    Lính mà em!
    Qua xóm nhỏ anh ghi dòng lưu niệm,
    Trời mưa hai đứa đứng bên thềm,
    Anh che cho em khỏi ướt tà áo tím,
    Anh quen rồi, không lạnh.
    Lính mà em!
    Anh kể chuyện hành quân và gối súng,
    Trăng đêm đầu không đủ viết thư đâu,
    Biên thư cho em nét nhòe như vụng.
    Hiểu giùm anh, em nhé!
    Lính mà em.
    Ghét anh ghê, chỉ có tài biện luận,
    Làm người ta thêm nhớ thương nhiều.
    Em xa lánh những ngày vui trên phố,
    Để nhớ người hay nói
    “Lính mà em”.
    Vũ Quốc Chấm (sưu tầm)

    Em trách Anh gửi thư sao chậm trễ
    Em đợi hoài em sẽ giận cho xem
    Thư Anh viết bao giờ Anh muốn thế
    Hành quân hoài đấy chứ,
    Lính mà em!
    Anh gửi cho Em mấy nhành hoa dại
    Để làm quà không về được em ơi
    Không dự lễ Nô- En cùng em được
    Thôi đừng buồn em nhé,
    Lính mà em!
    Ngày nghỉ phép Anh cùng Em dạo phố
    Tay chiến binh đan năm ngón tay mềm
    Em xót xa đời anh nhiều gian khổ
    Anh mỉm cười rồi nói,
    Lính mà em!
    Qua xóm nhỏ anh ghi dòng lưu niệm
    Trời mưa to, hai đứa nép bên thềm
    Anh che em khỏi ướt tà áo tím
    Anh quen rồi không lạnh,
    Lính mà em!
    Anh kể em nghe chuyện trong này
    Trăng đầu mùa không đủ viết thư đâu
    Thư Anh viết chữ mờ nét vụng
    Hãy hiểu dùm Anh nhé,
    Lính mà em!
    Ghét Anh ghê chỉ được tài biện hộ
    Làm cho người ta thêm nhớ thương
    Em xa lánh những ngày vui trên phố
    Để nhớ người hay nói,
    Lính mà em!
    Phạm Tiến Duật

  2. Chúc mừng anh đã có một trang web mới!
    Kính chúc anh dồi dào sức khỏe và tri thức để tập hợp được nhiều nhiều bài viết giầu tính nhân văn để phục vụ người thực sự lao động trong xã hội còn nhiều phức tạp!!!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s