• Danh mục

  • Các bài viết nổi bật

  • RSS Hội Ngộ Văn Chương

    • THƠ HOÀNG THỊ VINH: X MỘNG Y 13.10.2014
      HOÀNG THỊ VINH Tôi đã là tôi không phải mười, hai mươi năm trước! Những người đàn bà khác tôi – giống tôi hôm nay rủ nhau về thăm tôi?! Trăng muộn ló nửa mặt, dưới ánh đèn hoa kỳ bên gốc dâu da, có ba bài X Mộng Y như sau: MỘNG DU Nhoe […]
    • TADEUSZ ROZEWICZ: MẦU MẮT VÀ NHỮNG CÂU HỎI 26.04.2014
      TADEUSZ ROZEWICZ, NHÀ THƠ LỚN CỦA BA LAN VÀ THẾ GIỚI, ĐÃ QUA ĐỜI NGÀY 24.04.2014, THỌ 93 TUỔI. XIN GIỚI THIỆU CÙNG CÁC BẠN CHÙM THƠ CỦA ÔNG MẦU MẮT VÀ NHỮNG CÂU HỎI Có phải người yêu của tôi có đôi mắt xanh ánh bạc Không. Có phải người yêu của tôi có […]
    • KHÔNG BIẾT NGÀY MAI ANH THÍCH MÂY HAY GIÓ… 25.04.2014
      U ám thích mây lành nắng nôi anh thích gió nấu ăn không hát, hát không nấu ăn anh thích vừa nấu ăn vừa hát thì thầm anh thích em không đảng nếu phải chọn đảng phái không đảng phái anh thích em điên điên thân xác và tâm hồn cuối cùng là đẹp anh […]
    • VIÊN TRẠI TRƯỞNG VÀ NGƯỜI TÙ CẢI TẠO 20.04.2014
      ĐỖ XUÂN TÊ Chuyện tù cải tạo tưởng như mới đây, nay nhìn lại đã hơn ba mươi năm. Mùa hè năm ấy (76), chúng tôi là số sĩ quan cấp tá được ‘tuyển chọn’ đem ra Bắc chuyến đầu tiên. Lênh đênh trên chuyến tàu Sông Hương ăn ngủ tiêu tiểu tại chỗ dưới […]
    • THƯ GIÃN: ẢNH NUDE CỦA HUYỀN THOẠI SẮC ĐẸP MARILYN MORONE 18.04.2014
      SƯU TẦM: Cùng ngắm những hình ảnh nude để đời của huyền thoại sắc đẹp Hollywood, Marilyn Monroe:     Một trong những tấm ảnh nude của Marilyn Monroe sẽ được phát hành Đây là bức ảnh nude cuối cùng Monroe chụp trước khi qua đời năm 1962   Bức ảnh được chụp vào lúc […]
    • ĐÔNG TÂY: TUẦN LỄ SÁCH VÀ VĂN HOÁ ĐỌC 17.04.2014
      CHƯƠNG TRÌNH TẠI TRUNG TÂM VĂN HOÁ NGÔN NGỮ ĐÔNG TÂY: (18/4 – 26/4/2014) Hưởng ứng Quyết định số 284/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ kí ban hành lấy ngày 21/4 hàng năm làm “Ngày Sách Việt Nam”, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây cùng với một số đơn vị, cá nhân sẽ phối […]
    • NGUYỄN HOA VÀ THƠ 14.04.2014
      NGUYỄN TRỌNG TẠO Có ý kiến chê thơ Nguyễn Hoa khô khan, nhưng cũng chỉ là nói với nhau chỗ này hay chỗ khác chứ không thấy ai viết ra điều đó cả, nó chỉ giống những câu chuyện trà dư tửu hậu cảm tính thường nhật. Ngược lại, có khá nhiều bài viết về […]
    • DỊCH GIẢ LÊ BÁ THỰ RA MẮT TIỂU THUYẾT “HY VỌNG” 14.04.2014
      THANH TRÀ Tác giả: Katarzyna Michalak (Ba Lan) Người dịch: Lê Bá Thự Nhà xuất bản Hội Nhà Văn và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây ấn hành, quý II năm 2014      Lila Borowa, cô gái Ba Lan, mồ côi mẹ, bố nhà nông, nghiện rượu; Aleksei Dragonow, người Nga, mồ côi […]
    • LỜI TỰA “TRỊNH THANH SƠN TOÀN TẬP” 27.10.2013
      VŨ DUY THÔNG Bây giờ, xương thịt người ấy đã chìm khuất dưới ba thước đất, hồn vía người ấy đã cô đơn đâu đó cùng bạt ngàn trăng sao nhưng tinh huyết người ấy còn đây, những câu thơ, lời văn gan ruột một đời. Chỉ bằng những gì đã có trong tuyển tập […]
    • TỈNH ĐÔNG NGÀY TÔI VỀ 27.10.2013
      LÊ TUẤN LỘC MƯA TRONG VƯỜN TỰ LỰC VĂN ĐOÀN Mưa như là xưa lắm Vườn Thu càng buồn hơn Ta lặng lẽ trong vườn xưa mưa gõ Buồn tênh, người cũ đã xa rồi Đừng lăn tăn về vườn Thu mưa Mưa như là tiền định Mưa như là số phận Mưa lây rây […]
  • RSS Blog Quê Choa

    • Ai mua sắt vụn, Vinalines bán cho 24.10.2014
      Lê Thanh Phong/ Lao độngẢnh bên:Ụ nổi này nằm ở cảng Gò Dầu từ nhiều năm, gây thiệt hại cho cảng rất nhiều. Ảnh Đất việtĐống sắt vụn đó có tên rất sang trọng là “Ụ nổi” - từng một thời hoàng kim vì Vinalines móc vào thân nó cái mác 9 triệu USD.Gần 200 tỉ đồng để bây giờ không biết bán lại được mấy cắc. Biết bắt đền ai bây giờ?Sau cái ụ nổi này, Vinalines sẽ […]
    • Những con số “bất thường” nói ra… ngượng chết! 24.10.2014
      Bùi Hoàng Tám/ FB Bùi Hoàng TámHình sưu tầm InternetTrong Báo cáo công tác phòng, chống tham nhũng năm 2014 tại phiên họp toàn thể lần thứ 14 của Uỷ ban Tư pháp ngày 15.9, trong số 944.425 trường hợp kê khai tài sản thu nhập năm 2013, chỉ có 5 người thuộc diện kê khai phải xác minh và 1 người bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo do kê khai không trung th […]
    • Làm sao để vùng vẫy trong hồ lớn 24.10.2014
      Phạm Chi Lan/ Tia sángTrong khi AEC đang đến rất gần, nhiều doanh nghiệp từ các nước ASEAN đang rầm rộ đổ bộ vào Việt Nam, thì phần lớn các cơ quan nhà nước lẫn doanh nghiệp Việt Nam đều có vẻ chưa biết lo giữ lấy sân nhà, cũng chưa biết đi tìm cơ hội ở các thị trường bạn.Với bốn trụ cột - thị trường thống nhất, không gian sản xuất chung; khu vực kinh tế cạn […]
    • Sân bay Long Thành- sự vội vã tội lỗi 24.10.2014
      Vương Trí Dũng/ BVNMô hình sân bay Lonbg Thành- Hình sưu tầm InternetXây dựng đất nước và phát triển kinh tế tất phải có tầm nhìn và phải biết quy hoạch. Nhưng ở Việt Nam luôn bị hội chứng tầm nhìn. Mà nhìn thật xa, năm 2030, năm 2050.Bệnh tầm nhìn: Sự hớt ngọn ăn trướcLại nói về quy hoạch tầm nhìn 2030, 2050. Những […]
    • Đâu phải chuyện bên bàn nhậu! 24.10.2014
      Đoàn Khắc Xuyên/TBKTSGPhối cảnh sân bay Long ThànhNhiều người mặc định, bàn nhậu là nơi người ta xả stress, nói chuyện trên trời dưới đất, thuật lại những chuyện hóng hớt, tha hồ “chém gió” mà chẳng phải chịu trách nhiệm gì.Thật ra với người đàng hoàng, nhậu cũng không phải là cái cớ để họ “văng mạng” hết cỡ. Nhưng nói chung, chuyện bên bàn nhậu là chuyện gi […]
    • Mấy lời nhắn gửi thế hệ trẻ 24.10.2014
        Nguyễn Trung/ BVN  BVN: Học giả Nguyễn Trung biết tin BVN sắp cho ra mắt bạn đọc mục “Chấn hưng dân trí” dưới một tên gọi mới chưa kịp định hình, có gửi đến chúng tôi bài viết sau đây, là bản gốc bài ông trả lời báo Sinh viên Việt Nam, do Lê Ngọc Sơn – Phương Loan thực hiện và đã công bố ngày 26-12-08, nhưng “bị biên tập” nhiều chỗ. Soi chiếu với tình hình […]
    • Nếu Quốc hội cũng thù địch với minh bạch? 23.10.2014
      Nhà văn Võ Thị Hảo/ Blog RFA  Phóng viên ngồi bệt chầu …chân ghế QHHình ảnh những phóng viên phải ngồi bệt dưới đất ngửa cổ “chầu” lên chân ghế các vị đại biểu quốc hội(ĐBQH) đang họp đã khiến nhiều người phẫn nộ.ĐBQH ngự trên những chiếc ghế da choáng lộn được sắm bằng tiền dân. Những vầng trán và con mắt  phóng viên  dù có cố vươn lên  thì cũng chỉ cao nga […]
    • Vụ Điếu Cày: Việt Nam dùng tù nhân làm con bài mặc cả với Mỹ? 23.10.2014
      Theo VOA  Điếu Càyđược chào đón khi tới phi trường Los Angeles.Việc Hà Nội phóng thích một cách âm thầm một trong những nhà bất đồng chính kiến nổi bật nhất ở Việt Nam hôm 21/10 rồi trục xuất ngay sang Mỹ đã khiến giới quan sát đặt câu hỏi là phải chăng Việt Nam vẫn tiếp tục xu hướng dùng công dân của mình để làm lá bài mặc cả với phương Tây, nhất là Mỹ.Blog […]
    • Gia đình ông Cù Huy Hà Vũ kêu cứu về việc bị chính quyền lấy đất 23.10.2014
      Theo RFIVăn phòng luật sư Cù Huy Hà Vũ trước đây tại Hà Nội. Ảnh tư liệu.Trong một lá đơn đề ngày 23/10/2014, gởi các lãnh đạo Nhà nước Việt Nam, anh Cù Huy Xuân Đức, con trai của tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ, kêu cứu về việc chính quyền lấy đất của ông Cù Huy Hà Vũ, người thừa kế duy nhất của ông Ngô Xuân Diệu, tức nhà thơ Xuân Diệu.Anh Cù Huy Xuân Đức gởi lá […]
    • Liên Hiệp Quốc muốn « điệu » Bình Nhưỡng ra Tòa hình sự Quốc tế 23.10.2014
      Trọng Thành/ RFIẢnh bên:Ảnh lãnh đạo tối cao Bắc Triều Tiên Kim Jong Un viếng thăm một cơ sở ở Bình Nhưỡng được hãng tin KCNA công bố ngày 22/10/2014Một thẩm phán về nhân quyền của Liên Hiệp Quốc, hôm qua 22/10/2014, khẳng định Hội đồng Bảo an phải có trách nhiệm đưa Bắc Triều Tiên ra Tòa án Hình sự Quốc tế vì « tội ác chiến tranh ».Nói chuyện với các nhà bá […]
  • Khách trực tuyến

    free counters

CẤU TRÚC THƠ, 2


THỤY KHUÊ

IV. Thơ, văn xuôi và văn vần

Khái niệm về Thể (forme, khác với volume) đối với chúng ta thường mơ hồ, tuy rất cần thiết để nhận diện cái Ðẹp. Thể, đây không chỉ là hình thức mà gần gụi với kết cấu, Thể bao gồm cả hình thức lẫn nội dung: Tại sao cái bình này đẹp? Cái kia xấu? Tại sao miếng đá ong xù xì kia lại có gì quyến rũ ta trong khi viên thạch cao nhẵn nhụi, phẳng lì, không gợi cho ta một cảm xúc nào? Tại sao câu thơ này hay? Câu thơ kia dở? Ta nhận diện sự vật đầu tiên bằng trực giác qua Thể. Theo Valéry, “Nếu bạn là nhà thơ, thì bao giờ bạn cũng hy sinh ý tưởng cho Thể, vì Thể là cứu cánh và chính là động tác của sáng tạo.” 

Thể tức khắc cho chúng ta biết có thể cảm hay không cảm: Bức tranh xấu hay đẹp, bài hát hay hay dở. Thể tiềm ẩn trong hình thức hay trong nội dung? Ở bên ngoài hay bên trong sự vật? Các nhà mỹ học và phê bình không dứt khoát trong định nghĩa hoặc nhận định chính xác về Thể, nhưng dường như cùng đồng ý với nhau ở một điểm: Thể hiện ra một cách tổng quát, toàn bộ. Hình ảnh gần gụi nhất của Thể là con người: Con người là một toàn bộ duy nhất, độc đáo, không thể tách rời.Thể trong hội họa là bức tranh hoàn tất. Thể trong điêu khắc là bức tượng thành hình. Thể trong ca nhạc là bài hát hát lên. Thể trong thơ là toàn bộ “hình ảnh, âm và nghĩa ” quyện với nhau, gây nên cảm xúc. Thể là nhân, cảm xúc là quả. Thể truyền cho người đọc cảm xúc, rung động. Và ở đâu có rung động là có thơ: Tình yêu là một bài thơ không chữ, không vần.
Chúng ta cảm thơ như cảm một mùi hương, một bức tranh, một bài hát, mà đôi khi không hiểu tại sao. Nhà phê bình căn cứ vào Thể và dựa theo một số quan niệm về cái đẹp để nhận định, giúp chúng ta hiểu sau khi cảm tác phẩm nghệ thuật. Vậy tìm hiểu thơ đi đôi với tìm hiểu cái đẹp.

*

Ðịnh nghĩa xa xôi nhất về cái đẹp đến từ Socrate: “Cái đẹp là cái bổ ích” (le beau c’est l’utile). Gần đây hơn, Jakobson định nghĩa: “Thơ là ngôn ngữ trong chức năng thẩm mỹ của nó”. Xuân Thu Nhã Tập nhận diện tính chất của thơ: “Nó hòa hợp ta trong cái Ðẹp và ấp ta trong Sự Thật.”

Thơ, cũng như mỹ quan hay cái đẹp, mang hai tính chất chung của nghệ thuật: “đồng đại ” (synchronique) vì mỗi thời có một số quy luật về cái đẹp, mỗi thời có một lối suy nghĩ, hành trang tư tưởng … và lịch đại (diachronique) vì quan niệm đẹp, quan niệm sống, hành trình tư tưởng … biến đổi và tiến triển theo thời gian.

Cho nên, thơ, văn hay bất cứ công trình nghệ thuật nào muốn đi vào vĩnh cửu, trước hết phải đáp ứng tiêu chuẩn mỹ quan và hành trang tư tưởng của một thời và sau đó còn phải chịu đựng sự thử thách, dãi dầu qua nhiều thế hệ.
Ngược lại, nhà phê bình muốn nhận định đúng mức một tác phẩm cổ điển, không thể chỉ căn cứ vào những mẫu mực về cái đẹp, về chiều hướng tư tưởng của “hôm nay” để đánh giá những công trình nghệ thuật dựa trên những tiêu chuẩn về cái đẹp, về lối suy nghĩ, về thao tác văn chương của “hôm qua”, mà còn phải trầm mình trong quá khứ, sống với người xưa, cảm thông với nhãn quan và thấu triệt môi trường cổ điển về cái đẹp.

*

Trở lại địa hạt thơ-văn, hai câu hỏi được đặt ra: Tại sao văn chương truyền khẩu lại vận chuyển từ thế hệ này sang thế hệ khác qua thơ mà không qua văn, và vì sao thơ lại có tác động trong trí nhớ con người như thế?
Yếu tố đầu tiên tác động vào trí nhớ là Vần: Vần có tác dụng tạo nhạc điệu cho câu nói, câu văn, do đó không chỉ là sở hữu và sở đắc của thơ hay ca dao. Vần là thành tố của nhịp điệu: nhịp câu nói có khi cần vần “ăn vóc học hay” , có khi không “uống nước, nhớ nguồn”.
Từ chức năng đó, vần có tác dụng giúp trí nhớ, chủ yếu trong tục ngữ, ca dao; đôi khi người ta còn dùng như một phương tiện giáo khoa: học chữ Hán (Tam tự kinh) hay lịch sử (Ðại Nam quốc sử diễn ca) bằng văn vần. Thậm chí còn học chữ Pháp, học toán bằng văn vần. Thời mà sách in còn khan hiếm, thì các truyện Nôm, mục đích để truyền khẩu, được sáng tác bằng văn vần, từ thể Ðường luật như Truyện Vương Tường (thế kỷ XV-XVI) đến thể lục bát như Tống Trân Cúc Hoa, Trê cóc (thế kỷ XVIII-XIX). Các truyện Hoa Tiên, Nhị Ðộ Mai, Phan Trần, Kiều, Bích Câu Kỳ Ngộ, Lục Vân Tiên … nằm trong truyền thống đó.

Nhưng người xưa đã phân biệt thơ (thi) với văn vần (vận văn) và diễn ca. Chúng ta có nhiều thi tập từ thời Nguyễn Trãi như Quốc Âm thi tập, Ức Trai di tập. Không thể nhầm lẫn với những tập diễn ca như Ðại Nam quốc sử diễn ca ... Sau này, thơ tuyên truyền, thơ quảng cáo thuốc cao đơn hoàn tán … cũng dựa trên chức năng ứng dụng của vần để ghi vào trí nhớ.

Tuy nhiên, vần chỉ là điều kiện cần mà chưa đủ. Trần Lê Văn kể lại giai thoại Quang Dũng “xuất thần” tặng chủ quán miến lươn hiếu khách, thích thơ:

Ðói lòng, làm bát miến lươn
Răm, hành cũng gợi quê hương ít nhiều
Miến lươn là của dễ tiêu
Xem trong sách thuốc có điều bổ âm

Ðấy là thơ “vì miến” của Quang Dũng, cao hơn nữa có thơ“vì nước”:

Chẳng thà chịu cảnh hiếm hoi
Còn hơn sinh phải cái nòi Việt gian
Chẳng thà chịu cảnh cô đơn
Còn hơn lấy đứa Việt gian vô loài

(T.H.)

Cả hai bài vần bất tận, ý cũng “cao siêu”, nhưng khó có hy vọng được “để đời”. Mục đích vụ lợi “vì miến”, “vì nước” quá lộ liễu, trái với bản chất vô vụ lợi của nghệ thuật và thi ca.

Vần chỉ có tác dụng trong trí nhớ con người nếu vần quyện với lời hay, ý đẹp. Có bốn trường hợp xẩy ra:

I.Những câu vớ vẩn, nhớ làm gì? Thà nhớ một kinh nghiệm thường thức “được mùa lúa, úa mùa cau; được mùa cau, đau mùa lúa” hay bài học chữ Hán, hoặc công thức toán chớ sao lại nhớ những câu đại khái như:

Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em đã có chồng anh tiếc lắm thay.

không những vớ vẩn mà còn vô lý. Anh tiếc lắm thay thì ăn nhập gì đến hoa bưởi, hoa cà? Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền đã có lần hỏi như thế trong một bài báo. Ăn nhập lắm chứ.
– Trước hết, có thể câu ca dao trên đã ngẫu hứng từ Kinh Thi:

Ðào yêu dịch:
Ðào chi yêu yêu Ðào tơ xinh tươi
Chước chước kỳ hoa nhiều hoa
Chi tử vu quy Nàng đi lấy chồng
Nghi kỳ thất gia Chắc êm ấm gia đình

Còn tại sao người ta nhớ những câu ca dao “vớ vẩn” ấy?

- Người dân tầm thường nhớ câu hát vì lời nói đẹp, diễn tả tâm trạng nhớ nhung, tiếc nuối. Trèo lên, bước xuống … những cử chỉ bâng quơ của kẻ lạc mất người yêu: không có em, vũ trụ trở thành trống trải, phi lý và mọi cử chỉ của anh đều trở thành vô nghĩa; chút hương hoa bưởi âm thầm như nỗi nhớ, khuya khoắt như trăn trở ăn năn, màu hoa cà tím nhạt bâng khuâng đi tìm mùa xuân qua nụ tầm xuân … Cả không gian thiết tha dồn lại ở vần xanh biếc, tiếc lắm thay như lấp một khoảng trống; câu trước không vần, nhịp điệu được thay thế bằng hình ảnh, luyến láy nụ tầm xuân … nụ tầm xuân trả lại lời gọi vô vọng vì không còn đối tượng. Vần tiếc làm trung tâm của đoạn ca dao: tất cả hình ảnh, âm thanh đồng quy về hồng tâm tiếc nuối, trái tim gọi về mọi huyết cầu. Giữ vần lại mà thay nghĩa đi: Ví dụ em đã có chồng nhiều việc lắm thay thì toàn bộ bài ca dao sẽ trở nên vô nghĩa, vô duyên.

II. Ngược lại, người ta cũng có thể nhớ một câu thơ mà không cần biết ý nghĩa. Ví dụ trong truyện Lục Vân Tiên:

Thôi thôi em hỡi Kim Liên
Ðẩy xe cho chị qua miền Hà Khê

Câu này nhiều người nhớ vì dư vang của từ ngữ, chứ Kim Liên là ai, Hà Khê ở đâu, không cần biết, mà có biết cũng chẳng lợi ích gì.

III. Trái lại, cũng có thể nhớ một câu thơ vì ý nghĩa:

Trai thời trung hiếu làm đầu
Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình

là một câu xoàng, nhưng tóm lược được nội dung tâm lý của tác phẩm và tư tưởng Nguyễn đình Chiểu, chỉ cần nhớ một câu ấy thôi là đủ.
Mấy câu mở đầu truyện Kiều cũng vậy, kiến trúc ngôn ngữ tầm thường:

Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

Phan Ngọc, trong cuốn “Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều” (NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1985) đã chứng minh bốn câu thơ tầm thường trên đây phản ảnh thuyết “tài mệnh tương đố” -chủ đề truyện Kiều- là một lý thuyết độc đáo mà Nguyễn Du tìm ra, phát xuất ở chính sự chiêm nghiệm cuộc đời trong thời Lê mạt – Nguyễn sơ, chứ không phải một sáo ngữ tầm thường như ta vẫn tưởng.
N hưng giáo sư Hoàng Xuân Hãn, trong một buổi phỏng vấn truyền thanh trên đài RFI (Pháp) vào tháng 11/1995 về công trình nghiên cứu để tái lập văn bản truyện Kiều (gần) như Nguyễn Du đã viết, chứng minh rằng Kiều được sáng tác vào thời Tây Sơn, và thực ra, Nguyễn Du viết:

Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy đã đau đớn lòng

chứ không phải mà đau đớn lòng. Chữ đã chỉ tâm trạng đớn đau của Nguyễn Du, khi thấy dòng họ Nguyễn Tiên Ðiền, nổi tiếng về văn học, phần lớn làm quan đầu triều, thời Lê Trịnh, đã bị dập vùi, chao đảo trong cảnh Tây Sơn diệt Trịnh, đàn áp nhà Lê.

Tóm lại thiên tài của Nguyễn Du là qua tâm sự của chính mình, qua những bất hạnh, nổi trôi của gia đình mình, mà vẽ nên bức họa thời đại, và qua bức họa thời đại, biểu trưng chân lý muôn thuở “tài mệnh tương đố”. Vì lý do ấy mà những câu Kiều trên đây trở thành bất tử.

IV. Sau cùng, khi vần liên kết chặt chẽ với ý và lời: nghệ thuật âm thanh và hình ảnh cùng giao hưởng với ý nghĩa ở cao độ, sáng tác trở thành tuyệt tác; âm đã tan loãng, phai nhòa trong ý:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
Tựa gối, buông cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
(Thu Ðiếu)

Chẳng phải tình cờ mà Nguyễn Khuyến gieo vần eo vàoThu điếu. Những từ ghép mang vần eo, một số lớn đã ấp ủ những “nét thu” ở trong. Nét thu đây có thể là nỗi buồn tê tái “buồn gieo theo gió veo hồ” (Huy Cận) hay cái héo hắt trong thu như: heo may, quắt queo… hay chỉ là phong cách, dáng dấp, tâm tư lo âu, khắc khoải của người đàn bà:

Gà eo óc phòng loan uốn éo (Gia huấn ca)
Eo xèo mặt nước buổi đò đông(Tú Xương)

Trong veo là trong vô cùng, có thể nhìn thông suốt tới đáy.Teo là co rút lại. Nét thu trong Thu điếu không dừng ở mức độ “ao thu lạnh lắm” mà còn được sự láy âm trong “lạnh lẽo”, “tẻo teo” phù trợ với âm veo và vèo, khiến cái lạnh đã biến dạng, chuyển từ thể tĩnh qua thể động: thấm qua, thông suốt đến tận đáy lòng (qua trong veo), co dãn, quắt queo trong dạ (qua âm teo); rồi theo ngọn gió xuyên vút, táp vào hồn (qua âm vèo).

Vần eo trong Thu Ðiếu, như ta vừa thấy, ngoài chức năng thẩm mỹ còn có chức năng ngữ nghĩa, eo diễn tả ý niệm nhỏ lại, đóng lại, khép lại: eo hẹp, eo biển, quắt queo, hắt heo:

Ðứng tréo trông theo cảnh hắt heo
Ðường đi thiên thẹo, quán cheo leo
Lợp lều, mái cỏ tranh xơ xác
Xỏ kẽ, kèo tre đốt khẳng kheo
Ba trạc cây xanh hình uốn éo
Một dòng nước biếc cỏ leo teo.
(Hồ Xuân Hương)

Ngược lại, âm eo trong Thu Ðiếu có tương quan đối lập ngữ nghĩa với âm oe trong Thu Ẩm dưới cùng ngòi bút Nguyễn Khuyến:

Năm gian nhà cỏ thấp le te
Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt?
Mắt lão không vầy2 cũng đỏ hoe
Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy
Ðộ dăm ba chén đã say nhè
(Thu Ẩm)

Trong Thu điếu, âm eo còn đi đôi với thái độ khép, đóng lại, rầu rĩ của anh chàng “tựa gối ôm cần” mà chẳng câu được gì cả.
Âm oe, trong Thu Ẩm, ngược lại, diễn tả ý niệm mở ra, từ chỗ hẹp ra chỗ rộng: toe (nở ra), toe toét, toé (toé khói), toẻ (đầu nhọn toẻ ra), loe (quần ống loe), toè loe, loè (khuyếch đại các điều tốt), loé ra, loè loẹt v.v….
Xanh om cổ thụ tròn xoe tán (Hồ Xuân Hương)
Văng vẳng tai nghe tiếng chích choè (Nguyễn Khuyến)

Trong Thu ẩm, các âm oe: đóm lập loè, bóng trăng loe, đỏ hoe gieo ấn tượng mở ra, bung ra, đi đôi với thái độ loạng choạng, khật khùng, buông thả, mặc kệ đời, của anh chàng say bét:

Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy
Ðộ dăm ba chén đã say nhè

Do đó, vần, ngoài chức năng thẩm mỹ, chức năng tiết điệu, còn có chức năng ngữ nghĩa trong thơ.

*

Những nhận xét trên đây giúp ta khai triển sự khác biệt sâu xa giữa văn vần và thơ: chỉ khi nào vần đáp ứng được ít nhất một trong hai chức năng thẩm mỹ hoặc ngữ nghĩa, mới có thơ. Khi cả ba chức năng tiết điệu, thẩm mỹ và ngữ nghĩa đều hội tụ, chúng ta hạnh ngộ với những dòng tuyệt bút:

Long lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng
(Kiều)

Bốn dây như khóc như than
Khiến người ngồi đó cũng tan nát lòng
(Kiều)

Tóm lại, khi vần kết hợp với lời và ý, tạo bối cảnh cho âm thanh và hình ảnh giao thoa, thơ đạt tới tuyệt đỉnh mà Valéry gọi là tiếng nói phi thường (parole extraordinaire): “Tiếng nói phi thường ấy được nhận diện bởi tiết tấu và hòa âm liên kết một cách mật thiết và huyền diệu với ngôn ngữ đến độ âm và ý không thể tách rời nhau ra được và giao hưởng mãi trong trí nhớ.” (Variété)

*

Tới đây, xuất hiện vai trò của trí nhớ, và cũng là lý do thứ nhì khiến thơ đứng vững với thời gian: Trí nhớ là cơ quan đãi lọc cái đẹp một cách thuần khiết nhất của ngôn ngữ và hình ảnh.(3)

Tính chất đãi lọc này vừa hình thành vừa nẩy sinh ra yếu tố:
Thơ là thể cô đọng nhất của văn chương.

Thật vậy, một thông điệp truyền đi, muốn được ghi nhận tức khắc, phải quy tụ những điều kiện: ngắn gọn và súc tích. Ví dụ khi đánh điện tín, bạn viết: “Mẹ mất, anh về ngay” chứ không viết: “Mẹ bị bệnh ung thư, mất ngày hôm qua, mồng ba tháng 9 năm 1991 tại Sàigòn, đau đớn lắm. Anh có thể thu xếp công việc về ngay được không? Nếu tiện mua cho em và các con …”. Vì những lý do: viết dài dòng bưu phí cao và hai thông điệp chính “mẹ mất” và “anh về ngay” bị loãng đi, không còn sức lôi cuốn, bức bách người chồng lập tức trở về.
Tóm lại thông điệp càng ngắn, gọn, súc tích bao nhiêu, càng dễ nhớ, càng đánh mạnh vào tâm lý người nghe hoặc người đọc chừng nấy.
Tác dụng của thơ trong trí nhớ, cũng có điểm tương tự như tác dụng của một lời tri hô “cứu tôi với!” hay thông điệp “mẹ mất” v.v… trong ngôn ngữ thông dụng hàng ngày. Tuy nhiên nội dung những lời tri hô hay bức điện tín, vì không có tính cách nghệ thuật, nên chỉ ngự trị trong trí nhớ một thời gian rồi tắt.
Thơ là cái gì xa xôi nhất đối với một công thức toán học, nhưng người ta cũng nhớ thơ như nhớ một công thức toán, nghĩa là nhớ toàn thể, không thêm, không bớt, không thay đổi ngôi vị bất cứ chỗ nào. Ý niệm về Thể trong thơ cũng như trong toàn diện các hình thức cấu tạo nghệ thuật phát sinh ở sự cô đọng và toàn bích đó. Chức năng của thơ trong văn chương cũng giống như chức năng của định đề, biểu thức trong toán học: Thơ là Thể cô đọng nhất của văn chương. Theo Jakobson: thi ca là một phát ngôn nhắm vào thể cách phát biểu (un énoncé visant l’expression). Do đó, chúng ta có thể coi thơ như một sự kết tinh trong cách biểu đạt tư tưởng bằng ngôn từ.

Nói cách khác, văn là cách diễn đạt tư tưởng bình thường (đôi khi dài dòng), thơ là sự gạn lọc, đúc kết, là phần cô đọng nhất trong cách diễn đạt tư tưởng và truyền cảm bằng ngôn ngữ. Do đó, chúng ta có thể chọn cho thơ một hình ảnh rất “nên thơ”: thi ca cũng giống như người đàn bà, người ta ao ước mang đi, trọn vẹn, khuất lấp, nơi xa khơi nào đó:

Tout est bon chez elle, y a rien à jeter
Sur l’île déserte, il faut tout emporter
(Brassens)
(Của nàng ngon, không chỗ nào vứt bỏ
Trên đảo hoang, tất cả ta mang theo)

*

Khi viết “nhà thơ coi chữ như đồ vật chứ không coi như những dấu hiệu” (le poète considère les mots comme des choses et non comme des signes), Sartre đã đối lập hai lãnh vực thơ văn: chữ trong văn xuôi là những dấu hiệu để chỉ định, diễn tả. Chữ trong thơ là “đồ vật” (chose) tức là một Thể hoàn tất. Chức năng ngữ học của văn xuôi là định danh và biểu đạt, và chức năng ngữ học của thơ là khơi gợi trí tưởng tượng.

Về phong cách, nhà văn dùng ngôn ngữ để giải thích, kể lể …. Nhà thơ để ngôn ngữ tiếp xúc trực tiếp với chúng ta, giống như họa sĩ để bức tranh mặc sức “nói chuyện” với người xem, nhạc công buông âm giai tự do “đi vào” thính giả; cũng như miếng đá ong xù xì trên kia quyến rũ ta, có thể vì nó gợi lại trong ta một dĩ vãng xa xôi nào đó, đẵm trong tiếng võng cót két của chị Thắm ru con bên giếng nước nhà đồi2 dựng trên “đất đá ong khô nhiều ngấn lệ“(4) …

Cho nên, cuối cùng thơ hiện ra dưới một Thể hoàn bị, khác biệt với văn và rất gần với những ngành nghệ thuật tạo âm và tạo hình khác như âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kịch nghệ v.v…

Về mặt cấu trúc, văn lấy ý nghĩa làm biểu tượng, thơ gợi trí tưởng tượng bằng hình ảnh, và nói rằng thi nhân tạo linh hồn cho vạn vật còn có nghĩa là trên phương diện ngữ học và trong kỹ thuật thi ca, nhà thơ đã làm một phép tu từ để tạo hình: đó là ẩn dụ (métaphore), và ẩn dụ là cấu trúc cơ bản trong ngôn ngữ thơ.

Em tự ngàn xưa chuyển bước về
Thuyền trao sóng mắt dẫn trăng đi
Những dòng chữ lạ buồn không nói
Nét lửa bay dài giấc ngủ mê.
(Ðinh Hùng)

Paris 8/1991

Chú thích:

(1) Vầy: tiếng cổ ngữ là vầy vò, giụi, sờ, mó.
(2) Nhà đồi: truyện ngắn của Quang Dũng.
(3) Vai trò của trí nhớ có tính cách cực đoan. Nếu trí nhớ đãi lọc cái đẹp để giữ lại cho đời, thì nó cũng có thể lưu lại những cực điểm của cái xấu để “làm gương” cho hậu thế. Người ta nhớ đức độ của Nghiêu Thuấn, nhưng cũng không quên sự tàn ác của Tần Thủy Hoàng. Trong thơ, không có tốt xấu, chỉ có hay hoặc dở; người ta nhớ những câu như:

Con cóc trong hang
Con cóc nhẩy ra
Con cóc nhẩy ra
Con cóc ngồi đó
Con cóc ngồi đó
Con cóc nhẩy đi

không phải vì nó hay mà vì nó tiêu biểu cho cái dở tột độ trong thơ, với ba yếu tố đồng quy: cạn ý, nghèo chữ, vắng hình ảnh, sản phẩm của ba người học trò dốt đồng “sáng tác” và cộng tác.
(4) Thơ Quang Dũng.

© 1991-1995 Thụy Khuê

About these ads

3 phản hồi

  1. Tôii thật sự không hiểu được kết luận sau đây của tác giả chuyên luận này: ” Tại sao văn chương truyền khẩu lại vận chuyển từ thế hệ này sang thế hệ khác qua thơ mà không qua văn”
    Vậy thì chuyện cổ tích, chuyện thần thoại vận chuyển từ thế hệ này qua thế hệ khác bằng gì?

  2. Em rất muốn lưu những bài viết về Cấu trúc thơ của bà Thụy Khuê mà mày mò không lưu được, xin nhờ bác Tạo hoặc bạn nào chỉ giùm cách lưu hoặc tải về máy để làm tài liệu học cho mình và bạn bè nữa. Cảm ơn bác và các bạn.

    ________
    @ bạn Thai Nguyen Dinh.
    Bạn mở bài ra và bôi toàn bài rồi cóp bị gián vào word (trang soạn thảo văn bản) để lưu vào máy tính.

    PHỤ TÁ

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 4 298 other followers