ĐẰM THẮM MỘT TÌNH YÊU TỔ QUỐC


NGUYỄN NGỌC QUẾ

Nhà thơ Nguyễn Hoa

Nhà thơ Nguyễn Hoa

Đây là tổ quốc của ông: Máu người chảy thấm sâu/ Thành mạch nguồn dưới đất/ Trong veo không mất. Tổ quốc là đồng đội ở biên giới hải đảo: Chúng con sống cuộc đời người lính/ Đến đứng làm cột mốc biên cương…/ Nước ngọt ở đây phải tính bằng giọt/ Chúng tôi đổi bằng máu tươi. Tổ quốc là lịch sử thấm máu bao anh hùng nghĩa sĩ: Một trái tim thấm mưa rơi ải Bắc/ Thấm máu dân bị giặc hành hình/ Một trái tim không thể gông kìm. Chính tình yêu Tổ quốc thiêng liêng đó, cả thế hệ của ông vác súng đi đánh giặc: Hạt gạo tôi ăn lăn mình qua lửa/ Biết bom 400 bảng Anh nhằm vào cây lúa/ Tôi cầm súng ra đi

Ngày 04 tháng 4 năm 2012, vào buổi chiều muộn, nhà thơ Nguyễn Hoa điện gọi tôi xuống phố Kim Đồng uống bia. Chà, hơi bị bất ngờ, vì ông Hoa có là người bia bọt, nhậu nhẹt gì đâu? Chắc có gì tâm trạng lắm đây mà ông Trưởng Ban tổ chức hội nhà văn Việt Nam lại xả stress bằng bia với tôi. Tôi nhại giọng. Ông hỏi: “Dưng mà… ông có bia bọt gì đâu mà ngồi quán xá”. “Dưng mà… cứ xuống nhé”. Giọng ông nhỏ nhẹ, tha thiết lắm. Hai anh em ngồi với nhau trong quán nhỏ bên hồ. Nhấp một ngụm bia cho đỏ mặt, tươi người, ông Hoa cười hồ hởi: “Hôm nay chúng ta kỷ niệm 48 năm chiến thắng Hàm Rồng và 40 năm tôi với ông quen nhau”.

Hóa là như vậy mà tôi vô tâm không nghĩ ra. Cái ông này, người xứ Sơn Nam Hạ mà tình nghĩa, máu thịt với xứ Thanh quê tôi nhỉ. Tôi ngồi im lặng nhìn ra hàng cây đang xanh mướt vào hè. Ông Hoa trầm ngâm, người chín lặng với ký ức sáng trong đôi mắt. Đôi mắt hiền dịu ấy tôi gặp lần đầu vào chiều cuối năm 1972 ở thị xã Thanh Hóa. Chiền ấy yên ả, ta đã thắng trận Điện Biên Phủ trên không, giặc Mỹ dừng ném bom miền Bắc, hiệp định Paris sắp ký. Thị xã thời chiến nhỏ, vài con phố nhà lợp ngói xập xệ, người tản cư về thưa thớt. Bọn tôi gồm Anh Chi, Đặng Ái ngồi trong quán nhỏ sửa đồng hồ của nhà thơ Anh Tuấn. Mấy anh em khề khà chén rượu suông, trầm lắng cái cảm giác yên bình, không còn thắc thỏm tiếng máy bay Mỹ rú, tiếng cao xạ đùng đoàng ngoài Hàm rồng thì Từ Nguyên Tỉnh đến, dẫn theo một anh bộ đội cao gầy, quân phục rộng thùng thình. Ông Tỉnh là lính pháo ở đại đội C4 Hàm Rồng, cũng là dân ham viết. Ông bắt tay mọi người. “Hôm nay không phải trực chiến, được nghỉ một ngày, tôi đưa ông này đến chơi, là cộng tác viên báo Quân khu Ba, lính quân giới sửa chữa pháo, viết thơ, tên là Nguyễn Hoa Kỳ”. Rồi ông Tỉnh nửa đùa, nửa thật cười hề hề: “Ông ghét giặc Mĩ, bỏ chữ Kỳ và lấy bút danh Nguyễn Hoa, mê một cô dân quân Hoa- Lộc”

Nguyễn Hoa à! Chúng tôi reo vui thân mật. Ông Anh Chi cười: “Ông Hoa vừa in ở tạp chí Người bạn văn hóa bài thơ ca ngợi các cô gái Hoa Lộc bắn rơi máy bay Mỹ” và ông Chi đọc giọng ấm:

“Dừa giống nhau nên anh đi lạc ngõ

Để em cười rơi nắng xuống chân”

Đó là bài thơ hay viết về dừa xứ Thanh, tôi cứ ám ảnh mãi hình tượng “Để em cười rơi nắng xuống chân”. Tôi rót chén rượu mời ông Hoa, hai anh em chạm cốc nhau thông hiểu. Tôi quen thân Nguyễn Hoa từ đó.

Cuộc đời con người như dòng sông có nhiều khúc. Dòng sông Nguyễn Hoa có ba khúc rành rẽ, trôi theo thời gian mà phân định. Khúc đầu là tuổi thơ ở quê nhà Kim Bảng, Hà Nam, với năm tháng vất vả: “Để nhớ/ một lần trắng tay/  Mẹ gồng gánh anh em chạy/ Cha đi trường kỳ kháng chiến”. Hòa bình cậu bé Kỳ giúp mẹ làm ruộng, trồng lúa, vun khoai và chăm chỉ học: “trang sách dạy tôi niềm khát khao của đất”.

Khúc hai là làm lính. Mười chín tuổi ông là bộ đội quân giới, sửa chữa vũ khí khắp vùng quân khu 3, chủ yếu ở vùng chiến sự Hàm Rồng. Gần 10 năm đời lính ông gắn bó với xứ Thanh như quê hương thứ hai. Từ sông Đáy, sông Châu ông về với sông Mã, sông Chu. Ông ăn khoai ở Neo, rau má Cầu Quan, tắm nước sông Chu. Có dạo thức trắng đêm ở Hàm Rồng, ngắm cây cầu huyền thoại hiện ra trong mờ ảo ánh trăng, nghe ngọt câu hò sông Mã của cô dân quân Nam Ngạn sau một ngày kịch chiến. Đây là quãng thời gian tạo dựng lên con người Nguyễn Hoa, bồi đắp nền tảng, lý tưởng, tâm hồn cảm xúc, là hồn cốt thơ ông sau này.

“Tuổi hai mươi tôi đi không mệt mỏi

Suốt chiều dài bom đạn dọc đời tôi”

Khúc ba của ông ổn định cuộc sống ở Hà Nội, làm biên kịch ở xưởng phim quân đội, làm công chức ở hội nhà văn và viết. Đây là thời kỳ Nguyễn Hoa làm con tằm nhả tơ đẹp óng từ những chất liệu quý ông có. Cuộc sống thủa bom đạn, máu nước mắt nuôi dưỡng tâm hồn thi sỹ dự cảm về cuộc đời trong trẻo hôm nay… “Và tôi nghe trong bình minh tơ nõn/ Tiếng gà cúc cu gáy gọi/ Ngày mới, ngày mới, ngày mới”

Nguyễn Hoa là người đôn hậu, lành tính nhất trong các bạn bè tôi quen biết. Lành đến nỗi nhiều người cứ thấy ông quê quê thế nào ấy giữa phố thị phù hoa. Chỗ đông người ông nhẹ nhàng ẩn mình sau bạn bè, đồng nghiệp. Ông sống hòa đồng với mọi người, chậm rãi, kiên nhẫn đi trên con đường tự mình lao động, tự mình vươn lên. Ông là người nghĩa tình với bạn bè. Cứ xem tình bạn của ông với các nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha bền vững lắm. Nó đẹp như Lưu, Quang, Trương trong Tam Quốc diễn nghĩa vậy. Ông Tạo, ông Kha viết thơ, viết nhạc tài hoa, mạnh mẽ, bùng nổ thế mà gắn kết với ông Hoa mềm ngọt nước lọc hàng chục năm rồi. Ông Tạo khen ông Hoa “Bạn đã xóa được nhiều ràng buộc bên ngoài và đạt được nghệ thuật tự nhiên ngoài ý muốn. Tôi thấy bạn ung dung tự tại trong chính ngôn ngữ thơ của mình”. Lời khen đúng tính cách sống và thơ ông Hoa. Chính tính cách đó mà nhà thơ Hữu Thỉnh quý trọng mời ông về hội nhà văn công tác. Ông Hoa là người của công việc. Ở ban tổ chức hội nhà văn đủ thứ việc, nào hội nghị, mừng thọ, tang lễ, thăm hỏi hội viên đau ốm, ông đều nhiệt tình lo chu đáo. Có dịp giáp Tết ông vẫn bay vào miền Trung viếng tang một nhà văn. Hỏi ông có mệt không, ông trầm buồn: “Phải đi chứ, mỗi một nhà văn, nhà thơ mất đi, đất nước mất một tài năng, rừng văn mất một cây xanh. Thương tiếc lắm!”. Thật tâm huyết, cảm động!

Tôi hay đến số 9 Nguyễn Đình Chiểu vào phòng ông Hoa chơi. Gặp ông ấm cúng, bè bạn tay bắt mặt mừng, hỏi thăm sức khỏe, gia đình, viết lách, in ấn. Tôi thấy nhiều nhà văn cao niên hay đến với ông tham vấn cho nhiều chuyện. Con người ông Hoa là vậy, cứ lặng lẽ sống, lặng lẽ làm việc, lặng lẽ yêu thương mọi người.

Nếu dòng sông cuộc đời có ba khúc ngoặc thì dòng sông thơ của Nguyễn Hoa chỉ có một dòng trôi. Dòng sông ấy nhìn vào tưởng êm đềm, nhưng trong lòng nó cuộn sôi sóng ngầm mãnh liệt tha thiết, đầy phù sa cảm xúc. Nguồn mạch của nó đằm thắm một tình yêu Tổ quốc. Tình yêu đất nước, nhân dân, quê hương là cảm hứng xuyên suốt trong thơ Nguyễn Hoa. Chỉ nhìn vào hàng chục tập thơ và các bài thơ với tiêu đề đã nói rõ điều đó: “Con Tổ quốc”, “Tổ quốc”, “Đất nước ngời ngời”, .v.v…

Đây là tổ quốc của ông: Máu người chảy thấm sâu/ Thành mạch nguồn dưới đất/ Trong veo không mất. Tổ quốc là mẹ kính yêu: Những nếp nhăn trên trán mẹ/ Là núi là đồi/Là bờ xôi ruộng mật/ Là sông dài biển rộng. Tổ quốc là đồng đội ở biên giới hải đảo: Chúng con sống cuộc đời người lính/ Đến đứng làm cột mốc biên cương…/ Nước ngọt ở đây phải tính bằng giọt/ Chúng tôi đổi bằng máu tươi. Tổ quốc là lịch sử thấm máu bao anh hùng nghĩa sĩ: Một trái tim thấm mưa rơi ải Bắc/ Thấm máu dân bị giặc hành hình/ Một trái tim không thể gông kìm. Chính tình yêu Tổ quốc thiêng liêng đó, cả thế hệ của ông vác súng đi đánh giặc: Hạt gạo tôi ăn lăn mình qua lửa/ Biết bom 400 bảng Anh nhằm vào cây lúa/ Tôi cầm súng ra đi.

Những câu thơ không kể lể, véo von, sa- lông- hóa. Những câu thơ máu thịt và tầm vóc. Ý tưởng được hình tượng chắp cánh gây dấu ấn mạnh cho người đọc. Đó là lý tưởng trong bài viết “Một nền thơ đang chuyển” của nhà thơ Hữu Thỉnh, mong đợi ở các nhà thơ.

Gần 50 năm cầm bút, Nguyễn Hoa chỉ có viết thơ. Ông bền bỉ, say đắm, lấy cần cù làm nên tài năng, lấy tấm thịnh tình hậu tạ nàng thơ. Ông không xuất hiện rực rỡ, không có giải thưởng ở hội nọ, ban kia. Thơ như đời ông âm thầm đi riêng dòng chảy của mình. Ông biết giữ cái nhân hòa, khí tiết của người thơ, không chạy theo các “mốt”, các trường phái này nọ. Thơ ông đã đi đến tận cùng ngôn ngữ Việt mà ông Kha trăn trở, mong ước. Ông viết thơ ngắn để tìm tòi câu chữ, viết thơ dài để làm chủ mạch văn bay lượn. Hãy đọc toàn bộ các tập thơ của ông ta phải nghĩ lại cách nhìn nhận thiếu biện chứng, toàn bích về thơ Nguyễn Hoa trước đó. Xuôi theo dòng sông thơ Nguyễn Hoa, ta ngạc nhiên trước sự vạm vỡ, mênh mang, đắm đuối của nhiều ý tưởng, cảm xúc. Hóa ra thơ ông Hoa cổ điển trong từ ngữ, hình tượng nhưng mới lạ trong cấu trúc, mạch thơ. Đọc rất hiện đại.

Những bài thơ ngắn của ông dồn nén cảm xúc chọn hình tượng, chữ thơ rất “đắt”. Hãy đọc: Sóng dạt dào: biển lớn/ Thông vi vút: thông cao/ Cỏ rì rào: cỏ bén/ Tôi làm sao có biển lớn/ thông cao/ Cỏ bén/ trong hồn. Hay: Em là muối/ ướp nỗi đau/ tươi mãi. Rất nhiều viên ngọc như thế trong thơ Nguyễn Hoa.

Cách tân, đổi mới ư! Ông Hoa đã thể nghiệm nó cách đây vài chục năm rồi. Hãy đọc “bài thơ cây cầu” ông viết năm 1985 thì rõ. Cũng đề tài chiến tranh, ông viết với ý tưởng mới, cấu trúc bài thơ cũng lạ. Ông tưng tửng để tự cảm xúc xếp đặt ý thơ, hình tượng như tự nhiên nó có. Bắt người đọc theo mạch liên tưởng nhiều sự kiện, con người trong thời gian giãn nở, không gian đa chiều:

…Tôi biết số phận những con chữ xếp hàng

   Phải vượt

…Đất quặn đau đến khúc này nghẽn lại

    Sông đổi dòng sóng vỗ đến hôm nay

…Gặp bao đôi mắt nhắm rồi không khuất

    Mọc mắt xanh lá cây

   Mọc mắt sao vằng vặc trời.

Ở “Máy bay đang bay”, ông viết với tâm thế con người hiện đại, chủ thể công nghệ và thiên nhiên. Cảm xúc thơ được thăng hoa

“Máy bay đang bay

Sự bền vững bây giờ: Độ cao, tốc độ

Trong không gian bốn chiều

…Máy bay đang bay ở độ cao trên bão”

Ta đọc thêm “dự cảm”, “Dưới mặt trời”, “Thơ giửi những người cha nước Mỹ”… sẽ thấy sự đổi mới của Nguyễn Hoa quyết liệt dường nào.

            Bây giờ ông Hoa đang ngồi trước tôi nhâm nhi ngụm bia cho phải đạo ngồi quán với bạn. Ông đã ở tuổi 65, chớm bệnh, được vợ con chăm, vượng người lên rồi.  Chị Chúc vợ ông đảm lắm, bỏ nghề y, nghỉ chế độ sớm, từ Phủ Lý ra Hà Nội để cùng chồng nuôi dạy con cái. Có một tý nhà “ống” ở phố Kim Đồng, chị đặt “mẹt hàng” bán buôn theo phố thị, nhặt thêm đồng tiền để ông Hoa an tâm công việc và làm thơ. Đây là thời kỳ chín của thơ Nguyễn Hoa. Thơ ông xuất hiện đều trên các báo, tạp chí, vài năm in tập gửi tặng bạn bè.

            Quán bia dãn người, ông Hoa thừ ra buồn buồn. Tôi hỏi vì sao, ông thẽ thọt: “Tôi muốn về lại quê Thanh lắm. Nhớ dạo năm 1986 tôi về, đến nhà ông mượn chiếc xe đạp, đạp thong dong ra Hàm Rồng, ngược lên Neo, về Hoa Lộc thăm rừng dừa”. Tôi khẽ hỏi ông có về thăm em gái dân quân năm nào không? Ông Hoa sáng mắt: “Có chứ! Bây giờ cô ấy đã có chồng, hai con, vẫn nhận ra mình, gọi anh xưng em rối rít như hồi ở trận địa pháo vậy. Tình cảm thời chiến đẹp, thiêng liêng, sống cả đời vì nó ông ạ”. Câu nói non xanh ngỡ như ông trở về cái tuổi mười chín, hai mươi. Tôi chợt nhớ câu thơ của ông:

Khi trong tôi có mặt trời

Tôi làm hạt muối ngàn khơi lên bờ

Đỏ tươi màu thắm lá cờ

Hồng cầu của máu, câu thơ của đời

            Mãi mãi trong tâm hồn nhà thơ Nguyễn Hoa, đằm thắm một tình yêu Tổ quốc.

                                                           Tháng 7/2012

About these ads

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 4 298 other followers