• Danh mục

  • Các bài viết nổi bật

  • RSS Hội Ngộ Văn Chương

    • THƠ HOÀNG THỊ VINH: X MỘNG Y 13.10.2014
      HOÀNG THỊ VINH Tôi đã là tôi không phải mười, hai mươi năm trước! Những người đàn bà khác tôi – giống tôi hôm nay rủ nhau về thăm tôi?! Trăng muộn ló nửa mặt, dưới ánh đèn hoa kỳ bên gốc dâu da, có ba bài X Mộng Y như sau: MỘNG DU Nhoe […]
    • TADEUSZ ROZEWICZ: MẦU MẮT VÀ NHỮNG CÂU HỎI 26.04.2014
      TADEUSZ ROZEWICZ, NHÀ THƠ LỚN CỦA BA LAN VÀ THẾ GIỚI, ĐÃ QUA ĐỜI NGÀY 24.04.2014, THỌ 93 TUỔI. XIN GIỚI THIỆU CÙNG CÁC BẠN CHÙM THƠ CỦA ÔNG MẦU MẮT VÀ NHỮNG CÂU HỎI Có phải người yêu của tôi có đôi mắt xanh ánh bạc Không. Có phải người yêu của tôi có […]
    • KHÔNG BIẾT NGÀY MAI ANH THÍCH MÂY HAY GIÓ… 25.04.2014
      U ám thích mây lành nắng nôi anh thích gió nấu ăn không hát, hát không nấu ăn anh thích vừa nấu ăn vừa hát thì thầm anh thích em không đảng nếu phải chọn đảng phái không đảng phái anh thích em điên điên thân xác và tâm hồn cuối cùng là đẹp anh […]
    • VIÊN TRẠI TRƯỞNG VÀ NGƯỜI TÙ CẢI TẠO 20.04.2014
      ĐỖ XUÂN TÊ Chuyện tù cải tạo tưởng như mới đây, nay nhìn lại đã hơn ba mươi năm. Mùa hè năm ấy (76), chúng tôi là số sĩ quan cấp tá được ‘tuyển chọn’ đem ra Bắc chuyến đầu tiên. Lênh đênh trên chuyến tàu Sông Hương ăn ngủ tiêu tiểu tại chỗ dưới […]
    • THƯ GIÃN: ẢNH NUDE CỦA HUYỀN THOẠI SẮC ĐẸP MARILYN MORONE 18.04.2014
      SƯU TẦM: Cùng ngắm những hình ảnh nude để đời của huyền thoại sắc đẹp Hollywood, Marilyn Monroe:     Một trong những tấm ảnh nude của Marilyn Monroe sẽ được phát hành Đây là bức ảnh nude cuối cùng Monroe chụp trước khi qua đời năm 1962   Bức ảnh được chụp vào lúc […]
    • ĐÔNG TÂY: TUẦN LỄ SÁCH VÀ VĂN HOÁ ĐỌC 17.04.2014
      CHƯƠNG TRÌNH TẠI TRUNG TÂM VĂN HOÁ NGÔN NGỮ ĐÔNG TÂY: (18/4 – 26/4/2014) Hưởng ứng Quyết định số 284/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ kí ban hành lấy ngày 21/4 hàng năm làm “Ngày Sách Việt Nam”, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây cùng với một số đơn vị, cá nhân sẽ phối […]
    • NGUYỄN HOA VÀ THƠ 14.04.2014
      NGUYỄN TRỌNG TẠO Có ý kiến chê thơ Nguyễn Hoa khô khan, nhưng cũng chỉ là nói với nhau chỗ này hay chỗ khác chứ không thấy ai viết ra điều đó cả, nó chỉ giống những câu chuyện trà dư tửu hậu cảm tính thường nhật. Ngược lại, có khá nhiều bài viết về […]
    • DỊCH GIẢ LÊ BÁ THỰ RA MẮT TIỂU THUYẾT “HY VỌNG” 14.04.2014
      THANH TRÀ Tác giả: Katarzyna Michalak (Ba Lan) Người dịch: Lê Bá Thự Nhà xuất bản Hội Nhà Văn và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây ấn hành, quý II năm 2014      Lila Borowa, cô gái Ba Lan, mồ côi mẹ, bố nhà nông, nghiện rượu; Aleksei Dragonow, người Nga, mồ côi […]
    • LỜI TỰA “TRỊNH THANH SƠN TOÀN TẬP” 27.10.2013
      VŨ DUY THÔNG Bây giờ, xương thịt người ấy đã chìm khuất dưới ba thước đất, hồn vía người ấy đã cô đơn đâu đó cùng bạt ngàn trăng sao nhưng tinh huyết người ấy còn đây, những câu thơ, lời văn gan ruột một đời. Chỉ bằng những gì đã có trong tuyển tập […]
    • TỈNH ĐÔNG NGÀY TÔI VỀ 27.10.2013
      LÊ TUẤN LỘC MƯA TRONG VƯỜN TỰ LỰC VĂN ĐOÀN Mưa như là xưa lắm Vườn Thu càng buồn hơn Ta lặng lẽ trong vườn xưa mưa gõ Buồn tênh, người cũ đã xa rồi Đừng lăn tăn về vườn Thu mưa Mưa như là tiền định Mưa như là số phận Mưa lây rây […]
  • RSS Blog Quê Choa

    • Biển Đông: Khi 'cáo' đã rắp tâm 'thò chân' 24.10.2014
      Duy Chiến/ TVNẢnh bên:TQ đã biến bãi ngầm Chữ Thập thành hòn đảo lớn nhất ở Trường Sa. Ảnh: SCMPRất có thể, việc cấp tốc cải tạo và xây dựng trên các bãi đá ngầm như Gạc Ma, Chữ Thập... nằm trong ý đồ chiến lược của TQ đặt công luận quốc tế vào việc đã rồi trước khi Tòa án quốc tế ra phán quyết.Mới đây, tờ Bưu điện Hoa Nam buổi sáng (SCMP - Hong Kong) dẫn lờ […]
    • Nhân Quốc hội bàn về cải cách chương trình giáo dục: 24.10.2014
      Quốc hội cần giúp Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo cải cách chương trình dạy học cho thời tương laiVũ Cao Đàm/ BVN Hình sưu tầm InternetBVN: Một trong những nội dung của kỳ họp Quốc hội lần này là cải cách chương trình giáo dục ở nước ta.Thật ra cải cách chương trình giáo dục chỉ là cái ngọn. Đáng ra phải bàn từ cái gốc là toàn bộ công cuộc cải cách giáo dục, […]
    • Dự án sân bay Long Thành: Lãng phí và tăng nợ công 24.10.2014
      Nguyễn Thiện Tống/ Người Đô Thị Ảnh bên:Dự án sân bay Long Thành đã được lên kế hoạch từ những năm 1980 - Ảnh: Zing.vn LTS. Quốc hội khóa 13 vừa khởi động kỳ họp thứ 8. Đây là kỳ họp có số lượng dự án luật lớn nhất từ trước đến nay: 17 dự án luật được thông qua và 12 dự án luật khác được cho ý kiến. Trong số các dự án lớn Quốc hội sẽ thảo luận và thông qua c […]
    • "Bạn" xấc xược 24.10.2014
      Gs Nguyễn văn Tuấn/ FB Nguyen TuanMới tuần qua, ngài Bộ trưởng Quốc phòng đề cập đến những đối tác bên Tàu là "bạn". Một cách gọi ngọt ngào. Tôi đang ngạc nhiên, không biết ông Bộ trưởng Quốc phòng Tàu cộng có gọi đối tác của ông bên VN là bạn. Nhưng hôm nay, thấy báo Giáo dục Việt Nam có bài "Báo TQ xuyên tạc: Đoàn Tướng Việt Nam sang TQ để c […]
    • Báo Nhật: Kim Jong-un ra mật lệnh Trung Quốc là kẻ thù nghìn năm của Triều Tiên 24.10.2014
      Yên Yên (Tổng hợp),Theo Người đưa tin/ Tin mớiẢnh bên:Theo tờ báo của Nhật, lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un đã ra mật lệnh coi Nhật Bản là kẻ thù trăm năm, Trung Quốc là kẻ thù nghìn nămTờ Sankei Shimbun của Nhật tiết lộ, trong mật lệnh gửi cho các quan chức thuộc khối tuyên truyền, ông Kim Jong-un xác định Nhật là kẻ thù trăm năm, còn Trung Quốc là kẻ thù n […]
    • Ai mua sắt vụn, Vinalines bán cho 24.10.2014
      Lê Thanh Phong/ Lao độngẢnh bên:Ụ nổi này nằm ở cảng Gò Dầu từ nhiều năm, gây thiệt hại cho cảng rất nhiều. Ảnh Đất việtĐống sắt vụn đó có tên rất sang trọng là “Ụ nổi” - từng một thời hoàng kim vì Vinalines móc vào thân nó cái mác 9 triệu USD.Gần 200 tỉ đồng để bây giờ không biết bán lại được mấy cắc. Biết bắt đền ai bây giờ?Sau cái ụ nổi này, Vinalines sẽ […]
    • Những con số “bất thường” nói ra… ngượng chết! 24.10.2014
      Bùi Hoàng Tám/ FB Bùi Hoàng TámHình sưu tầm InternetTrong Báo cáo công tác phòng, chống tham nhũng năm 2014 tại phiên họp toàn thể lần thứ 14 của Uỷ ban Tư pháp ngày 15.9, trong số 944.425 trường hợp kê khai tài sản thu nhập năm 2013, chỉ có 5 người thuộc diện kê khai phải xác minh và 1 người bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo do kê khai không trung th […]
    • Làm sao để vùng vẫy trong hồ lớn 24.10.2014
      Phạm Chi Lan/ Tia sángTrong khi AEC đang đến rất gần, nhiều doanh nghiệp từ các nước ASEAN đang rầm rộ đổ bộ vào Việt Nam, thì phần lớn các cơ quan nhà nước lẫn doanh nghiệp Việt Nam đều có vẻ chưa biết lo giữ lấy sân nhà, cũng chưa biết đi tìm cơ hội ở các thị trường bạn.Với bốn trụ cột - thị trường thống nhất, không gian sản xuất chung; khu vực kinh tế cạn […]
    • Sân bay Long Thành- sự vội vã tội lỗi 24.10.2014
      Vương Trí Dũng/ BVNMô hình sân bay Lonbg Thành- Hình sưu tầm InternetXây dựng đất nước và phát triển kinh tế tất phải có tầm nhìn và phải biết quy hoạch. Nhưng ở Việt Nam luôn bị hội chứng tầm nhìn. Mà nhìn thật xa, năm 2030, năm 2050.Bệnh tầm nhìn: Sự hớt ngọn ăn trướcLại nói về quy hoạch tầm nhìn 2030, 2050. Những […]
    • Đâu phải chuyện bên bàn nhậu! 24.10.2014
      Đoàn Khắc Xuyên/TBKTSGPhối cảnh sân bay Long ThànhNhiều người mặc định, bàn nhậu là nơi người ta xả stress, nói chuyện trên trời dưới đất, thuật lại những chuyện hóng hớt, tha hồ “chém gió” mà chẳng phải chịu trách nhiệm gì.Thật ra với người đàng hoàng, nhậu cũng không phải là cái cớ để họ “văng mạng” hết cỡ. Nhưng nói chung, chuyện bên bàn nhậu là chuyện gi […]
  • Khách trực tuyến

    free counters

VỀ MỘT VĂN HÓA THƠ


BART BAXTER

BART BAXTER

BART BAXTER – TRI SƠ dịch

Lời dẫn: Bart Baxter – một mạnh thường quân kỳ cựu của Hội nhà thơ Washington, nhận danh hiệu Nhà thơ Vì Dân đầu tiên của Seattle (Mục tiêu của Chương trình Nhà thơ Vì Dân là thúc đẩy việc thực hành Nghệ thuật và Dân chủ)- viết cho các tạp chí Ergo, Seattle, Red Cedar, Thơ ca Ohio, Chronicles Raven, và các tạp chí khác. Ông đạt giải thưởng Hart Crane dành cho thơ năm 1994 tại đại học Kent State, giải thưởng Charles Proctor năm 1994 (Washington State), và MTV Poetry Grand Slam năm 1995… Các tác phẩm của ông viết về Thơ ca đã xuất bản như Hòa bình cho Arsonist (Peace for the Arsonist – Bacchae Press, 1995), Sonnets from the Mare Imbrium (Floating Bridge Press, 1999), A Man, Ostensibly (Egress Studio Press, 2004), The Man with St. Vitus’ Dance (Floating Bridge Press, 2000), và nhiều cuốn sách khác.

Bài viết sau đây của ông phát triển và đi sâu hơn về bài tiểu luận “Thơ có gì quan trọng không?” (Can Poetry Matter?) của Dana Gioia gây nhiều tranh cãi trong một thời gian dài ở Mỹ và Âu châu.

*

Trước khi tôi bắt đầu bài phát biểu sẵn của mình, hãy cho tôi hỏi khán giả trả lời bằng cách đưa tay lên (nếu đúng), một cách trung thực và nghiêm túc nhất. Tối nay, có bao nhiêu người có mặt ở đây là nhà thơ? [Một nửa khán giả đưa tay lên]. Có bao nhiêu người muốn trở thành một nhà thơ, đã có vài tác phẩm, đang tìm kiếm một nhà xuất bản? [Một phần tư đưa tay lên]. Và có bao nhiêu người là bạn bè của chủ trì hoặc thành viên điều hành hội nghị này? [Một phần tư đưa tay lên]. Bây giờ, còn những ai trong khán giả không thuộc bất kỳ một trường hợp nào, đã không hề đưa tay nãy giờ, xin hãy đưa tay lên. [Chỉ một cánh tay đưa lên].

-          Tôi nghĩ, nếu Dana Gioia có mặt ở đây tối nay, ông sẽ trả lời giản dị: “Chớ tính tôi vào”

Lập luận của Dana Gioia, xuất hiện lần đầu tiên bằng một bài trên tờ Đại Tây Dương (The Atlantic) và sau đó được in lại trong tập tiểu luận xuất bản năm 1992 có tên Thơ có gì quan trọng không?, đại ý như sau:

1. Khán giả của các sự kiện liên quan đến thơ thường là các nhà thơ, những người muốn thành nhà thơ, bạn bè của nhà thơ (hoặc tối nay, là bạn bè quen biết của chủ tọa).

2. Thơ đang mất một lượng lớn độc giả thuộc tầng lớp trí thức như bác sĩ, luật sư, giáo sĩ, kế toán, doanh nhân, những nhà thơ không chuyên đã từng làm thơ nghiêm túc; những công chúng thương mại của nhạc jazz, phim nước ngoài, kịch, opera, giao hưởng và khiêu vũ; lượng độc giả rộng rãi của tiểu thuyết chất lượng cao, tiểu sử và cả những người nghe đài phát thanh công cộng.

3. Hiện nay, thơ là một thứ văn hóa phụ của giới hàn lâm, được tài trợ từ quỹ công thông qua một mạng lưới phức tạp từ liên bang, bang cho tới địa phương.

a) Hiện có hơn 200 chương trình tu nghiệp về sáng tác.

b) Có đến vài ngàn công việc ở cấp đại học gắn với việc giảng dạy về thơ.

c) Việc tài trợ này, qua nhiều thập kỷ đã tạo ra một lực lượng hùng hậu chuyên sáng tác và tiếp nhận thơ.

d) Nhà thơ hiện nay  kiếm sống không phải bằng in thơ do mình sáng tác, mà bằng giảng dạy, ở các cơ quan lớn (thường thuộc nhà nước) chẳng hạn như học viện, trường đại học, cao đẳng, hoặc thậm chí ngày nay, ở một bệnh viện hay nhà tù cũng có, ở đó, họ dạy người khác cách làm thơ, hoặc ở trình độ cao nhất, là dạy người khác cách dạy người khác làm thơ.

4. Kể từ khi các nhà thơ chuyên nghiệp được bảo trợ và tuyển dụng, nhiều tạp chí chuyên về văn học mọc lên khắp nơi để các tác giả có thể xuất bản tác phẩm của nhau. Những Học bổng, tài trợ, bằng cấp, bổ nhiệm, và những lần xuất bản là những sự kiện khách quan, có thể xác định rõ số lượng, tức là, có thể liệt kê trong một bản tổng kết chẳng hạn.

5. Trước thềm thế kỷ, ít có nhà thơ được tuyển dụng trong các trường học, trừ Mark Van Doren hoặc Yvor Winters dạy các môn truyền thống. Nhà thơ là bác sĩ như Williams, là doanh nhân như Stevens, là luật sư như MacLeish, là nông dân hay chủ ngân hàng như Eliot và Frost. Thường thì họ làm nghề tay trái như Agee điểm phim cho tạp chí Time, Weldon Kees viết về nhạc jazz, Robert Hayden phê bình âm nhạc và sân khấu, hoặc như Archibald MacLeish viết bài và biên tập cho tờ Fortune.

6. Trong quá trình thu hẹp hình thức thơ cho phù hợp với giới kinh viện, thơ càng ngày càng trở nên tầm thường, như Dana Gioia đánh giá: “Ý nghĩa trọn vẹn của nghệ thuật đã bị phản bội”.

7. Vì thế, rất ít người chịu khó đọc thơ, ngay cả các nhà thơ cũng không chịu đọc thơ người khác. Auden nhìn nhận: “Việc sáng tác khép kín trong một giới những người thông minh viết về bản thân mình riêng cho bản thân mình

8. Và đây là chẩn đoán bi quan của Gioia về chuyện này: Một xã hội mà các lãnh tụ tinh thần của nó đánh mất khả năng  định hướng, nhìn nhận và hiểu được quyền lực của ngôn ngữ, sẽ trở thành nô lệ cho người nào còn nắm giữ được quyền lực ấy, cho dù họ là các chính khách, nhà truyền giáo, phát thanh viên, người bán hàng, hoặc bộ tham mưu của Tổng thống.

9.Trong tình trạng văn hóa đọc-viết suy giảm, các phương tiện truyền thông khác tăng mạnh, giáo dục nhân văn trong cơn khủng hoảng, các giá trị chuẩn mực bị sụp đổ, các nhà thơ có thể nào còn được lắng nghe?

Lần lượt qua từng trang, từng ví dụ, Gioia thuyết phục rằng thơ hiện nay lâm vào tình trạng một thứ văn hóa phụ, sống bằng trợ cấp, điều này làm cho thơ tầm thường và chẳng ai thực sự muốn nghe. Nhưng tôi muốn đẩy lý lẽ ấy tiến thêm một bước nữa. Đó là, trong thơ đương đại, đặc biệt là thơ Hậu Hiện đại, cái gì làm cho nó không gần gũi với hầu hết độc giả, nói không gần gũi nếu không muốn nói toẹt ra là hết sức phản cảm?. Cớ gì mà thơ ở thế kỷ 20 kém hấp dẫn hơn lời ca tiếng hát?

Trong nghệ thuật tạo hình, sự phổ dụng của máy ảnh và nhiếp ảnh đầu thế kỷ này là một trở ngại rất lớn đối với mỹ cảm, thách thức các họa sĩ hiện đại. Ấn tượng, trừu tượng, nghệ thuật tối giản, nghệ thuật ảo thị (Op-Art), nghệ thuật đại chúng (Pop-Art), chủ nghĩa Dada, Dada mới, chủ nghĩa hiện thực ảnh chụp và hiện thực – ảnh chụp-mới, tất cả đều có thể xem như phản ứng đối với mối đe dọa của bộ môn nhiếp ảnh, như một phương tiện ghi chép thời sự của hiện thực sáng tạo. Làm sao tránh né trước cuộc tấn công ồ ạt của một công nghệ đã không chỉ mô tả thế giới một cách thực hơn, mà  những kẻ mới tập tễnh vào nghề với vốn đào tạo sơ đẳng nhất cũng dùng được. Dù là những bức tranh “nhỏ giọt” của Pollock (hội họa hành động, dùng cả thân mình như là bút vẽ – chú giải của người dịch), hay những bức tranh sơn dầu hoàn toàn “đen” của Reinhardt, hoặc những bức tranh như thật của Don Eddy và Ralph Going (vẽ tranh bằng cách chiếu ảnh thật lên phông/màn rồi tô màu, tạo ra bức tranh gần như ảnh chụp – chú giải của người dịch), nghệ thuật hội họa của Thế kỷ 20 cuối cùng phải chịu đầu hàng trước máy ảnh với kỹ thuật chính xác của nó. Tom Wolf đã nói rằng 100 năm nữa, lứa sinh viên môn lịch sử hội họa sẽ nhìn những bức tranh của Thế kỷ 20 với sự “nhếch mép, cười cợt và kinh ngạc hài hước”.

Đã bao nhiêu lần bạn nghe những người dân thô kệch quê mùa đứng xếp hàng trong bảo tàng nghệ thuật hiện đại la lên rằng: “Con gái mới 7 tuổi của tôi cũng vẽ được như thế”. Câu hỏi đặt ra cho chúng ta là: “Nói vậy có đúng không?”. Và, không thể không đặt ra một câu hỏi tương tự cho thơ của Thế kỷ 20.

Rồi thế hệ sinh viên đọc (học) thơ ca của Thế kỷ 20 liệu có thích thú và ngạc nhiên về những sự cách tân/hình thức mở và những câu thơ tự do không? Kẻ thù có liên đới về kỹ thuật có khi lại chính  là hiệu quả trong quần chúng của thứ âm nhạc đại chúng. Có thể công bằng mà nói, rằng các nhà thơ hay nhất của thời đại chúng ta đã cống hiến những tác phẩm tốt nhất của họ cho phát thanh, truyền hình và sân khấu: từ Rodgers và Hammerstein cho đến Bob Dylan và Paul Simon, từ Cole Porter và Irving Berlin cho đến Joan Osborne và Big Head Todd. Những tác giả lời bài hát này có đông đảo khán giả và kiếm sống thoải mái bằng những lời thơ lôi cuốn, thân thiện, và suôn sẻ. Giới kinh viện đã chọn cách rút khỏi các diễn đàn tư tưởng phổ thông, rút lui về hũ nút, đặc trưng bởi ngụ ý phức tạp, diễn đạt tối giản, ám chỉ, lòng vòng, cú pháp tối tăm, ngắt câu tùy tiện, và phá vỡ hình thức chứ không cạnh tranh với âm nhạc đại chúng bằng sự truyền bá tinh thần đến độc giả bình dân.

Thơ ở Thế kỷ 20, hầu hết có đặc trưng như:

1- Hình thức mở, nếu không phải là những câu thơ phá vỡ cấu trúc một cách ngược ngạo để ép ngôn ngữ vào bất cứ thứ gì ngoài giọng điệu tự nhiên nhất. Theo nghĩa này, hình thức bị coi như là sự áp chế. Những Câu thơ tự do tương đương với đạo đức và thẩm mỹ của chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng trong nghệ thuật tạo hình. Nó là thứ hội hoạ của chủ nghĩa tối giản, chủ nghĩa hiện thực ảnh chụp, là sự rút lui dễ dàng  và cuối cùng đầu hàng trước âm nhạc đại chúng và những tấm thiệp loè loẹt rẻ tiền.

2- Ngôn ngữ bóng bẩy loại bỏ mọi phương tiện biểu hiện khác của thơ. Tôi gọi nó là sự mê mệt với liên tưởng… Sự giống nhau là phần quan trọng của các học viện, từ Stanford Binet, SAT, GRE tới LSAT, tất cả đều nhấn mạnh đến sự chết cứng về mặt trí tuệ của quan sát và liên tưởng, của việc nhận thức rằng điều này giống những điều khác, thường bằng những cách kỳ cục và thú vị. Eliot trong bài tiểu luận “Hamlet và các vấn nạn của chàng” (Hamlet and His Problems) năm 1991 khẳng định rằng “Một nhà thơ có thể biểu hiện cảm xúc chỉ thông qua một liên hệ khách quan”. Ngụ ý bóng bẩy được dùng lan tràn đến nỗi nó ngập cả thơ ca thời nay. Nhiều nhà thơ không sử dụng thủ pháp nào ngoài phép ẩn dụ và so sánh. Trong bất kỳ tạp chí văn học nào hiện nay, người ta có thể tìm thấy hàng chục bài thơ có văn phong hầu như giống nhau hoàn toàn, ấy là dạng Văn xuôi được trình bày trên giấy sao cho trông giống như một bài thơ, với cách ngắt dòng và chia khổ mô phỏng hình thức bài thơ, nhưng lại không theo bất kỳ thủ pháp truyền thống nào: vần hay phối vần, điệp âm, hòa âm, vần trắc, tượng thanh, vế đối hay thậm chí là một gợi ý tối thiểu nhất về nhịp điệu. Những bài thơ này có được thần thái thơ của chúng là nhờ ngôn ngữ bóng bẩy, nhà thơ còn khéo léo lưu ý chúng ta, bằng giọng trò chuyện thân tình, đôi khi lặp lại năm-sáu lần trong một bài thơ ngắn, rằng sự vật này giống sự vật kia như thế nào. Niềm mê thích liên tưởng, một nội dung đặc biệt của các lớp dạy viết văn thơ hoặc các hội thảo về thơ, có vẻ là phương tiện biểu đạt văn chương duy nhất của hầu hết các nhà thơ đương đại.

3- Trữ tình được ưa thích hơn tự sự (hay kể chuyện): Thơ Thế kỷ 20 có xu hướng quay lưng lại với lối kể chuyện, quay lưng lại di sản của Vachel Lindsey và Langston Hughes, quay lưng lại những câu chuyện dài (những đại tự sự) về những hành động vĩ đại, và các sự kiện có ý nghĩa lớn trong cuộc sống, quay về hướng nội, xoáy sâu nội tâm, tôi, chúng tôi, tự thuật, tự thú, cô độc, miệt mài với bản thân mình, tự cho mình là trung tâm, tự ý thức, tự cho mình là đúng,  thơ như vậy chẳng mấy liên quan đến công chúng thơ.

4- Cảm xúc giới hạn: Ngay cả những nhà-thơ-thích-trần-tình cũng thường ném thơ lên tạp chí trước khi để cho suy tư của họ nhuốm màu đa cảm. Trong giới kinh viện, các nhà thơ cảnh giác dè chừng với những mâu thuẫn về cảm xúc, yêu ghét lẫn lộn mà Freud đã cảnh báo, nên ngả về chủ nghĩa hoài nghi trí thức (phương pháp phân chiết [giải/ tháo dỡ cấu trúc?] văn học do nhà văn Pháp Jacques Derrida đề xuất cuối thập niên 60 là một ví dụ hoàn hảo), vì vậy mà ít khi họ có niềm tin nhiệt thành vào bất cứ điều gì. Charles Reznikoff cho biết: “Thơ trình bày sự việc để truyền tải cảm xúc. Sự việc cần chính xác và cảm xúc phải kín đáo. Có trời mới cứu được kẻ ủy mị”.

5- Châm biếm triền miên.

6- Tính cách trầm tư.

7- Thiếu cá tính: William Carlos tin rằng với việc xuất bản Vùng đất hoang(The wasteland) – đã đạt được “niềm sâu thẳm bị lãng quên của mọi thứ” mà ông hằng tìm kiếm trong thi ca.

8- Mơ hồ.

9- Mâu thuẫn.

10- Nói tránh.

11- Kiệm lời.

12- Hóm hỉnh.

13- Phân mảnh.

14- Gián đoạn.

Dana Gioia đã viết “Thơ có gì quan trọng không?” khá lâu trước khi ông nhận ra những gì đang diễn ra khắp các đô thị cả nước, trong các hộp đêm và phòng trà, tại câu lạc bộ Tarvern Greenmill ở Chicago và tiệm cà phê – thơ Nuyorican ở New York, trong các buổi đọc và trình diễn thơ. Trong bài tham luận trình bày tại Trung tâm Văn học (Poets House) ở New York ngày 26/10/1995, sau đó công bố trên tờ Poetry Flash, “Ghi chú hướng tới một nền thơ ca mới” (Notes Toward a New Bohemia), nỗi sợ hãi lớn nhất của ông về tương lai thơ ca dường như đã được giải toả.

Lập luận của ông đại ý là:

1. Những bài thơ mới bây giờ chủ yếu công bố bằng miệng. Đối với các nhà thơ đã thành danh cũng như người mới viết.

2. Đại diện cho cuộc lột xác của nền văn hóa in ấn, thể hiện như:

a)      Chính phủ không tham gia trợ cấp cũng như không chỉ định nhà thơ đặc biệt.

b) Khán giả nghe thơ đông hơn lượng độc giả đọc thơ qua sách. (Có cần có thêm một vị giáo sư bảo chúng ta rằng điều quan trọng là liệu thơ sẽ chuyển dạng  từ “ trình diễn tới trang giấy”?)

3. Đây là một cuộc cách mạng phổ thông, một chuyển biến dứt khoát từ in ấn cho đến truyền miệng, chủ yếu đối với các nhóm tách biệt khỏi nền văn hóa truyền thống, áp đảo, có tính văn chương, hàn lâm:

a) Lời bài hát rap trong âm nhạc, thơ ca.

b) Thơ Cao bồi (Cowboy Poetry: một hình thức thơ ứng khẩu truyền thống, chủ yếu ở Mỹ và Canada, thực hành bởi những người chăn nuôi, nông dân quây quần hát ngâm vào cuối ngày làm việc, đại diện được ưa chuộng nhất của thơ Cao bồi hiện đại là Baxter Black, mỗi tháng tư hàng năm ở Mỹ và Canada đều có tuần thơ Cao bồi – chú giải của người dịch).

c) Thơ slam (Thuật ngữ “bài thơ slam” thật ra là một phạm trù chủ chốt gồm chứa mọi bài thơ được trình diễn cho một số khán thính giả tại chỗ trong môi trường tranh tài, được khởi xướng bởi Marc Smith từ Chicago. Về luật lệ: Mỗi nhà thơ có 3 phút để trình diễn bài thơ. Nếu quá thời gian 3 phút, điểm sẽ bị trừ. Nhà thơ không được dùng những dụng cụ trang trí sân khấu, trang phục bất bình thường và nhạc cụ. Nhà thơ nhận điểm của 5 giám khảo, điểm cao và thấp không tính, chỉ tính điểm của ba giám khảo ở giữa, cộng lại, từ 0 tới 30. Nhà thơ phải thắng giải ở cấp địa phương rồi mới được dự tranh ở cấp tòan quốc – theo Lisa Martinovic, bản dịch của Khế Iêm – chú giải của người dịch).

4. Ngạc nhiên là, hầu hết thơ ca phổ thông mới này có hình thức:

a) Ví dụ, các quãng 4 căng thẳng (một câu bốn điểm nhấn) trong nhạc rap.

b) Các hình thức ballad Anh trong thơ Cao bồi.

c) Việc sáp nhập giữa thơ ca và sân khấu thử nghiệm để trình diễn thơ như đối với thơ slam thường chú trọng đến vần điệu.

5. Đối với các trường đại học, là cơ sở giáo dục được trang bị kỹ càng để bảo tồn văn hóa truyền thống hơn là để thúc đẩy sáng tạo của nghệ thuật mới, nó có lẽ sẽ thiết tha gắn bó với  chủ nghĩa Hiện đại, và sẽ tiếp tục như vậy cho đến cơn hấp hối của thơ Hậu Hiện đại.

(theo The Raven Chronicles)

About these ads

2 phản hồi

  1. Quan trọng hay không thì không biết nhưng trong lễ đón nhận ngôi vị tổng thống của Obama lần trước thì có nhà thơ lên đọc một bài chào mừng, trong khi không có ca sĩ nào được mời. Trong nền văn minh cổ đại phương Tây thì thơ ca là loại hình nghệ thuật xuất hiện sớm nhất cũng như được nghiên cứu sớm nhất. Thơ ca đối với họ là truyền thống, là gốc rễ của văn hoá, nên họ tìm cách để bảo tồn, dù công chúng thì không mấy chuộng thơ nữa.

  2. Bài viết cay quá. Cay đến mức nên nhìn nhận lại chuyện làm thơ hôm nay

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 4 299 other followers