• Chuyên mục

  • Các bài viết nổi bật

  • RSS Hội Ngộ Văn Chương

    • NGUYỄN HOA VÀ THƠ 14.04.2014
      NGUYỄN TRỌNG TẠO Có ý kiến chê thơ Nguyễn Hoa khô khan, nhưng cũng chỉ là nói với nhau chỗ này hay chỗ khác chứ không thấy ai viết ra điều đó cả, nó chỉ giống những câu chuyện trà dư tửu hậu cảm tính thường nhật. Ngược lại, có khá nhiều bài viết về […]
    • DỊCH GIẢ LÊ BÁ THỰ RA MẮT TIỂU THUYẾT “HY VỌNG” 14.04.2014
      THANH TRÀ Tác giả: Katarzyna Michalak (Ba Lan) Người dịch: Lê Bá Thự Nhà xuất bản Hội Nhà Văn và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây ấn hành, quý II năm 2014      Lila Borowa, cô gái Ba Lan, mồ côi mẹ, bố nhà nông, nghiện rượu; Aleksei Dragonow, người Nga, mồ côi […]
    • LỜI TỰA “TRỊNH THANH SƠN TOÀN TẬP” 27.10.2013
      VŨ DUY THÔNG Bây giờ, xương thịt người ấy đã chìm khuất dưới ba thước đất, hồn vía người ấy đã cô đơn đâu đó cùng bạt ngàn trăng sao nhưng tinh huyết người ấy còn đây, những câu thơ, lời văn gan ruột một đời. Chỉ bằng những gì đã có trong tuyển tập […]
    • TỈNH ĐÔNG NGÀY TÔI VỀ 27.10.2013
      LÊ TUẤN LỘC MƯA TRONG VƯỜN TỰ LỰC VĂN ĐOÀN Mưa như là xưa lắm Vườn Thu càng buồn hơn Ta lặng lẽ trong vườn xưa mưa gõ Buồn tênh, người cũ đã xa rồi Đừng lăn tăn về vườn Thu mưa Mưa như là tiền định Mưa như là số phận Mưa lây rây […]
    • THƠ TRÁC MỘC: TÍM ĐỒNG HOANG GIÓ 27.10.2013
      NGUYỄN TRỌNG TẠO: Trác Mộc tên thật là Võ Thị Như Hải, sinh năm 1980 tại Đà Nẵng, nguyên quán Thừa Thiên Huế. Bút danh Trác Mộc xuất phát từ mệnh “Thạch Lựu Mộc” (cây lựu mọc trên đá) của tuổi Canh Thân kết hợp với chữ Trác là sự kiên nhẫn vượt lên để […]
    • DỌC MIỀN TRUNG (2) 26.10.2013
      ĐÀO THẮNG II. Kéo pháo lên đồi Trúc Lâm Chúng tôi đứng chân tại Hải Lĩnh, Tĩnh Gia để chuẩn bị chiếm lĩnh trận địa trên đồi Trúc Lâm. Các khẩu đội phải làm công sự tương đối chắc chắn, sẵn sàng chiến đấu. Đại đội phó Dương giao cho tổ trinh sát tấm bản đồ […]
    • DỌC MIỀN TRUNG (1) 26.10.2013
      ĐÀO THẮNG Phần I – Về xứ Thanh  I. Chào Hà Nội vào Thanh Tôi vốn là một chú lính bộ binh thuộc sư đoàn 330, một binh đoàn chủ lực miền Nam tập kết làm nhiệm vụ huấn luyện quân bổ sung vào chiến trường B. Trung đoàn tôi, đoàn Sông Đào (E46) có ba […]
    • CA BÌNH MINH – MỘT VŨ TRỤ YÊU THƯƠNG 24.10.2013
      (Thơ Lý Phương Liên, NXB Văn học – 2011) HOÀNG XUÂN HOẠ Ca ba, một ca làm việc ở các nhà máy từ 10h tối hôm trước cho đến 6h sáng hôm sau, người thợ phải thức trắng đêm với công việc do mình phụ trách. Làm ca ba là một ca vừa mệt vừa […]
    • TRUYỆN NGẮN CỦA ALICE MUNRO (NOBEL 2013): THỊ TRẤN BÊN ĐƯỜNG 23.10.2013
      Lời giới thiệu: Alice Munro sinh ngày 10 tháng Bảy năm 1931 ở Wingham, Ontario, Canada, với tên khai sinh là Alice Ann Laidlaw. Cha của bà là chủ nông trại, mẹ là cô giáo. Bà trải qua tuổi thơ ở thị trấn Clinton, nơi bà cũng thường trở về sau này. Theo học đại học […]
    • CON GÁI CẢ CỦA TƯỚNG GIÁP NÓI VỀ CHA 23.10.2013
      NTT: Giáo sư – Tiến sĩ khoa học Võ Hồng Anh (1941-2009) là con gái duy nhất của liệt sĩ Nguyễn Thị Quang Thái (em gái liệt sĩ Nguyễn Thị Minh Khai) và Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết, bà rất ít trò chuyện với ba, nhưng rất hiểu những suy nghĩ sâu kín của ba. […]
  • RSS Blog Quê Choa

    • Tòa Phúc thẩm y án đối với Đinh Nhật Uy 16.04.2014
      Mặc Lâm Theo Đài RFA Sáng hôm nay ngày 16 tháng 4 năm 2014 phiên tòa phúc thẩm xử anh Đinh Nhật Uy đã diễn ra tại Long An. Thẩm phán phiên tòa đến từ Tp HCM và trong một thời gian rất ngắn Tòa phúc thẩm đã ra phán quyết giữ nguyên mức án mà tòa sơ thẩm vào ngày 29 tháng 10 năm 2013 đã tuyên là 1 năm 3 tháng tù treo và 1 năm thử thách. Vào lúc 10 giờ sáng anh […]
    • Tường thuật phiên tòa Bầu Kiên: Quyết định hoãn xử phiên tòa 16.04.2014
      Nguyễn QuyếtTheo Người lao động  14 giờ: Phiên toà tiếp tục. HĐXX công bố kết quả xác minh tình trạng sức khỏe của bị cáo Trần Xuân Giá (75 tuổi).Theo xác minh của tòa về tình trạng sức khỏe bị cáo Trần Xuân Giá, người xin vắng mặt tại phiên tòa ngày 16-4: "Thể trạng tốt, tuy nhiên huyết áp cao (Huyết áp 160/90). Bị cáo bị phì đại tiền liệt tuyến, mở ca […]
    • Viết cho người em đang ở trong phiên tòa 16.04.2014
       Vi K. TranTheo blog Cùi Các Hôm nay có một người em [ Đinh Nhật Uy ] tôi chưa gặp bao giờ phải ra tòa kháng án, một bản án sẽ không bao giờ có nếu em ở một đất nước tự do. Tuy chưa gặp em, nhưng tôi khá quen biết mẹ của em, vì cô là một trong những vị phụ huynh tôi hân hạnh được gặp cuối năm ngoái, khi họ bôn ba sang Mỹ đòi tự do cho con, những người con bị […]
    • Truyền hình Putin, xin chào! 16.04.2014
      Theo blog Thụy My Vladimir Putin trả lời báo chí tại Matxcơva ngày 21/03/2014.Ai muốn xin phỏng vấn sẽ phải chịu trận một tràng rủa sả. “Người Pháp các vị hãy cút đi nơi khác, để cho chúng tôi yên với vấn đề Crimée! Với tất cả những thứ thổ tả viết về chúng tôi, không có chuyện tiếp đón và trao cho các vị cái cơ hội so sánh tôi với một con khỉ!” Dimitri Kiss […]
    • Những điều cần xem lại về ODA 16.04.2014
      Phạm Chi LanTheo Tia SángĐáng buồn và đau nhất là khi trả lời phỏng vấn, hầu hết những người được hỏi, từ đại biểu Quốc hội, cựu quan chức cao cấp, đến các chuyên gia kinh tế…, đều nói rằng họ “không ngạc nhiên” trước thông tin về vụ tham nhũng “xuyên biên giới” này.“Không ngạc nhiên”, nghĩa là họ thừa nhận rằng tham nhũng là phổ biến, là khó tránh khỏi tron […]
    • Góp ý cho Bộ Giáo dục về việc đổi mới sách giáo khoa 15.04.2014
      Lê Khánh Hùng -TS Công nghệ Thông tinTheo BVN Tôi đề xuất phương án đổi mới sách giáo khoa không tốn kém hàng chục nghìn tỷ đồng như sau:Bộ tổ chức hội thảo khoa học và lấy ý kiến các nhà sư phạm các nhà khoa học và toàn dân về tiêu chí cho sách giáo khoa trên một FORUM (tương tự cách làm góp ý hiến pháp của nhóm GS Ngô Bảo Châu). Từ đó Bộ đề ra các tiêu chí […]
    • Đinh Nhật Uy ra tòa phúc thẩm: “bình thường như đi dự buổi họp” 15.04.2014
      Cùi CácTheo blog Cùi Các  Vào 7h30′ sáng mai, ngày 16/04/2014 tại Tòa án tỉnh Long An sẽ diễn ra phiên tòa phúc thẩm xét xử Đinh Nhật Uy về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” theo Khoản 1 Điều 258 BLHS. Một ngày trước phiên xử phúc thẩm, anh Đinh Nhật Uy đã cho blog Cùi Các biết […]
    • Chính trị VN: 'Thả tù chỉ là chiến thuật' 15.04.2014
      Theo BBC  Ông Thayer nói các nhà lãnh đạo VNchỉ thay đổi vì lợi ích trước mắtNhà quan sát Carl Thayer nói việc thả các nhà bất đồng chính kiến mới đây chỉ là chiến thuật thay vì là chiến lược của Hà Nội.Trả lời BBC từ Hà Nội, nơi ông đang tham dự hội nghị về Việt Nam với sứ mạng gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc, giáo sư Thayer từ Đại học New South Wales, […]
    • Để chấm dứt lương quan chức 'tù mù' 15.04.2014
      Theo BBC Ảnh bên:Ông Trần Tiến Đức nói thu nhập của quan chức thiếu minh bạch gây tác hại ngân sách, và làm giảm lòng tin của dân.Hệ thống lương bổng và thu nhập ngoài luồng của quan chức ở Việt Nam rất 'tù mù', thiếu minh bạch, là điều có thể vừa gây thiệt hại cho việc thu thuế và công quỹ nhà nước, vừa làm cho người dân sút giảm lòng tin vào chế […]
    • Xung đột ở Hà Tĩnh: Cay cú ăn thua với dân đều thủ bại 15.04.2014
      Người Hà TĩnhTheo Một thế giớiVụ căng thẳng ở thôn Trung Sơn, xã Bắc Sơn (Thạch Hà, Hà Tĩnh) mấy hôm nay gây sốt, lo lắng và mức độ nào đó hoang mang cho chính quyền Hà Tĩnh lẫn nhiều người trong chúng ta. Sự việc đã bị đẩy đến mức tác nhân của sự cố (chính quyền và nhân dân) đã bị dẫn tới chỗ bí, tiến hay lùi đều khó.Nguyên nhân trực tiếp là dân không đồng […]
  • Khách trực tuyến

    free counters

VỀ MỘT VĂN HÓA THƠ


BART BAXTER

BART BAXTER

BART BAXTER – TRI SƠ dịch

Lời dẫn: Bart Baxter – một mạnh thường quân kỳ cựu của Hội nhà thơ Washington, nhận danh hiệu Nhà thơ Vì Dân đầu tiên của Seattle (Mục tiêu của Chương trình Nhà thơ Vì Dân là thúc đẩy việc thực hành Nghệ thuật và Dân chủ)- viết cho các tạp chí Ergo, Seattle, Red Cedar, Thơ ca Ohio, Chronicles Raven, và các tạp chí khác. Ông đạt giải thưởng Hart Crane dành cho thơ năm 1994 tại đại học Kent State, giải thưởng Charles Proctor năm 1994 (Washington State), và MTV Poetry Grand Slam năm 1995… Các tác phẩm của ông viết về Thơ ca đã xuất bản như Hòa bình cho Arsonist (Peace for the Arsonist – Bacchae Press, 1995), Sonnets from the Mare Imbrium (Floating Bridge Press, 1999), A Man, Ostensibly (Egress Studio Press, 2004), The Man with St. Vitus’ Dance (Floating Bridge Press, 2000), và nhiều cuốn sách khác.

Bài viết sau đây của ông phát triển và đi sâu hơn về bài tiểu luận “Thơ có gì quan trọng không?” (Can Poetry Matter?) của Dana Gioia gây nhiều tranh cãi trong một thời gian dài ở Mỹ và Âu châu.

*

Trước khi tôi bắt đầu bài phát biểu sẵn của mình, hãy cho tôi hỏi khán giả trả lời bằng cách đưa tay lên (nếu đúng), một cách trung thực và nghiêm túc nhất. Tối nay, có bao nhiêu người có mặt ở đây là nhà thơ? [Một nửa khán giả đưa tay lên]. Có bao nhiêu người muốn trở thành một nhà thơ, đã có vài tác phẩm, đang tìm kiếm một nhà xuất bản? [Một phần tư đưa tay lên]. Và có bao nhiêu người là bạn bè của chủ trì hoặc thành viên điều hành hội nghị này? [Một phần tư đưa tay lên]. Bây giờ, còn những ai trong khán giả không thuộc bất kỳ một trường hợp nào, đã không hề đưa tay nãy giờ, xin hãy đưa tay lên. [Chỉ một cánh tay đưa lên].

-          Tôi nghĩ, nếu Dana Gioia có mặt ở đây tối nay, ông sẽ trả lời giản dị: “Chớ tính tôi vào”

Lập luận của Dana Gioia, xuất hiện lần đầu tiên bằng một bài trên tờ Đại Tây Dương (The Atlantic) và sau đó được in lại trong tập tiểu luận xuất bản năm 1992 có tên Thơ có gì quan trọng không?, đại ý như sau:

1. Khán giả của các sự kiện liên quan đến thơ thường là các nhà thơ, những người muốn thành nhà thơ, bạn bè của nhà thơ (hoặc tối nay, là bạn bè quen biết của chủ tọa).

2. Thơ đang mất một lượng lớn độc giả thuộc tầng lớp trí thức như bác sĩ, luật sư, giáo sĩ, kế toán, doanh nhân, những nhà thơ không chuyên đã từng làm thơ nghiêm túc; những công chúng thương mại của nhạc jazz, phim nước ngoài, kịch, opera, giao hưởng và khiêu vũ; lượng độc giả rộng rãi của tiểu thuyết chất lượng cao, tiểu sử và cả những người nghe đài phát thanh công cộng.

3. Hiện nay, thơ là một thứ văn hóa phụ của giới hàn lâm, được tài trợ từ quỹ công thông qua một mạng lưới phức tạp từ liên bang, bang cho tới địa phương.

a) Hiện có hơn 200 chương trình tu nghiệp về sáng tác.

b) Có đến vài ngàn công việc ở cấp đại học gắn với việc giảng dạy về thơ.

c) Việc tài trợ này, qua nhiều thập kỷ đã tạo ra một lực lượng hùng hậu chuyên sáng tác và tiếp nhận thơ.

d) Nhà thơ hiện nay  kiếm sống không phải bằng in thơ do mình sáng tác, mà bằng giảng dạy, ở các cơ quan lớn (thường thuộc nhà nước) chẳng hạn như học viện, trường đại học, cao đẳng, hoặc thậm chí ngày nay, ở một bệnh viện hay nhà tù cũng có, ở đó, họ dạy người khác cách làm thơ, hoặc ở trình độ cao nhất, là dạy người khác cách dạy người khác làm thơ.

4. Kể từ khi các nhà thơ chuyên nghiệp được bảo trợ và tuyển dụng, nhiều tạp chí chuyên về văn học mọc lên khắp nơi để các tác giả có thể xuất bản tác phẩm của nhau. Những Học bổng, tài trợ, bằng cấp, bổ nhiệm, và những lần xuất bản là những sự kiện khách quan, có thể xác định rõ số lượng, tức là, có thể liệt kê trong một bản tổng kết chẳng hạn.

5. Trước thềm thế kỷ, ít có nhà thơ được tuyển dụng trong các trường học, trừ Mark Van Doren hoặc Yvor Winters dạy các môn truyền thống. Nhà thơ là bác sĩ như Williams, là doanh nhân như Stevens, là luật sư như MacLeish, là nông dân hay chủ ngân hàng như Eliot và Frost. Thường thì họ làm nghề tay trái như Agee điểm phim cho tạp chí Time, Weldon Kees viết về nhạc jazz, Robert Hayden phê bình âm nhạc và sân khấu, hoặc như Archibald MacLeish viết bài và biên tập cho tờ Fortune.

6. Trong quá trình thu hẹp hình thức thơ cho phù hợp với giới kinh viện, thơ càng ngày càng trở nên tầm thường, như Dana Gioia đánh giá: “Ý nghĩa trọn vẹn của nghệ thuật đã bị phản bội”.

7. Vì thế, rất ít người chịu khó đọc thơ, ngay cả các nhà thơ cũng không chịu đọc thơ người khác. Auden nhìn nhận: “Việc sáng tác khép kín trong một giới những người thông minh viết về bản thân mình riêng cho bản thân mình

8. Và đây là chẩn đoán bi quan của Gioia về chuyện này: Một xã hội mà các lãnh tụ tinh thần của nó đánh mất khả năng  định hướng, nhìn nhận và hiểu được quyền lực của ngôn ngữ, sẽ trở thành nô lệ cho người nào còn nắm giữ được quyền lực ấy, cho dù họ là các chính khách, nhà truyền giáo, phát thanh viên, người bán hàng, hoặc bộ tham mưu của Tổng thống.

9.Trong tình trạng văn hóa đọc-viết suy giảm, các phương tiện truyền thông khác tăng mạnh, giáo dục nhân văn trong cơn khủng hoảng, các giá trị chuẩn mực bị sụp đổ, các nhà thơ có thể nào còn được lắng nghe?

Lần lượt qua từng trang, từng ví dụ, Gioia thuyết phục rằng thơ hiện nay lâm vào tình trạng một thứ văn hóa phụ, sống bằng trợ cấp, điều này làm cho thơ tầm thường và chẳng ai thực sự muốn nghe. Nhưng tôi muốn đẩy lý lẽ ấy tiến thêm một bước nữa. Đó là, trong thơ đương đại, đặc biệt là thơ Hậu Hiện đại, cái gì làm cho nó không gần gũi với hầu hết độc giả, nói không gần gũi nếu không muốn nói toẹt ra là hết sức phản cảm?. Cớ gì mà thơ ở thế kỷ 20 kém hấp dẫn hơn lời ca tiếng hát?

Trong nghệ thuật tạo hình, sự phổ dụng của máy ảnh và nhiếp ảnh đầu thế kỷ này là một trở ngại rất lớn đối với mỹ cảm, thách thức các họa sĩ hiện đại. Ấn tượng, trừu tượng, nghệ thuật tối giản, nghệ thuật ảo thị (Op-Art), nghệ thuật đại chúng (Pop-Art), chủ nghĩa Dada, Dada mới, chủ nghĩa hiện thực ảnh chụp và hiện thực – ảnh chụp-mới, tất cả đều có thể xem như phản ứng đối với mối đe dọa của bộ môn nhiếp ảnh, như một phương tiện ghi chép thời sự của hiện thực sáng tạo. Làm sao tránh né trước cuộc tấn công ồ ạt của một công nghệ đã không chỉ mô tả thế giới một cách thực hơn, mà  những kẻ mới tập tễnh vào nghề với vốn đào tạo sơ đẳng nhất cũng dùng được. Dù là những bức tranh “nhỏ giọt” của Pollock (hội họa hành động, dùng cả thân mình như là bút vẽ – chú giải của người dịch), hay những bức tranh sơn dầu hoàn toàn “đen” của Reinhardt, hoặc những bức tranh như thật của Don Eddy và Ralph Going (vẽ tranh bằng cách chiếu ảnh thật lên phông/màn rồi tô màu, tạo ra bức tranh gần như ảnh chụp – chú giải của người dịch), nghệ thuật hội họa của Thế kỷ 20 cuối cùng phải chịu đầu hàng trước máy ảnh với kỹ thuật chính xác của nó. Tom Wolf đã nói rằng 100 năm nữa, lứa sinh viên môn lịch sử hội họa sẽ nhìn những bức tranh của Thế kỷ 20 với sự “nhếch mép, cười cợt và kinh ngạc hài hước”.

Đã bao nhiêu lần bạn nghe những người dân thô kệch quê mùa đứng xếp hàng trong bảo tàng nghệ thuật hiện đại la lên rằng: “Con gái mới 7 tuổi của tôi cũng vẽ được như thế”. Câu hỏi đặt ra cho chúng ta là: “Nói vậy có đúng không?”. Và, không thể không đặt ra một câu hỏi tương tự cho thơ của Thế kỷ 20.

Rồi thế hệ sinh viên đọc (học) thơ ca của Thế kỷ 20 liệu có thích thú và ngạc nhiên về những sự cách tân/hình thức mở và những câu thơ tự do không? Kẻ thù có liên đới về kỹ thuật có khi lại chính  là hiệu quả trong quần chúng của thứ âm nhạc đại chúng. Có thể công bằng mà nói, rằng các nhà thơ hay nhất của thời đại chúng ta đã cống hiến những tác phẩm tốt nhất của họ cho phát thanh, truyền hình và sân khấu: từ Rodgers và Hammerstein cho đến Bob Dylan và Paul Simon, từ Cole Porter và Irving Berlin cho đến Joan Osborne và Big Head Todd. Những tác giả lời bài hát này có đông đảo khán giả và kiếm sống thoải mái bằng những lời thơ lôi cuốn, thân thiện, và suôn sẻ. Giới kinh viện đã chọn cách rút khỏi các diễn đàn tư tưởng phổ thông, rút lui về hũ nút, đặc trưng bởi ngụ ý phức tạp, diễn đạt tối giản, ám chỉ, lòng vòng, cú pháp tối tăm, ngắt câu tùy tiện, và phá vỡ hình thức chứ không cạnh tranh với âm nhạc đại chúng bằng sự truyền bá tinh thần đến độc giả bình dân.

Thơ ở Thế kỷ 20, hầu hết có đặc trưng như:

1- Hình thức mở, nếu không phải là những câu thơ phá vỡ cấu trúc một cách ngược ngạo để ép ngôn ngữ vào bất cứ thứ gì ngoài giọng điệu tự nhiên nhất. Theo nghĩa này, hình thức bị coi như là sự áp chế. Những Câu thơ tự do tương đương với đạo đức và thẩm mỹ của chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng trong nghệ thuật tạo hình. Nó là thứ hội hoạ của chủ nghĩa tối giản, chủ nghĩa hiện thực ảnh chụp, là sự rút lui dễ dàng  và cuối cùng đầu hàng trước âm nhạc đại chúng và những tấm thiệp loè loẹt rẻ tiền.

2- Ngôn ngữ bóng bẩy loại bỏ mọi phương tiện biểu hiện khác của thơ. Tôi gọi nó là sự mê mệt với liên tưởng… Sự giống nhau là phần quan trọng của các học viện, từ Stanford Binet, SAT, GRE tới LSAT, tất cả đều nhấn mạnh đến sự chết cứng về mặt trí tuệ của quan sát và liên tưởng, của việc nhận thức rằng điều này giống những điều khác, thường bằng những cách kỳ cục và thú vị. Eliot trong bài tiểu luận “Hamlet và các vấn nạn của chàng” (Hamlet and His Problems) năm 1991 khẳng định rằng “Một nhà thơ có thể biểu hiện cảm xúc chỉ thông qua một liên hệ khách quan”. Ngụ ý bóng bẩy được dùng lan tràn đến nỗi nó ngập cả thơ ca thời nay. Nhiều nhà thơ không sử dụng thủ pháp nào ngoài phép ẩn dụ và so sánh. Trong bất kỳ tạp chí văn học nào hiện nay, người ta có thể tìm thấy hàng chục bài thơ có văn phong hầu như giống nhau hoàn toàn, ấy là dạng Văn xuôi được trình bày trên giấy sao cho trông giống như một bài thơ, với cách ngắt dòng và chia khổ mô phỏng hình thức bài thơ, nhưng lại không theo bất kỳ thủ pháp truyền thống nào: vần hay phối vần, điệp âm, hòa âm, vần trắc, tượng thanh, vế đối hay thậm chí là một gợi ý tối thiểu nhất về nhịp điệu. Những bài thơ này có được thần thái thơ của chúng là nhờ ngôn ngữ bóng bẩy, nhà thơ còn khéo léo lưu ý chúng ta, bằng giọng trò chuyện thân tình, đôi khi lặp lại năm-sáu lần trong một bài thơ ngắn, rằng sự vật này giống sự vật kia như thế nào. Niềm mê thích liên tưởng, một nội dung đặc biệt của các lớp dạy viết văn thơ hoặc các hội thảo về thơ, có vẻ là phương tiện biểu đạt văn chương duy nhất của hầu hết các nhà thơ đương đại.

3- Trữ tình được ưa thích hơn tự sự (hay kể chuyện): Thơ Thế kỷ 20 có xu hướng quay lưng lại với lối kể chuyện, quay lưng lại di sản của Vachel Lindsey và Langston Hughes, quay lưng lại những câu chuyện dài (những đại tự sự) về những hành động vĩ đại, và các sự kiện có ý nghĩa lớn trong cuộc sống, quay về hướng nội, xoáy sâu nội tâm, tôi, chúng tôi, tự thuật, tự thú, cô độc, miệt mài với bản thân mình, tự cho mình là trung tâm, tự ý thức, tự cho mình là đúng,  thơ như vậy chẳng mấy liên quan đến công chúng thơ.

4- Cảm xúc giới hạn: Ngay cả những nhà-thơ-thích-trần-tình cũng thường ném thơ lên tạp chí trước khi để cho suy tư của họ nhuốm màu đa cảm. Trong giới kinh viện, các nhà thơ cảnh giác dè chừng với những mâu thuẫn về cảm xúc, yêu ghét lẫn lộn mà Freud đã cảnh báo, nên ngả về chủ nghĩa hoài nghi trí thức (phương pháp phân chiết [giải/ tháo dỡ cấu trúc?] văn học do nhà văn Pháp Jacques Derrida đề xuất cuối thập niên 60 là một ví dụ hoàn hảo), vì vậy mà ít khi họ có niềm tin nhiệt thành vào bất cứ điều gì. Charles Reznikoff cho biết: “Thơ trình bày sự việc để truyền tải cảm xúc. Sự việc cần chính xác và cảm xúc phải kín đáo. Có trời mới cứu được kẻ ủy mị”.

5- Châm biếm triền miên.

6- Tính cách trầm tư.

7- Thiếu cá tính: William Carlos tin rằng với việc xuất bản Vùng đất hoang(The wasteland) – đã đạt được “niềm sâu thẳm bị lãng quên của mọi thứ” mà ông hằng tìm kiếm trong thi ca.

8- Mơ hồ.

9- Mâu thuẫn.

10- Nói tránh.

11- Kiệm lời.

12- Hóm hỉnh.

13- Phân mảnh.

14- Gián đoạn.

Dana Gioia đã viết “Thơ có gì quan trọng không?” khá lâu trước khi ông nhận ra những gì đang diễn ra khắp các đô thị cả nước, trong các hộp đêm và phòng trà, tại câu lạc bộ Tarvern Greenmill ở Chicago và tiệm cà phê – thơ Nuyorican ở New York, trong các buổi đọc và trình diễn thơ. Trong bài tham luận trình bày tại Trung tâm Văn học (Poets House) ở New York ngày 26/10/1995, sau đó công bố trên tờ Poetry Flash, “Ghi chú hướng tới một nền thơ ca mới” (Notes Toward a New Bohemia), nỗi sợ hãi lớn nhất của ông về tương lai thơ ca dường như đã được giải toả.

Lập luận của ông đại ý là:

1. Những bài thơ mới bây giờ chủ yếu công bố bằng miệng. Đối với các nhà thơ đã thành danh cũng như người mới viết.

2. Đại diện cho cuộc lột xác của nền văn hóa in ấn, thể hiện như:

a)      Chính phủ không tham gia trợ cấp cũng như không chỉ định nhà thơ đặc biệt.

b) Khán giả nghe thơ đông hơn lượng độc giả đọc thơ qua sách. (Có cần có thêm một vị giáo sư bảo chúng ta rằng điều quan trọng là liệu thơ sẽ chuyển dạng  từ “ trình diễn tới trang giấy”?)

3. Đây là một cuộc cách mạng phổ thông, một chuyển biến dứt khoát từ in ấn cho đến truyền miệng, chủ yếu đối với các nhóm tách biệt khỏi nền văn hóa truyền thống, áp đảo, có tính văn chương, hàn lâm:

a) Lời bài hát rap trong âm nhạc, thơ ca.

b) Thơ Cao bồi (Cowboy Poetry: một hình thức thơ ứng khẩu truyền thống, chủ yếu ở Mỹ và Canada, thực hành bởi những người chăn nuôi, nông dân quây quần hát ngâm vào cuối ngày làm việc, đại diện được ưa chuộng nhất của thơ Cao bồi hiện đại là Baxter Black, mỗi tháng tư hàng năm ở Mỹ và Canada đều có tuần thơ Cao bồi – chú giải của người dịch).

c) Thơ slam (Thuật ngữ “bài thơ slam” thật ra là một phạm trù chủ chốt gồm chứa mọi bài thơ được trình diễn cho một số khán thính giả tại chỗ trong môi trường tranh tài, được khởi xướng bởi Marc Smith từ Chicago. Về luật lệ: Mỗi nhà thơ có 3 phút để trình diễn bài thơ. Nếu quá thời gian 3 phút, điểm sẽ bị trừ. Nhà thơ không được dùng những dụng cụ trang trí sân khấu, trang phục bất bình thường và nhạc cụ. Nhà thơ nhận điểm của 5 giám khảo, điểm cao và thấp không tính, chỉ tính điểm của ba giám khảo ở giữa, cộng lại, từ 0 tới 30. Nhà thơ phải thắng giải ở cấp địa phương rồi mới được dự tranh ở cấp tòan quốc – theo Lisa Martinovic, bản dịch của Khế Iêm – chú giải của người dịch).

4. Ngạc nhiên là, hầu hết thơ ca phổ thông mới này có hình thức:

a) Ví dụ, các quãng 4 căng thẳng (một câu bốn điểm nhấn) trong nhạc rap.

b) Các hình thức ballad Anh trong thơ Cao bồi.

c) Việc sáp nhập giữa thơ ca và sân khấu thử nghiệm để trình diễn thơ như đối với thơ slam thường chú trọng đến vần điệu.

5. Đối với các trường đại học, là cơ sở giáo dục được trang bị kỹ càng để bảo tồn văn hóa truyền thống hơn là để thúc đẩy sáng tạo của nghệ thuật mới, nó có lẽ sẽ thiết tha gắn bó với  chủ nghĩa Hiện đại, và sẽ tiếp tục như vậy cho đến cơn hấp hối của thơ Hậu Hiện đại.

(theo The Raven Chronicles)

About these ads

2 phản hồi

  1. Quan trọng hay không thì không biết nhưng trong lễ đón nhận ngôi vị tổng thống của Obama lần trước thì có nhà thơ lên đọc một bài chào mừng, trong khi không có ca sĩ nào được mời. Trong nền văn minh cổ đại phương Tây thì thơ ca là loại hình nghệ thuật xuất hiện sớm nhất cũng như được nghiên cứu sớm nhất. Thơ ca đối với họ là truyền thống, là gốc rễ của văn hoá, nên họ tìm cách để bảo tồn, dù công chúng thì không mấy chuộng thơ nữa.

  2. Bài viết cay quá. Cay đến mức nên nhìn nhận lại chuyện làm thơ hôm nay

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 4 221 other followers