• Chuyên mục

  • Các bài viết nổi bật

  • RSS Hội Ngộ Văn Chương

    • THƯ GIÃN: ẢNH NUDE CỦA HUYỀN THOẠI SẮC ĐẸP MARILYN MORONE 18.04.2014
      SƯU TẦM: Cùng ngắm những hình ảnh nude để đời của huyền thoại sắc đẹp Hollywood, Marilyn Monroe:     Một trong những tấm ảnh nude của Marilyn Monroe sẽ được phát hành Đây là bức ảnh nude cuối cùng Monroe chụp trước khi qua đời năm 1962   Bức ảnh được chụp vào lúc […]
    • ĐÔNG TÂY: TUẦN LỄ SÁCH VÀ VĂN HOÁ ĐỌC 17.04.2014
      CHƯƠNG TRÌNH TẠI TRUNG TÂM VĂN HOÁ NGÔN NGỮ ĐÔNG TÂY: (18/4 – 26/4/2014) Hưởng ứng Quyết định số 284/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ kí ban hành lấy ngày 21/4 hàng năm làm “Ngày Sách Việt Nam”, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây cùng với một số đơn vị, cá nhân sẽ phối […]
    • NGUYỄN HOA VÀ THƠ 14.04.2014
      NGUYỄN TRỌNG TẠO Có ý kiến chê thơ Nguyễn Hoa khô khan, nhưng cũng chỉ là nói với nhau chỗ này hay chỗ khác chứ không thấy ai viết ra điều đó cả, nó chỉ giống những câu chuyện trà dư tửu hậu cảm tính thường nhật. Ngược lại, có khá nhiều bài viết về […]
    • DỊCH GIẢ LÊ BÁ THỰ RA MẮT TIỂU THUYẾT “HY VỌNG” 14.04.2014
      THANH TRÀ Tác giả: Katarzyna Michalak (Ba Lan) Người dịch: Lê Bá Thự Nhà xuất bản Hội Nhà Văn và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây ấn hành, quý II năm 2014      Lila Borowa, cô gái Ba Lan, mồ côi mẹ, bố nhà nông, nghiện rượu; Aleksei Dragonow, người Nga, mồ côi […]
    • LỜI TỰA “TRỊNH THANH SƠN TOÀN TẬP” 27.10.2013
      VŨ DUY THÔNG Bây giờ, xương thịt người ấy đã chìm khuất dưới ba thước đất, hồn vía người ấy đã cô đơn đâu đó cùng bạt ngàn trăng sao nhưng tinh huyết người ấy còn đây, những câu thơ, lời văn gan ruột một đời. Chỉ bằng những gì đã có trong tuyển tập […]
    • TỈNH ĐÔNG NGÀY TÔI VỀ 27.10.2013
      LÊ TUẤN LỘC MƯA TRONG VƯỜN TỰ LỰC VĂN ĐOÀN Mưa như là xưa lắm Vườn Thu càng buồn hơn Ta lặng lẽ trong vườn xưa mưa gõ Buồn tênh, người cũ đã xa rồi Đừng lăn tăn về vườn Thu mưa Mưa như là tiền định Mưa như là số phận Mưa lây rây […]
    • THƠ TRÁC MỘC: TÍM ĐỒNG HOANG GIÓ 27.10.2013
      NGUYỄN TRỌNG TẠO: Trác Mộc tên thật là Võ Thị Như Hải, sinh năm 1980 tại Đà Nẵng, nguyên quán Thừa Thiên Huế. Bút danh Trác Mộc xuất phát từ mệnh “Thạch Lựu Mộc” (cây lựu mọc trên đá) của tuổi Canh Thân kết hợp với chữ Trác là sự kiên nhẫn vượt lên để […]
    • DỌC MIỀN TRUNG (2) 26.10.2013
      ĐÀO THẮNG II. Kéo pháo lên đồi Trúc Lâm Chúng tôi đứng chân tại Hải Lĩnh, Tĩnh Gia để chuẩn bị chiếm lĩnh trận địa trên đồi Trúc Lâm. Các khẩu đội phải làm công sự tương đối chắc chắn, sẵn sàng chiến đấu. Đại đội phó Dương giao cho tổ trinh sát tấm bản đồ […]
    • DỌC MIỀN TRUNG (1) 26.10.2013
      ĐÀO THẮNG Phần I – Về xứ Thanh  I. Chào Hà Nội vào Thanh Tôi vốn là một chú lính bộ binh thuộc sư đoàn 330, một binh đoàn chủ lực miền Nam tập kết làm nhiệm vụ huấn luyện quân bổ sung vào chiến trường B. Trung đoàn tôi, đoàn Sông Đào (E46) có ba […]
    • CA BÌNH MINH – MỘT VŨ TRỤ YÊU THƯƠNG 24.10.2013
      (Thơ Lý Phương Liên, NXB Văn học – 2011) HOÀNG XUÂN HOẠ Ca ba, một ca làm việc ở các nhà máy từ 10h tối hôm trước cho đến 6h sáng hôm sau, người thợ phải thức trắng đêm với công việc do mình phụ trách. Làm ca ba là một ca vừa mệt vừa […]
  • RSS Blog Quê Choa

    • Ôi Tân Cương! 20.04.2014
      Lương Kháu Lão Tôi từng mơ có một lần đặt chân đến Tân Cương, nơi có những thành quách đền đài hoành tráng, nơi có những thảo nguyên bao la, những cánh đồng cỏ rộng tít tắp phía chân trời, nơi những người dân du mục chăn thả những đàn cừu đàn ngựa và cất cao tiếng hát ngợi ca quê hương tươi đẹp, nơi có những cô giái Duy Ngô Nhĩ có dáng người châu Á nhưng lại […]
    • Vụ án “bầu” Kiên có phức tạp không? 19.04.2014
      Nguyễn Quang ATheo BVN  Sau nhiều lần định hoãn, sáng 16-4-2014 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã bắt đầu xử vụ án “điểm” được cho là rất phức tạp và gây ra những hậu quả nghiêm trọng liên quan đến nhiều cựu lãnh đạo ngân hàng ACB. Đến chiều Tòa tuyên bố hoãn xử.Hai cán bộ của công ty Đầu tư ACB Hà Nội và ông Kiên bị truy tố về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài […]
    • 'VN quá vội vàng khi trao trả nghi phạm' 19.04.2014
      Theo BBC Nhà chức trách VN bàn giao nhóm người cho phía TQViệt Nam 'quá vội vàng' khi trao trả Trung Quốc các nghi can, nghi phạm trong vụ nhóm người từ Trung Quốc cướp súng và bắn chết, làm bị thương các sỹ quan biên phòng VN ở cửa khẩu Bắc Phong Sinh, tỉnh Quảng Ninh hôm thứ Sáu, theo ý kiến nhà quan sát từ trong nước.Việc nhà chức trách Việt Nam […]
    • Tự do học thuật ở Việt Nam như Campuchia? 19.04.2014
      Nguyễn Văn Tuấn Theo FB Nguyễn Văn Tuấn Báo Nhân Dân mới đi một bài (1) phê bình Nhã Thuyên Đỗ Thị Thoan và Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên. Bài báo này có lí giải khá hơn bài trước. Nhưng tôi thấy lấn cấn đôi ba điều trong bài này vì tác giả hình như có sự ngộ nhận về phương pháp nghiên cứu.Tác giả bài báo đi thẳng vào vấn đề và cho rằng Đỗ Thị Thoan đã sai l […]
    • Chính phủ và Facebook 19.04.2014
      Mạnh Quân Theo FB Mạnh Quân Sau sự việc Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đi thị sát tình hình, sau khi đọc Facebook của một bác sĩ nói về dịch sởi bắt đầu tràn lan, ông mới biết sự nghiêm trọng của tình hình và Chính phủ bắt đầu có những lệnh chỉ đạo quyết liệt để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh rất nguy hiểm này, thì người ta mới thấy rằng, FB không chỉ là nơi c […]
    • Rút đăng cai ASIAD 18 – Chỉ đơn giản thế thôi sao? 19.04.2014
      Phan Minh NgọcTheo TBKTSG Ảnh bên:Ông Hoàng Vĩnh Giang (thứ hai từ phải sang) là người chấp bút đề án xin đăng cai ASIAD 18Thủ tướng đã quyết định Việt Nam rút đăng cai ASIAD 18 và sẽ xin đăng cai tổ chức sự kiện thể thao lớn nhất châu lục này vào một thời điểm khác. Dư luận thở phào vì Việt Nam đã không phải đối mặt với những khoản kinh phí khổng lồ tổ chức […]
    • Trẻ chết vì sởi, bình thường hay bất bình thường? 19.04.2014
       Lưu Trọng VănTheo Một thế giới Những đứa trẻ bị bệnh sởi chỉ biết khóc cho đến lúc lịm đi rồi chết, không biết kêu cứu, không biết trách móc oán hờn ai vì đa số chúng còn ở tuổi sơ sinh. Nhưng hãy nghe tiếng khóc khẩn thiết của các bà mẹ: “Bộ Y tế ơi! Bác sĩ ơi! Xin hãy cứu con tôi!”. Ông Nguyễn Thanh Long, Thứ trưởng Bộ Y tế tuyên bố: “Bệnh sởi hiện nay ch […]
    • Nhà báo Phạm Chí Dũng sẽ được xuất cảnh đi Mỹ ? 19.04.2014
      Thụy MyTheo RFI Trong khuôn khổ các hoạt động nhân Ngày Tự do Báo chí Thế giới 3 tháng Năm, một số nhà báo và blogger từ Việt Nam được mời sang tham dự buổi điều trần tại Quốc hội Hoa Kỳ ngày 29/04/2014 và một cuộc hội thảo vào ngày 01/05 tại Washington DC, nhằm vận động cho tự do báo chí trong nước.Các khách mời này sẽ tham gia một loạt các sinh hoạt như th […]
    • Nợ ai - Ai trả - Bao giờ mới xong? 19.04.2014
      Nguyệt QuỳnhTrong một bài viết rất cảm động về cuộc cách mạng lật đổ chế độ độc tài tại Ukraine, anh Nguyễn Việt Trung viết: “Đã qua rồi cái thời kỳ người ta làm cách mạng vì miếng cơm, manh áo. Có lẽ bây giờ là thời kỳ của  những cuộc cách mạng vì phẩm giá con người”.  Hàng triệu người dân Ukraine dũng cảm đã góp mặt trong cuộc cách mạng đó. Góp mặt cùng vớ […]
    • Lý Xuân Hải và Tai Nạn Nghề Nghiệp tại Việt Nam 19.04.2014
      Alan PhanTheo blog Alan Ông Lý Xuân Hải ngày làm tổng giám đốc ACBHình ảnh tiều tụy và một bài báo nhiều thiên kiến từ Vietnamnet khiến tôi suy nghĩ thêm về “bị can” Lý Xuân Hải.Có vài điều cần nói rõ. Trước hết, tôi không phải là bạn thân của anh Hải, chỉ gặp anh vài lần cùng là diễn giả trong vài hội thảo và ăn tối với anh 2, 3 lần gì đó chung với những ng […]
  • Khách trực tuyến

    free counters

NHO TƯỚNG LÊ ĐẠI CANG VÀ BÍ TRUYỀN QUA MỘT CUỐN GIA PHẢ


NGUYỄN ANH TUẤN

Sau khi đọc xong cuốn sách “Lê Đại Cang và Lê thị gia phả“(1), trong trí óc tôi chợt hiển hiện một vị nho tướng “lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa” (Huy Cận)- một hình ảnh lãng mạn đầy sức cuốn hút của thời mới bước chân vào học đường văn khoa…Cái cảm xúc ban đầu ấy của tuổi trẻ hòa nhập vào cái âm hưởng bi tráng do văn chương cổ – trung – cận đại Việt Nam đem lại cho tôi suốt mấy chục năm ròng sau đó. Cái bi tráng của những sự nghiệp cháy bỏng khát vọng “đền nợ nước trả thù nhà”, cái bi tráng của những số phận oan trái giữa cơn lốc lịch sử- trong khi vượt qua tấn “bi kịch nhân cách của nhà nho và bi kịch của hệ tư tưởng quan lại” (viện sĩ Alêchxêep2 ) đã tự bộc lộ phẩm chất kẻ sĩ gửi cho đời sau những bài học làm người sâu sắc và thấm thía…

Danh nhân Lê Đại Cang mà tôi mới được biết đến từ sau khi được tới thăm nhà thờ họ Lê làng Luật Chánh, huyện Tuy Phước, Bình Định vào giữa năm 2012 (nhân dự hội thảo khoa học về nhà viết tuồng kiệt xuất Quỳnh phủ Nguyễn Diêu) đã giúp tôi góp phần hoàn chỉnh “bức chân dung” về các nho tướng mà tôi hằng yêu kính, ngưỡng vọng- tiếp nối vào cái danh sách đáng tự hào đối với mỗi con dân nước Việt: Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Cao, Phan Đình Phùng, Lê Văn Duyệt, v.v.

Bình Định vốn là nơi phát tích và lập thân của nhiều anh hùng, nhiều thi nhân nổi tiếng, một miền quê tự bao đời nay được mệnh danh là “Đất võ Trời văn”. Bình Định hào hoa và dầu dãi nắng mưa, nơi nghìn năm tụ tán bi hoan, chốn hợp lưu của ngai vàng và bùn đất, vua quan và thảo dân, kinh kỳ và thôn dã, thần tiên và phàm trần…- như cách diễn đạt của một nhà thơ- nhà nghiên cứu người Bình Định(3) về vùng đất địa linh nhân kiệt này. Danh sĩ Phan Huy Ích thời Tây Sơn có câu thơ :”Quy Nhơn thang mộc địa/ Khu Hoãn ỷ khôi thạc”- dịch nghĩa: Phủ Quy Nhơn là đất tắm gội của vua/ Vùng trọng yếu phải dựa vào bậc anh tài nắm giữ. Đây cũng chính là quê hương của cụ Lê Đại Cang- một trong những đại diện sáng giá vào bậc nhất của hàng ngũ danh sĩ – danh tướng Bình Định mà cho đến nay, thân thế đặc biệt cùng sự nghiệp lẫy lừng của cụ trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc ta thời cận đại mới dần được phát lộ, được sáng tỏ- qua các công trình nghiên cứu lẻ tẻ suốt mấy chục năm qua, cho đến Hội thảo khoa học lớn về Lê Đại Cang sẽ diễn ra tại thành phố Quy Nhơn- Bình Định vào đầu năm 2013 tới. Khởi nguồn có thể nói là từ cuốn “Lê thị gia phả” vốn được lưu giữ tại từ đường họ Lê làng Luật Chánh, sau năm 1975 được gia tộc hiến cho Bảo tàng Quang Trung. Trong số những trước tác của cụ Lê Đại Cang, đây là tác phẩm duy nhất mà hậu thế còn giữ được- đó không phải chỉ là một tập gia phả ghi chép về dòng tộc, mà còn là một tập văn có giá trị lớn về nhiều mặt, từng được các học giả xưa nay đánh giá cao. Từ mấy chục năm về trước, tập gia phả này đã được nhà nghiên cứu văn hóa người Bình Định Vũ Ngọc Liễn dịch ra tiếng Việt.

Gia phả, với tư cách là một bộ phận không thể thiếu của chuyên ngành lịch sử, thuộc bộ Sử của văn hóa phương Đông (trong bốn bộ Kinh, Sử, Tử, Tập), đã bổ sung không ít cho chính sử của các triều đại. Và cuốn Gia phả này, với những áng văn tài hoa sâu sắc, có thể coi là một tự truyện hấp dẫn, chân thực của cụ Lê Đại Cang về bản thân mình, về gia tộc mình, và qua đó giúp hôm nay hiểu thêm về những sự thật lịch sử bi hùng của một thời. Cụ Lê Đại Cang đã nhấn mạnh ý nghĩa của việc soạn Gia phả như sau: “Cho nên tộc có phả như nước có sử, không sử thì truyền thống ngày càng sa sút, văn hiến rơi vãi, không phả thì thế hệ không rõ, cội nguồn mờ mịt. Hai cái ấy tuy có khác song không thể thiếu một.” Ông Vũ Ngọc Liễn nhận xét: “Lê thị gia phả” không chỉ là tập sách ghi chép về lịch sử dòng họ Lê làng Luật Chánh “mà còn chứa đựng những bài học sâu sắc của một bậc đại trí đại nhân”.(4)

Đọc kỹ “Lê thị gia phả”, tôi ngẫm thấy: thân thế, hành trạng và đời sống tâm hồn của cụ Lê Đại Cang có nhiều nét song trùng với cụ Nguyễn Công Trứ, cụ Cao Bá Quát…- những danh nhân đã được một số nhà nghiên cứu văn học xếp vào loại “nhà nho tài tử”. Trong một công trình nghiên cứu, ông Trần Ngọc Vương viết: “Ra đời trong một xã hội có Nho giáo là hệ tư tưởng chính thống, nhà nho tài tử bị hấp dẫn bởi một hình tượng chính thống, quan niệm về người “đại trượng phu”. Đại trượng phu, hay người hào kiệt là loại nhân vật xuất chúng, vượt lên trên quần chúng cả về tầm cỡ của trí tuệ, tài năng, lẫn những hoài bão, ước vọng to lớn”(5). Theo ông Trần Đình Hượu, nhà nho tài tử là người có tài trị nước, cầm quân, học vấn cao siêu, tài văn chương ở mức “nhả ngọc phun châu”, biết “cầm kỳ thi họa”, và phải có cả “tình” nữa!(6) Soi lại Gia phả họ Lê làng Luật Chánh, ta đọc chính lời cụ Lê Đại Cang kể: cụ đã được theo học hai vị tôn sư danh tiếng là Thị giảng triều Tây Sơn Nguyễn Tử Nghiễm và Thượng thư bộ Lễ triều Nguyễn, “Trong vòng năm sáu năm quên ăn quên ngủ để dùi mài kinh sử. Khi được bạn giỏi văn liền theo học hỏi, bất chấp người ta cười chê.” Nhờ đó mà cụ “sớm nổi tiếng là một danh sĩ học vấn uyên thâm văn chương lỗi lạc.”(Chuyện cũ kẻ sĩ Bình Định-Lộc Xuyên Đặng Quý Địch). Sách “Đại Nam nhất thống chí” (Quốc sử quán triều Nguyễn) ghi lại: “Lê Đại Cang nổi tiếng văn học…Ông có soạn các sách Nam hành, Tục Nam hành, Tĩnh ngu thi tập”. Sách “Đại Nam chính biên liệt truyện” (Cao Xuân Dục) chép: “Đến Cang mới lấy văn học được hiển đạt…Có tiếng là người giỏi thời bấy giờ…Cang là người hào mại phóng dật, ở đâu thường bày bút mực, sách vở, đàn, chén uống rượu, hoa, cây để tự thích…”. Theo nhà báo Nguyễn Thế Khoa- chắt ngoại của cụ Cang, cụ là người đã sáng lập nên Văn chỉ Tuy Phước, thu hút  nhiều văn nhân tài hoa tỉnh Bình Định tới để đàm đạo văn chương thế sự… Tuy chưa tìm thấy ba tác phẩm cụ để lại, nhưng qua sử sách và những lời truyền tụng của người đương thời cho tới nay, với học vấn, tâm hồn, khí phách mà cụ đã bộc lộ qua hành trạng cùng Gia phả, chúng ta có cơ sở tin rằng đó là những áng văn chương có khả năng lưu danh thiên cổ; và sinh thời, chắc hẳn tác giả của chúng cũng là người mắc “Nợ phong lưu” (Nguyễn Công Trứ), thậm chí còn trầm trọng hơn với “Phong vận kỳ oan ngã tự cư”- (Chính tự mình chuốc lấy cái oan phong vận- Nguyễn Du). Dễ hiểu vì sao con người “Giắt lỏng giang sơn vào nửa túi” tựa Nguyễn Công Trứ đó đã chinh phục được bà Lê Ngọc Phiên xinh đẹp làm vợ thứ, để một quận chúa triều Lê có đủ công dung ngôn hạnh theo cụ rong ruổi “nợ tang bồng” khắp Bắc Nam… Còn tài kinh bang tế thế, tài cầm quân kiệt xuất- như tiêu chí của loại hình nhà nho tài tử đòi hỏi, thì ở cụ Lê Đại Cang đã trở thành “huyền thoại” mà rất nhiều công trình nghiên cứu, bài báo viết về cụ đã khẳng định. Có một sự nghiệp lớn, sự nghiệp để đời của cụ Cang mà cụ không ghi trong gia phả, nhưng lại được chính sử triều Nguyễn (như Đại Nam thực lục) ghi chép lại rất nhiều: đó là công việc của một quan đê chính ở Bắc Thành.

Là một người làm phim truyện, tôi rất thích thú với hai biến cố trong giai đoạn binh nghiệp đầy bi hùng gian khổ những cũng đượm màu sắc “tài tử” của cụ: sự kiện đầu tiên, vào năm 1833, trong cảnh ngộ từ một đại quan văn bị cách chức thành lính khiêng võng phải ra trận đi đầu lập công chuộc tội, cụ đã tự chiêu tập binh mã, trở thành một võ quan đích thân huấn luyện một đội quân hỗn hợp Việt – Miên và góp phần đánh bại quân phiến loạn & quân xâm lược. Và sự kiện thứ hai, vào năm 1839, khi đang là tham tán đại thần bảo hộ Cao Miên, cụ lại bị cách chức một cách nhục nhã bởi bất tuân mệnh triều đình theo lối ngu trung; và trong thân phận một anh lính khiêng võng sung tiền quân hiệu lực, cụ lại nhận lãnh việc tổ chức và huấn luyện lại đội binh đang rời rã kỷ luật và yếu kém kỹ năng chiến đấu, biến nó thành đội hùng binh đánh giặc Chân Lạp. Vì sự kiện này mà cụ đã bị vua Minh Mạng khép vào tội mất đầu cho “trảm giam hậu”: “Đại Cang tội cách hiệu, sao dám tôn mình là đại tướng? Chẳng sợ phép nước, chẳng kể công luận”.(Theo “Quốc triều chính biên toát yếu”). Hai sự kiện khá giống nhau như trên giúp chúng ta càng nhận rõ bản lĩnh và nhân cách của cụ Lê Đại Cang. Thử nghĩ: một người đang là lính khênh võng, sao lại có thể kêu gọi được người khác quy tụ dưới ngọn cờ lệnh của mình, sao có thể thuyết phục nổi vị thống lĩnh nọ trao quyền cho mình huấn luyện quân sĩ? Cụ không có thuật phù thủy gì cả, ngoài tiếng tăm về đức độ và tài năng đã thấm sâu vào nhiều tầng lớp “dân đen con đỏ”, ngoài những việc làm cụ thể với tất cả ý thức trách nhiệm về công vụ, với lòng yêu nước thương dân sâu xa, và cả lòng nhẫn nhịn phi thường nữa trên cơ sở đại lượng, hiểu thấu sự đời & lòng người như một trong những biểu hiện của Phật tính. Cái bí quyết thành công để “huấn luyện kỹ càng biến dân ô hợp thành đội quân chính quy” cụ kể lại thật chân chất, cảm động cho thấy nó có sức thuyết phục hơn mọi lời rao giảng đạo nghĩa hùng biện, đó là: “Cùng sống với họ như con em”… Tôi cứ miên man nghĩ ngợi mãi về những bí ẩn đằng sau hai sự kiện lạ lùng đó mà trong lịch sử chiến trận xưa nay, có lẽ trường hợp của cụ là độc nhất vô nhị! Biết bao tình tiết thú vị, gay cấn, xoay quanh cái thử thách khổng lồ đối với một người ở cương vị quá bé nhỏ mà dám kiên cường chọi lại định mệnh sắt thép, buộc nó phải phục tùng mình khiến người đọc người xem phải hồi hộp chờ đợi, phải lo lắng thắt tim hay dạt dào xúc động, cảm phục- một khi chúng được thể hiện có sức thuyết phục bằng tiểu thuyết hoặc phim lịch sử! Phải là một trái tim kiên cường và tha thiết với vận mệnh đất nước & dân tộc đến thế nào mới “Chẳng sợ phép nước, chẳng kể công luận” như vua đã quy tội một cách bất công mà ở tầm trí thức đó cụ thừa hiểu là nó sẽ giáng vào mình khi hành động như vậy! Mặc dù cụ không rơi vào bi kịch “Thiên giáng kỳ tài vô dụng xứ”- trời cho tài lạ nhưng chẳng dùng được vào đâu (Nguyễn Du-Bắc hành tạp lục), nhưng vốn là một “anh hùng thời loạn”, với học vấn và từng trải, cụ chắc thấm hiểu cái nóng lạnh của thời thế đảo điên mà Cao Bá Quát từng hãi hùng: “Bước đường bằng phẳng thì mờ mịt, bước đường ghê sợ thì nhiều” (Thản lộ mang mang úy lộ đa- Sa hành đoản ca). Nguyên nhân sâu xa của thực tế này đã được nhiều nhà nghiên cứu vạch rõ, đây là một nhận định tiêu biểu: “Các nhà vua Nguyễn cho đến trước khi thực dân Pháp xâm lược đã áp dụng hàng loạt chính sách đi ngược lại với hướng vận động tiến hóa của lịch sử, ngược lại với những đường lối, chủ trương trước kia của các chúa Nguyễn, các bậc tiền bối trực tiếp, hay trong trường hợp vua sáng nghiệp Gia Long, là đi ngược lại chính mình.”(7) Chúng ta hãy cùng nhớ lại những lần Nguyễn Công Trứ hoảng hồn kêu than “Trời già sao tai ác thế” khi bị đóng gông giải về kinh bởi buộc tội mưu phản, hoặc bị khép tội “trảm giam hậu” bởi kháng chỉ; hãy nhớ đến cái án bị đóng xiềng lên mộ sau khi chết đối với tả quân Lê Văn Duyệt; hãy nhớ đến cái chết oan nghiệt của cha con thống chế Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường vì án văn tự… Xã hội dưới triều Nguyễn, theo tác giả người Pháp Marcel Gaultier, “là một xã hội đang lên cơn sốt trầm trọng”(8). Trong dân gian có bài “Tố khuất ca” vạch trần bản chất chính trị hà khắc, chế độ thuế má & lao dịch nặng nề và nạn quan lại tham nhũng triều Nguyễn. Theo ghi chép của “Đại nam thực lục” thì từ triều Gia Long năm đầu (1802) đến triều Tự Đức năm cuối (1883) có hơn 350 cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ của nông dân và các tầng lớp bị trị chống lại triều Nguyễn- trong đó nông dân lưu vong (hạng “phiêu lưu”) là đội quân chủ lực. Đời Minh Mạng là đời thịnh trị nhất của nhà Nguyễn mà cũng có tới trên 230 cuộc nổi dậy phản kháng triều đình ở khắp đất nước- mà tiêu biểu là khởi nghĩa của Phan Bá Vành ở đồng bằng và ven biển Bắc Bộ, khởi nghĩa của Nông Văn Vân, Lê Duy Lương ở miền núi Việt Bắc,Thanh Hóa, Ninh Bình, khởi nghĩa Ba Nhàn, Tiền Bột ở trung du Bắc Bộ, và cuộc nổi dậy ở Gia Định do Lê Văn Khôi cầm đầu chiếm giữ thành Phiên An (Sài gòn) trong hai năm(9)…Cụ Lê Đại Cang đã nắm giữ trọng trách quốc gia và đã hành sự trong bối cảnh lịch sử thê thảm đó, điều ấy góp phần lý giải tận căn cốt sự long đong vất vưởng của cụ. Vung gươm tiễu phạt quân xâm lược là một bổn phận và cũng là một đòi hỏi của lòng yêu nước, song phải giơ đao trấn áp người nông dân nghèo khổ cùng đường buộc nổi dậy phản kháng cái chính thể mà mình đang phục vụ- phải chăng đó thực sự là tấn bi kịch đau đớn nhất của cụ Cang? Điều này khả dĩ giải thích được phần nào những việc làm được hiểu như là “bất tuân thượng lệnh” khiến cụ bị cách tuột chức không chỉ một lần thời cầm quân dẹp loạn… Và nếu không cáo quan về làng mà cứ tiếp tục con đường chông gai của hoạn lộ, ai dám chắc rằng một tâm hồn khảng khái như cụ sẽ không ngả theo những ngọn cờ khởi nghĩa- ví như Mỹ Lương của Cao Bá Quát?

Sau khi đã tạm thỏa cái “Chí nam nhi” như tên một bài thơ của Nguyễn Công Trứ, trên “con đường làm quan cay cực” nhưng luôn thường trực tâm niệm “Vì nước quên nhà, vì việc công quên việc riêng là tiết tháo của kẻ làm bề tôi” (Lê thị gia phả), khi hưu quan, cụ Lê Đại Cang đã dồn sức làm công việc “Chép lại chuyện cũ/ Nhằm phát triển đạo hiếu” cùng với việc sửa sang Từ đường dòng họ. Và, có một điều rất lý thú song không hề bất ngờ là: cụ đã cho làm một cái am nhỏ gần từ đường đặt tên là Giác Am, tự lấy hiệu là Giác Am cư sĩ để bắt đầu sống với “độc hạc, cô vân”, ngẫm về lẽ vô thường của cõi đời và tu thiền trong thế giới ẩn dật hằng mong mỏi (Thời loạn đi về như hạc độc/ Tuổi già hình bóng tựa mây côi). Thực ra đó cũng là chí hướng của những danh nho tiết tháo mọi thời. Nguyễn Trãi từng tâm sự: Đừng lạ, nếu một ngày nào đó tôi cũng sẽ tu thiền (Lân kỳ ngã diệc thượng thừa thiền). Vua Trần Nhân Tông sau khi cùng quân dân Đại Việt hai lần đánh thắng giặc Nguyên Mông đã cởi hoàng bào mặc áo tu hành trên ngọn Yên Tử, trở thành Phật hoàng. Nguyễn Bỉnh Khiêm khi rời thế sự liền dựng quán Trung Tân, lập am Bạch Vân. Ngô Thời Nhiệm bỏ mũ quan trường liền tự mệnh là Trúc Lâm đệ tứ tổ, viết sách về Phật giáo (Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh). Trong phần IV “Thuật lại sự việc nhà Lê” của “Lê thị gia phả”, đặc biệt là với những người chuyên tâm xuất gia sùng đạo Phật trong dòng họ mình, cụ Cang đã kể lại bằng một niềm say mê, yêu kính, trân trọng khác thường- như về cụ tổ đời thứ 5 thuộc chi thứ nhất, cụ Bá Hòa, là người “thờ thầy rất kính cẩn…Tuy rằng gia kế ngày càng sa sút, song vẫn tự tin, bảo vợ con chăm nghề làm ruộng và dệt vải mà sống, không bao giờ bước đến cửa nhà giàu…lúc 50 tuổi quyết chí xuất gia, tu ở chùa Sa Môn Thiện xá, với pháp danh Hải Thuận”; như về chi thứ hai (tổ thứ 5) cụ Thúc Linh có người con trai đầu “là người từ nhỏ đã hâm mộ đạo Phật, tự quy y, chuyên học Phạn giáo lập chùa làm tăng, lớn lên tinh thông và giảng giải nghĩa các kinh Phật, tăng đồ đều tôn xưng là đại sư, chết chôn ở vườn chùa Vinh Hoa”. Về người con trai thứ 4 của cụ Thúc Linh là cụ Bá Nam- Thủ tọa đại sư chùa Linh Sơn, một danh y: “Ông thường nói với mọi người: sinh chẳng gặp thời, vừa đi tu, vừa làm thuốc, há có lòng nào khác, cái đạo là ở chỗ để cứu người. Cho nên ông chữa bệnh không cần đền đáp, không cần tiền, chu tất với người nghèo khổ. Mọi người trong họ không ai chịu ơn…” Đặc biệt nhất là những dòng viết về người con trai thứ ba của cụ Thúc Linh- ông Khắc Văn: “Lúc còn trẻ đã khác thường…Nhà sư tính khoan hậu, hay cứu người, không tiếc của, thấy việc nghĩa là làm dù hết nhà cũng được, đứng trước việc ngang trái không hề sợ sệt, làm người như vậy rõ trời phú tính”.Vị sư này viết chữ đẹp nên được tiến cử vua làm bổ dụng làm Thị thư, nhưng “mỗi khi nhìn việc nước ngày càng tệ hại” thì đều khóc những giọt nước mắt của lòng tự trọng, của nỗi khát khao được làm nhiều điều thực có ích cho Dân Nước: “Ăn thì ăn tới nơi, khi có việc thì chết điếng, cái chức của kẻ bầy tôi này nó thế, phận tôi cầm bút chép sách, nhưng chẳng lấy việc bút nghiên thờ người khác làm đủ”. Và tác giả cuốn Gia phả đã hạ lời bình luận khá kỳ lạ: “Vì chiếc mão quan của một thời, cho nên lúc bấy giờ từ công khanh, đại phu, đến sĩ thứ chen nhau chi chít mỗi nhà đội mấy chiếc, vậy mà nhà sư há còn mang danh nhà thư pháp (của cung đình- Người viết chú thêm) nữa ư?” Cụ Lê Đại Cang đặt mình trong tâm trạng của nhà sư viết chữ đẹp đó để tự thán và thốt lên nỗi thất vọng của mình đối với triều đình & thời cuộc.

Qua những thân thế vừa kể trên, chúng ta có thể nhận ra tâm sự thầm kín của cụ Lê Đại Cang: việc cụ phải sử dụng tới thanh đại đao để dẹp loạn, diệt giặc ngoại xâm là tuy là việc nghĩa nhưng đó là công việc bất đắc dĩ của một thời, còn việc lâu dài có ý nghĩa cao thượng nhất chính là tu dưỡng tâm tính để hoàn thiện mình đặng có thể quảng bá lòng nhân hậu và các vẻ đẹp khác của tình người cho đồng bào trên tinh thần của Phật tính- và đó cũng là một cách “hóa giải” hữu hiệu “tấn bi kịch nhân cách của nhà nho”… Trong thời đại nho giáo độc tôn, và bản thân cụ Cang tự nhận “Nhà ta đời đời vốn theo nghiệp nho” (Lời dẫn của Gia phả), mà cụ Cang vẫn nhận thấy sự cấp bách phải khôi phục lại tinh thần Phật giáo chân chính của dân tộc – như một biểu hiện sáng rõ của Nhân tính, Việt tính- điều này cho tới hôm nay càng có ý nghĩa thời sự nóng hổi! Phải chăng đó cũng là một trong những bí truyền lớn nhất được ẩn sâu trong tập gia phả quý báu này- có giá trị không kém nếu không muốn nói là hơn những bí truyền được lưu giữ trong các gia phả quý khác- ví như các bí truyền về ba phái võ Tây Sơn ở miền trung của các họ Trần (Trần Quang Diệu), họ Bùi (Bùi Thị Xuân), họ Hồ (môn phái chính của ba anh em nguyễn Huệ)- đều đã trở thành tài sản tinh thần vô giá, niềm tự hào của dân tộc Việt Nam ta…

­­­­­­­­­­­­­­­­_________________

1. Nxb Dân Trí- Hà Nội, 2011 ( Vũ Ngọc Liễn dịch )

2. Dẫn theo Trần Ngọc Vương- “Loại hình học tác giả văn học: Nhà nho tài tử và văn học VN”-Nxb Giáo dục, 1995- tr.64

3. Theo Nguyễn Thanh Mừng&Trần Thị Huyền Trang- “Huyền tích kinh xưa”, Nxb KHXH, 2005

4. Dẫn theo Nguyễn Thế Khoa- “Lê Đại Cang và Lê thị gia phả”- Sđd, tr.70

5.  Trần Ngọc Vương… Sđd. Tr. 83

6. Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng- “Văn học VN 1900-1930″- Nxb Giáo dục, 1988

7. Trần Ngọc Vương… Sđd. Tr. 98

8.9. Dẫn theo Nguyễn Phan Quang&Vũ Xuân Đản- “Lịch sử VN từ nguồn gốc đến năm 1884″- Nxb Tp HCM, 2005- Tr. 356, 357

Và những trích dẫn không có ghi chú đều lấy ở trong sách: “Lê Đại Cang và Lê Thị Gia phả”- Sđd

 Hà Nội, cuối tháng tháng 11-2012

About these ads

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 4 221 other followers