LÊ ĐẠI CANG – THỜI ĐẠI VÀ LỰA CHỌN


NGUYỄN THỤY KHA

Trong lịch sử, có những trùng lặp tưởng là ngẫu nhiên giữa những mốc sự kiện thời đại với những mốc sự kiện thời đại với những mốc sự kiện của một đời người, nhưng có khi lại chẳng hề ngẫu nhiên. Điều đó, rất đúng với cuộc đời của danh nhân văn võ song toàn đất thang mộc Bình Định – Lê Đại Cang. 

          Trùng lặp đầu tiên là năm Lê Đại Cang ra đời Tân Mão 1771 cũng là năm Tây Sơn dấy nghĩa. Trùng lặp thứ hai là năm ông 21 tuổi – năm Nhâm Tý 1792, năm mà Lê Đại Cang phải chịu tang song thân, cũng là năm cả nước chịu tang Hoàng đế Quang Trung. Trùng lặp thứ ba là năm ông 31 tuổi – năm Nhâm Tuất 1802 – khi Lê Đại Cang được thăng tri huyện Tuy Viễn thì cũng là năm kết thúc lịch sử nội chiến ở Việt Nam trong giai đoạn từ 1771 đến 1802 – một lịch sử nội chiến với đầy biến động để khi khép lại thì đã thống nhất bờ cõi thành một đường thái cực từ Mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau trong quốc hiệu chính thức mang tên Việt Nam. Còn phủ Quy Nhơn quê ông được đổi là Bình Định.

          Theo “Lê thị gia phả” – một áng văn chương duy nhất còn sót lại của sự nghiệp văn chương Lê Đại Cang, cụ thân sinh ra ông – Cụ Thiệu Long (tên húy là Hậu) – một hàn lâm viện thi đốc học sĩ tuy quê hương ở đất Quy Nhơn “từ nhỏ đã anh tú, theo anh là Bá Nho học nghề, lớn lên ra kinh đô Huế sống với anh Khánh Phong, đọc sách tìm chân lý, thông đại nghĩa, lại viết chữ hay nữa”. Cụ lấy vợ ở Huế và dựng nhà cạnh Tịnh xá Đức Tông của người anh. Vậy là Lê Đại Cang sinh ở Huế. Cũng theo “Lê thị gia phả”, mùa thu năm Bính Thân 1776, gia đình ông về cửa chùa huyện Đăng Xương (nay là huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị), rồi đến năm Bính Ngọ 1786 mới trở về nhà cũ ở Dương Xuân (nay thuộc Tuy Phước, Bình Định). Chính thời đại nội chiến khốc liệt này đã khiến gia đình ông nay đây mai đó, con cái thất học, chỉ có thể tự học mà thôi. Nhưng cũng chính do thời đại này mà khi trở về quê nhà, Lê Đại Cang được học người thày đầu tiên là Nguyễn Tử Nghiễm – quan thị giảng thời Tây Sơn. Nhưng quan trọng và duyên ngộ nhất là ông được học văn của Thượng Thư Bộ Lễ Đặng Đức Siêu. Đặng Đức Siêu là một danh nhân lớn (có tên trong từ điển Văn hóa Việt Nam), người Bồng Sơn, phủ Quy Nhơn (nay là huyện Bồng Sơn, tỉnh Bình Định). Và cũng ở đó, ông đã được thụ giáo võ nghệ của các võ sư thâm hậu đất thang mộc. Quê hương đất võ, trời văn đã hun đúc lên con người Lê Đại Cang văn võ song toàn. Cũng theo “Lê thị gia phả”, Lê Đại Cang tâm sự: “Năm 21 tuổi, cha mẹ đều ngã bệnh, tôi hầu hạ thuốc thang chạy chữa nhưng vô phương, cha mẹ nối nhau qua đời. Cha mẹ mất lúc cả nhà đang sống rất đạm bạc, ra khe nước suối, lạt lẽo như vị nước mùa thu”. Lê Đại Cang nghỉ học thày, chỉ ôn sách cũ, sống bằng nghề dạy học. Song chính trong mười năm ấy, vừa chứng kiến cảnh mẹ cha qua đời, cảnh người anh hùng áo vải Quang Trung như vì tinh tú vụt tắt, để lại một triều đại chứa chất nhiều phe phái mâu thuẫn, vừa ngẫm nghĩ về lực lượng chúa Nguyễn mới mẻ, trong vô thức đi tìm vượt thoát khỏi vòng kiềm thúc của truyền thống cổ hủ, bắt đầu giao hòa với văn minh phương Tây tiến bộ, Lê Đại Cang ngẫm nghĩ lời căn dặn của cha, với quyết định ở tuổi “tam thập nhi lập” đã sẵn sàng nhận chức tri huyện Tuy Viễn, để bắt đầu một hành trình đầy trắc trở trên con đường làm quan phục vụ triều đại mới đến tận cùng sức lực. Đó là sự lựa chọn đúng đắn mà ông đã nhận ra từ Hậu quân Lê Chất, Bình Tây tướng quân Nguyễn Huỳnh Đức, Huỳnh bộ tham tri Nguyễn Hoài Quỳnh – những người tiến cử ông.

          Trong suốt 45 năm làm quan trải qua 3 triều Nguyễn: Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị, những đóng góp của Lê Đại Cang đánh đông dẹp bắc và đào sông, mở đất ở cả ba miền Nam Bắc, nhất là ở Hà Nội và miền biên viễn Cực Nam tổ quốc, đã được lịch sử ghi nhận đầy vinh quang. Giữ đê Bắc, bình giặc Nam, từ tri huyện quê nhà đến quyền Tổng trấn Bắc thành, Tổng đốc Sơn – Hưng  – Tuyên, Tổng đốc An – Hà, Trấn Tây tham tán đại thần, Lê Đại Cang trong cuộc đời có một số phận có gì tương tự như Hoàng đế Quang Trung. Người đánh tan quân Xiêm ở Rạch Gầm – Xoài Mút, người dẹp đuổi quân Xiêm ra khỏi Phnông-pênh. Người đại phá quân Thanh ở Thăng Long, người hai lần thuần phục sứ Thanh tại phòng tiếp sứ ở Hà Nội. Người lấy Ngọc Hân công chúa – con vua Lê làm Bắc cung hoàng hậu. Người lấy Ngọc Phiên quận chúa cháu vua Lê làm thiếp. Họ đều xứng danh kiệt hiệt đất thang mộc tuy ở các cấp độ khác nhau trong vị trí lịch sử.

          Cũng do vị trí lịch sử, một người xuất chúng siêu phàm có công tạo ra một thời đại vẻ vang, mở đường cho thời đại sau bắt đầu công cuộc giao hòa thế giới, thì lại vì quá sức mà mắc bệnh chết sớm. Còn người kia, do bị ám ngữ bởi tư tưởng độc tài và bành trướng của Minh Mạng, thì đã kịp tự giác ngộ mình trong một giải thoát khác. Suốt cuộc hành trình liên tục gần nửa thế kỷ, Lê Đại Cang đã lựa chọn tâm thế tĩnh trong động để có thể dâng hiến toàn bộ năng lực mình đến tận cùng. Vừa ra trận, vừa chỉ đạo xây dựng kinh tế, ông vừa để lại những tập thơ văn và tập “Lê thị gia phả” độc đáo. Thơ của ông tuy đã bay theo làn khói thuốc lá của một cuộc chiến tranh ở một thời đại sau, nhưng tập “Lê thị gia phả” đã cho ta soi chiếu từ một dòng họ để nhận ra mọi tác động lịch sử suốt chiều dài mấy ngàn năm đến từng số phận con người. Có lẽ vì là con dân một đất nước liên miên chiến tranh, chứng kiến bao cảnh loạn ly chết chóc, mà con người thường tìm đến sự giải thoát bằng tâm linh. Dòng họ Lê của Lê Đại Cang bao người vào cửa Phật để xa lánh sự đời? Bao người theo đạo Lão để nhập thế cứu đời. Ngay Lê Đại Cang, khi cuối đời lập ra chùa Giác Am và trở thành Giác Am cư sĩ thì chính cả sự nghiệp của ông, với cách ứng xử lúc lên voi, lúc xuống chó thì lại có gì đó rất vô vi từ vô thức. Ông vẫn là người trong Lão, ngoài Khổng, rồi Phật.

          Thật không dễ gì mà sứ giả nhà Thanh sau khi tiếp xúc, đàm phán đã tặng ông hai câu đối trên liễng sứ: “Đông Sơn khí khái – Bắc hải phong lưu” và “Tọa đối hiền nhân tửu – Sơn tàng thái sử thơ”. Có lẽ ngoài khí phách và phong nhã của ông chính là đôi câu liễng khảm trai “Nhứt họa nhứt thi” của ông treo trong phòng tiếp sứ Thanh: “Miến lan vị cảm tư quân tử – Kiến trúc hà tu vấn chủ nhân” mà sứ Thanh đã đọc được mà kiêng nể. Một Lê Đại Cang năm Tân Sửu 1841 tiếp sứ Thanh hào khí có kém gì một sư Khuông Việt năm Đinh Hợi 987 tiếp sứ Tống, cũng như Trần Huy Liệu thời đại Hồ Chí Minh khi Trần Nghị hỏi: “Các ông có sợ chúng tôi không?” thì nhận được câu trả lời: “Sợ hay không thì cứ nhìn lại lịch sử”. Cứ thế, các bậc trí giả mọi thời đại Việt Nam đều như cái đòn khiêng võng kiên nhẫn đưa các thời đại đi qua lịch sử. Còn riêng nó thì trở về im lặng ở góc từ đường.

Lê Đại Cang xứng đáng được tôn vinh như một danh nhân lịch sử đáng tự hào của mảnh đát địa linh nhân kiệt Bình Định và của đất nước ta..

About these ads

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 4 299 other followers