• Danh mục

  • Các bài viết nổi bật

  • RSS Hội Ngộ Văn Chương

    • TADEUSZ ROZEWICZ: MẦU MẮT VÀ NHỮNG CÂU HỎI 26.04.2014
      TADEUSZ ROZEWICZ, NHÀ THƠ LỚN CỦA BA LAN VÀ THẾ GIỚI, ĐÃ QUA ĐỜI NGÀY 24.04.2014, THỌ 93 TUỔI. XIN GIỚI THIỆU CÙNG CÁC BẠN CHÙM THƠ CỦA ÔNG MẦU MẮT VÀ NHỮNG CÂU HỎI Có phải người yêu của tôi có đôi mắt xanh ánh bạc Không. Có phải người yêu của tôi có […]
    • KHÔNG BIẾT NGÀY MAI ANH THÍCH MÂY HAY GIÓ… 25.04.2014
      U ám thích mây lành nắng nôi anh thích gió nấu ăn không hát, hát không nấu ăn anh thích vừa nấu ăn vừa hát thì thầm anh thích em không đảng nếu phải chọn đảng phái không đảng phái anh thích em điên điên thân xác và tâm hồn cuối cùng là đẹp anh […]
    • VIÊN TRẠI TRƯỞNG VÀ NGƯỜI TÙ CẢI TẠO 20.04.2014
      ĐỖ XUÂN TÊ Chuyện tù cải tạo tưởng như mới đây, nay nhìn lại đã hơn ba mươi năm. Mùa hè năm ấy (76), chúng tôi là số sĩ quan cấp tá được ‘tuyển chọn’ đem ra Bắc chuyến đầu tiên. Lênh đênh trên chuyến tàu Sông Hương ăn ngủ tiêu tiểu tại chỗ dưới […]
    • THƯ GIÃN: ẢNH NUDE CỦA HUYỀN THOẠI SẮC ĐẸP MARILYN MORONE 18.04.2014
      SƯU TẦM: Cùng ngắm những hình ảnh nude để đời của huyền thoại sắc đẹp Hollywood, Marilyn Monroe:     Một trong những tấm ảnh nude của Marilyn Monroe sẽ được phát hành Đây là bức ảnh nude cuối cùng Monroe chụp trước khi qua đời năm 1962   Bức ảnh được chụp vào lúc […]
    • ĐÔNG TÂY: TUẦN LỄ SÁCH VÀ VĂN HOÁ ĐỌC 17.04.2014
      CHƯƠNG TRÌNH TẠI TRUNG TÂM VĂN HOÁ NGÔN NGỮ ĐÔNG TÂY: (18/4 – 26/4/2014) Hưởng ứng Quyết định số 284/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ kí ban hành lấy ngày 21/4 hàng năm làm “Ngày Sách Việt Nam”, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây cùng với một số đơn vị, cá nhân sẽ phối […]
    • NGUYỄN HOA VÀ THƠ 14.04.2014
      NGUYỄN TRỌNG TẠO Có ý kiến chê thơ Nguyễn Hoa khô khan, nhưng cũng chỉ là nói với nhau chỗ này hay chỗ khác chứ không thấy ai viết ra điều đó cả, nó chỉ giống những câu chuyện trà dư tửu hậu cảm tính thường nhật. Ngược lại, có khá nhiều bài viết về […]
    • DỊCH GIẢ LÊ BÁ THỰ RA MẮT TIỂU THUYẾT “HY VỌNG” 14.04.2014
      THANH TRÀ Tác giả: Katarzyna Michalak (Ba Lan) Người dịch: Lê Bá Thự Nhà xuất bản Hội Nhà Văn và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây ấn hành, quý II năm 2014      Lila Borowa, cô gái Ba Lan, mồ côi mẹ, bố nhà nông, nghiện rượu; Aleksei Dragonow, người Nga, mồ côi […]
    • LỜI TỰA “TRỊNH THANH SƠN TOÀN TẬP” 27.10.2013
      VŨ DUY THÔNG Bây giờ, xương thịt người ấy đã chìm khuất dưới ba thước đất, hồn vía người ấy đã cô đơn đâu đó cùng bạt ngàn trăng sao nhưng tinh huyết người ấy còn đây, những câu thơ, lời văn gan ruột một đời. Chỉ bằng những gì đã có trong tuyển tập […]
    • TỈNH ĐÔNG NGÀY TÔI VỀ 27.10.2013
      LÊ TUẤN LỘC MƯA TRONG VƯỜN TỰ LỰC VĂN ĐOÀN Mưa như là xưa lắm Vườn Thu càng buồn hơn Ta lặng lẽ trong vườn xưa mưa gõ Buồn tênh, người cũ đã xa rồi Đừng lăn tăn về vườn Thu mưa Mưa như là tiền định Mưa như là số phận Mưa lây rây […]
    • THƠ TRÁC MỘC: TÍM ĐỒNG HOANG GIÓ 27.10.2013
      NGUYỄN TRỌNG TẠO: Trác Mộc tên thật là Võ Thị Như Hải, sinh năm 1980 tại Đà Nẵng, nguyên quán Thừa Thiên Huế. Bút danh Trác Mộc xuất phát từ mệnh “Thạch Lựu Mộc” (cây lựu mọc trên đá) của tuổi Canh Thân kết hợp với chữ Trác là sự kiên nhẫn vượt lên để […]
  • RSS Blog Quê Choa

    • Món quà cho ông John McCain 01.08.2014
      Gs Nguyễn Văn Tuấn/FB Nguyen TuanMón quà ngoại giao? ( Blog Hiệu Minh)Đọc bài viết khá dài này (1), phải chú ý lắm mới biết món quà ông Phạm Quang Nghị tặng Thượng nghĩ sĩ John McCain là gì. Thì ra đó là hai bức hình: một hình chụp cái bia dựng bên hồ Trúc Bạch sau khi ông John McCain bị bắt tại đó vào năm 1967, và một hình ghi lại viên phi công đang giơ tay […]
    • 12h trưa nay, TQ xua hàng vạn tàu cá xuống biển Đông 01.08.2014
      Thiên Nam/ Đất Việt Ảnh bên:Lực lượng tuần duyên Hàn Quốc dùng tàu tuần tiễu và trực thăng vây bắt tàu cá Trung Quốc  Đúng 12h trưa (11h Việt Nam) hôm nay (01-8), hàng vạn tàu cá của Trung Quốc sẽ đồng loạt ra khơi, hướng tới Ngư trường biển Đông đánh bắt. 12h trưa nay, hàng vạn tàu cá Trung Quốc tràn xuống biển Đông  Trên trang mạng của Cục hải sự quốc gia […]
    • Quyền được biết 01.08.2014
      Nguyễn Hưng Quốc/ VOAVụ giàn khoan HD-981 hiệp 1 coi như đã kết thúc. Nói hiệp 1 vì hầu như, trên thế giới, ai cũng biết là Trung Quốc sẽ không bao giờ từ bỏ ý định lấn chiếm Biển Đông. Một ngày nào đó, có thể rất gần, khi mùa bão đã qua, không chừng họ sẽ sang thăm dò tiếp, và sau đó, có thể khai thác dầu khí ở ngay trên thềm lục địa Việt Nam.Hơn nữa, họ cũ […]
    • Chồng Khánh Ly: 'Lấy Khánh Ly, tôi coi như mình là người đã chết' 01.08.2014
      Lê Phương/ GDVN NQL: Đăng bài này để cam đoan với các bạn trẻ, rằng vợ chồng vẫn hạnh phúc như thường khi không có tình yêu. Tất nhiên tình yêu là gốc gác của hạnh phúc, đó là thứ hạnh phúc rất đẹp nhưng nhiều sóng gió, mệt mỏi và căng thẳng. Thương nhau và tôn trọng nhau ta sẽ có một hạnh phúc không đẹp lắm nhưng bền vững và dịu êm. He he... lâu lắm mới có […]
    • Phản ứng trước báo cáo nhân quyền của LHQ 01.08.2014
      Gs Nguyễn Văn Tuấn/FB Nguyen TuanQuan sát phản ứng của Chính phủ VN trước báo cáo về tôn giáo của đặc phái viên Liên hiệp quốc Heiner Bielefeldt cũng thú vị. Báo chí thì tự khen ngợi qua những cái tít như “Việt Nam nghiêm túc thực hiện cam kết quốc tế về nhân quyền”, hay có phần khiêm tốn hơn như “Báo cáo viên LHQ đánh giá cao tiến triển của VN về tôn giáo”. […]
    • Vì sao luật sư Trừng bị khai trừ đảng? 01.08.2014
      Người Quan Sát/CalitodayLuật sư Nguyễn Đăng TrừngTờ Năng Lượng Mới ra ngày 31/7/2014 cho biết, ngày 30/7, Ban Thường vụ Thành ủy ở Sài Gòn đã có quyết định thi hành kỷ luật khai trừ đảng đối với luật sư Nguyễn Đăng Trừng, Chủ nhiệm đoàn Luật sư thành phố.Cũng theo tờ này, ông Nguyễn Đăng Trừng “có thái độ và việc làm thể hiện sự suy thoái về tư tưởng chính t […]
    • “Nhà báo cơ cấu” đang làm gì? 01.08.2014
      Trường Sơn/VNTBCa sỹ Lệ rơi đang được các nhà báo Việt nam lăng xê Trong một cuộc hội thảo gần đây, những quan chức về hưu như Nguyên Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Đỗ Quý Doãn lần đầu tiên đã tiết lộ: năm 2013 cả nước bổ nhiệm 169 lãnh đạo cơ quan báo chí, trong số này chỉ có 43 người được điều từ ngành khác về, không có nghiệp vụ báo chí.Tỷ lệ “nh […]
    • Hạ viện Mỹ quyết định kiện tổng thống 01.08.2014
      Thụy Miên/ Thanh niênẢnh bên:Tổng thống Mỹ Barack Obama (trái) và Chủ tịch Hạ viện John Boehner - Ảnh: ReutersHạ viện Mỹ vừa thông qua nghị quyết dọn đường cho Chủ tịch John Boehner kiện Tổng thống Barack Obama về cáo buộc lạm dụng quyền hành pháp.Lần đầu tiên trong lịch sử Mỹ, một viện lập pháp đã ủy quyền cho chủ tịch xúc tiến việc kiện tổng thống đương qu […]
    • Tuyên bố báo chí 31.07.2014
      Về chuyến thăm Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam của Báo cáo viên Đặc biệt LHQ về tự do tôn giáoHeiner Bielefeldt Theo Văn Phòng Cao Ủy Liên Hiệp Quốc về Quyền Con Người (OHCHR)   Hà Nội, Việt Nam, 31/7/2014  Với tư cách là Báo cáo viên Đặc biệt của Liên Hợp Quốc về tự do tôn giáo hay tín ngưỡng, tôi đã được Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việ […]
    • Hội thảo “Truyền thông Phi Nhà nước ở Việt Nam trong thời kỳ hiện nay” - sự ngăn chặn của nhà cầm quyền 31.07.2014
      Nguyễn Tường Thụy /FB Nguyen Tuong Thuy Ông Heiner BielefeldtÔng Heiner Bielefeldt, báo cáo viên đặc biệt của LHQ:“Tôi nhận được những thông tin đáng tin cậy là một số cá nhân tôi muốn gặp đã bị đặt dưới sự theo dõi chặt chẽ, cảnh cáo, đe dọa, sách nhiễu hoặc bị công an ngăn cản việc đi lại. Ngay cả những người đã gặp được tôi cũng không tránh khỏi việc bị c […]
  • Khách trực tuyến

    free counters

CẤU TRÚC THƠ 1


thuykhueTHỤY KHUÊ

NTT: Nhà nghiên cứu, phê bình văn học Thụy Khuê sống ở Pháp, tên thật là Vũ Thị Tuệ. Sinh năm 1944 tại Nam Ðịnh. Viết tiểu luận văn học từ 1985. Ðã in bài trên các báo Tự Do (Pháp & Bỉ), Văn Học (Hoa Kỳ), Thông Luận (Pháp), Thế Kỷ 21 (Hoa Kỳ), Người Việt (Hoa Kỳ), Diễn Ðàn (Pháp), Hợp Lưu (Hoa Kỳ), Phụ Nữ Diễn Ðàn (Hoa Kỳ)… Cộng tác với đài RFI (Radio France Internationale) trong chương trình Văn Học Nghệ Thuật (1990-2009). “Cấu trúc thơ” là 1 trong 6 cuốn sách chị đã xuất bản. Xin trích giởi thiệu nhiều kỳ cùng bạn. 

III. Nhận diện thơ

     Trên phương diện tinh thần, thơ là nguồn cảm thông chung của nhân loại (Hegel). Về cấu trúc, thơ là một ngôn ngữ riêng trong ngôn ngữ chung của loài người và làm thơ tức là làm thế nào cho ngôn ngữ trở thành một tác phẩm nghệ thuật(Paul Valéry). Về phương diện ngữ học, thơ là ngôn ngữ trong chức năng thẩm mỹ của nó (Jakobson).

     Nói như thế, không có nghĩa các triết gia, nhà phê bình, nhà ngữ học trên đây đã định nghĩa thơ. Vì thơ, cũng như trí thông minh, hay Thượng Ðế … là những ý niệm khó định nghĩa. Người ta chỉ có thể nhận diện: Ðâu là thơ? Ðâu chỉ là những câu văn vần? Và muốn nhận diện, trước hết phải tìm hiểu một số tính chất căn bản của thơ.

     Thế kỷ XVIII, Jean Baptiste Vico, triết gia và là một trong những người đi tiên phong trong ngữ học hiện đại, đã có những tìm tòi cặn kẽ về bản chất thi ca và gần đây hơn, Jean Paul Sartre cũng đưa ra những luận điểm kề cận.

     Vico cho rằng đặc tính căn bản của thơ là gán ý nghĩa và nhiệt tình cho những vật vô tri vô giác và là một đặc tính của nhi đồng. Theo ông, hai tính chất ấy -thuộc phạm vi triết học và ngữ học- xác nhận cho chúng ta tin rằng những người thuở sơ khai trên trái đất phải là những nhà thơ có tài. Giả thuyết này giải thích tại sao những tác phẩm đầu tiên của nhân loại còn lưu đến ngày nay là những tập thơ: Kinh Thi và Iliade.

     Trẻ con hay hỏi: “Cái này là cái gì?” “Cái này làm bằng gì?”. Triết học, nguồn cội của sự hiểu biết, cũng bắt nguồn từ việc muốn giải đáp những câu hỏi đơn giản nhất trong trí óc con người như Cái này là cái gì? Cái này làm bằng gì?

     Sang thơ, nếu chúng ta đọc những câu ca dao sau đây:

  Giã ơn cái cối, cái chày
  Nửa đêm gà gáy, có mày có tao
  Giã ơn cái cọc cầu ao
  Nửa đêm gà gáy, có tao có mày.

thì “cái cối, cái chày, cái cọc, con trâu” đã trở thành bầu bạn, thành người, hay ít nhất, một bộ phận nào đó trong con người. Tại sao lối “đối thoại” trên đây lại là một đặc tính của nhi đồng? Vì trẻ con ưa nói chuyện với chó, mèo hay nắm lấy những vật bất động mà chơi, “giao thiệp” với những vật ấy như con người, tạo một đời sống tinh thần linh động cho mọi sinh vật và tĩnh vật.

     Nhà thơ cũng thế: Hàn Mặc Tử chơi với trăng, ngủ với trăng, trong tuyệt đỉnh của đau thương, Hàn đã “dìm hồn xuống một vũng trăng êm, cho trăng ngập dần lên tới ngực”. Phạm Duy bước theo người yêu, để cùng “nối gót người vào dĩ vãng nhiệm mầu có lũ kỷ niệm trước sau” và có thể Xuân Diệu đã cảm hứng từ câu thơ của Nguyễn Trãi “lại có hòe hoa chen bóng lục” để vẽ nên những bức hoạt họa đầy hình ảnh với những “nhân vật” cỏ, hoa, trăng, gió:

  Chen lá lục, những búp lài mở cửa
  Hớp bóng trăng đầy miệng nhỏ xinh xinh
  Vì gió im, và đêm cứ làm thinh
  Ðoàn giây phút cũng lần khân, nghỉ đã.

Sâu hơn Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử tạo nên một bối cảnh phi thường mà gió, trăng, vạn vật, trời, đất … đều đắm trong vũ trụ nhân sinh với những u sầu, bi lụy, đoạn trường của con ngưòi:

  Bỗng đêm nay trước của bóng trăng quỳ
  Sấp mặt xuống uốn mình theo dáng liễu
  Lời nguyện gẫm xanh như màu huyền diệu
  Não nê lòng viễn khách giữa cơn mơ
  Trời từ bi cảm động ứa sương mờ
  Sai gió lại lay hồn trong kẽ lá
  Trăng choáng váng với hoa tàn cùng ngã

Vậy đặc tính của thơ là tạo đời sống tinh thần và thể xác cho vạn vật và cho những ý niệm trừu tượng như thời gian, không gian, dĩ vãng, kỷ niệm … Bởi vì, nhà thơ, khi sáng tác đã hòa mình với vạn vật: con người, cỏ cây, đêm, ngày, hạt cát hay vũ trụ đều “bình đẳng” và có một linh hồn: Chúng ta thấy lại quan niệm tạo vật huyền đồng của Lão Trang trong tính nhi đồng của thi nhân theo quan điểm của Vico và gần cận với tính ngây ngô -naïf- trong hội họa.

     Tuy lối nói của nhà thơ tựa như lối xử sự của trẻ thơ, nhưng không có nghĩa là trẻ con biết làm thơ: Nhà thơ, với cách nói đặc biệt, sáng chế ra một loại “thần thoại” ở đó muôn loài đều bình đẳng, giống như trẻ con “đối thoại” với muôn loài. Nhưng muốn sáng tạo, thi nhân còn phải làm hơn nữa: Ngoài tri thức và kinh nghiệm sống, nhà thơ còn phải tạo dựng kỹ thuật thi ca.

*

     Phân tích hành trình kỹ thuật đó, Sartretrong Qu’est-ce que la littérature cho rằng thi nhân dùng chữ như dùng đồ vật mà không dùng chữ như dấu hiệu (Les mots comme des choses et non comme des signes).

     Bình thường, đáng lẽ người ta gọi sự vật nhờ các danh từ như cái ghế, cái bàn … thì nhà thơ lại bắt đầu tiếp xúc với sự vật trước. Sau đó mới quay lại ngôn ngữ, coi chữ nghĩa như những đồ vật (mot-chose), mân mê, sờ mó, dò dẫm ngôn ngữ để tìm ra một thứ ánh sáng riêng. Sau đó, nhà thơ liên lạc những tương quan giữa ba yếu tố: sự vật, ngôn ngữ và đất trờiđể tạo ra hình ảnh.

     Sự phân tích của Sartre giải thích cảm giác của chúng ta khi đọc thơ: Hình ảnh trong ngôn ngữ nhà thơ về rặng liễu, vầng trăng không giống hình ảnh rặng liễu, vừng trăng trong đời sống thông thường của chúng ta. Cũng cảnh ấy, ta đã nhìn đến cả trăm lần, nhưng dưới góc độ ánh sáng của Hàn Mặc Tử, chúng ta có cảm tưởng lần đầu tiên chiêm ngưỡng:

  Trăng nằm sóng soải trên cành liễu
  Ðợi gió đông về để lả lơi.

Trong viễn ảnh và cận ảnh của một đêm trăng, hay chỉ là ảo ảnh và thực tại của một đời người, trời đang lộng gió. Xuân Diệu đã nhập hồn trong gió, trong trăng, trong ảo ảnh, trong thực tại để ghi lại “quang cảnh” một đêm trăng chưa từng thấy bao giờ:

  Tôi vẫn có hồn tôi trong gió ấy
  Vì xưa kia ngồi nghỉ dưới trăng sao
  Từng mảnh biếc hồn tôi trăng đã lấy
  Gió đem luôn đi tận tháng năm nào.

Vậy đặc điểm thứ hai của nhà thơ là nhà thơ không dùng chữ như những dấu hiệu để chỉ định, giải thích, mà dùng chữ như chất liệu(1). Nhà thơ tụ hợp, biến đổi, giao ứng những chất liệu ấy với nhau, sai khiến màu sắc, âm thanh, khiến chúng hấp dẫn nhau, xô đẩy nhau, “đốt cháy” nhau, nhào lộn trong tâm hồn, quyện thành một “thể” mới: ấy là thơ.

     Nói khác đi, nhà thơ dùng chữ nghĩa để làm thơ, giống như họa sĩ dùng mầu để vẽ tranh, hay nhà điêu khắc dùng đá hoặc thạch cao để tạc tượng.

     Một mặt khác, khi chúng ta đã chấp nhận làm thơ tức là làm cho mọi vật có linh hồn, thì ngẫu nhiên, chính những chữ trong thơ, tự nó cũng đã có một linh hồn và từ đó, tạo cho tác phẩm một bản chất riêng biệt và độc đáo. Ví dụ, hai câu:

  Trải vách quế gió vàng hiu hắt
  Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng

Trải đây có hể là trải ra mà cũng có thể là trải qua: Trải qua một cuộc bể dâu (Kiều), có người đọc là giải qua. Gió vàng (dịch từ kim phong) là gió thu. Sự mập mờ ý nghĩa đến từ những chữ vách quế, vũ y.

     Có ba lối giải thích vách quế: Có thể là vách mùa thu (vì quế đến thu thì tốt), nhưng lại điệp ý với gió vàng. Cũng có người cho là phách quế (tức quế phách) nghĩa là mặt trăng. Nghĩa thứ ba dựa trên điển tích: Ngày trước cung của nàng Trương Lệ Hoa có cửa sổ tròn, hình mặt trăng, trước cửa trồng cây quế. Cho nên, vách quế còn được dùng để chỉ nơi các cung phi ở.

     Vũ y cũng có ba nghĩa: Có thể là chiếc áo để múa, cũng có thể là chiếc áo dệt bằng lông chim của đạo sĩ hay là chiếc áo lót bằng lông chim mặc cho ấm.

     Cả hai câu thơ ghép lại, có nghĩa: Ðời người cung nữ trải bao ngày tháng bị giam lỏng chốn cung quế, dù khoác áo ấm lót lông chim mà người vẫn lạnh ngắt như đồng.

     Nhưng nếu “diễn nghĩa” ra như thế, hai câu thơ trở thành tầm thường, mất hết sức lôi cuốn. Sức quyến rũ của hai câu tuyệt bút còn nằm trong sự mập mờ của hình ảnh: vách quế vàvũ y, làm ta liên tưởng tới cung trăng: người trên cung trăng thường bận vũ y múa khúc nghê thường. Người cung nữ, phải chăng là hình ảnh Hằng Nga lạnh lẽo trên cung Quảng (cung Quảng Hàn = cung rất lạnh). Và những phụ âm điệp (g, v, h): giải vách quế gió vàng hiu hắt, những điệp ý: gió vàng, vách quế (gió thu, vách mùa thu) càng làm đậm tính chất không dứt khoát -mà Valéry gọi là hésitation entre le son et le sens- do dự giữa âm và nghĩa.

     Tóm lại cái ma lực trong hai câu thơ của Ôn Như Hầu chỉ có thể giải thích bằng: mỗi chữ, mỗi câu, mỗi vần đã có một tâm sự, một linh hồn, một cuộc đời riêng, khiến mỗi lần đọc đến, chúng ta có cảm tưởng như tất cả “hơi lạnh” trong mỗi chữ toát ra, thấm vào tâm can, buộc mình sống lại với Ôn Như hay người cung nữ bị bỏ quên -như Hằng Nga trên cung Quảng- những chiều nối chiều, tàn úa theo nhau, cùng đếm nỗi cô đơn, lạnh lùng đi qua trên vai, trên áo.

*

     Trong thực tế, mỗi hành động của con người thường do nhu cầu hoặc ích lợi thúc đẩy. Hành động chỉ là phương tiện. Cho nên, hành động hay bị bỏ qua, chỉ có kết quả (hay mục đích) là đáng kể. Ví dụ: khi giơ tay bật đèn, tôi ý thức rất mơ hồ về cử chỉ của tôi, nhưng tôi lại thấy rõ ánh sáng chói lòa của ngọn đèn tỏa ra căn phòng (so sánh của Sartre).

     Tản văn cũng vậy, trong tản văn, bài văn chỉ là phương tiện để đạt ý. Ðọc xong bài viết, văn có thể bỏ, chỉ cần giữ lại ý nghĩa: Ðược ý phải quên lời (Trang Tử). Do đó, văn chỉ là phương tiện để đạt ý.

     Thơ đảo lộn liên hệ đó. Trong thơ, mục đích không còn thiết yếu nữa, mục đích đôi khi chỉ là cái cớ để hành động.Cái bình chỉ là cái cớ cho người thiếu nữ yêu kiều giơ tay cắm mấy bông hoa. Nhưng những đóa hoa tươi đẹp kia cũng chỉ là cái cớ để thi nhân nói lên tâm tình chan chứa của mình với người đẹp. Và trời mưa chỉ là phương tiện để diễn tả những nồng nàn, âu yếm:

  Trời mưa ướt bụi, ướt bờ
  Ướt cây, ướt lá, ai ngờ ướt em …

     Câu ca dao không có nghĩa. Hoặc ý nghĩa vơ vẩn. Ngớ ngẩn nữa. Em đi dưới mưa, làm sao chẳng ướt? Anh hỏi chi lẩn thẩn? Nhưng chính ở chỗ lẩn thẩn “ai ngờ ướt em” ấy mà nó nên thơ, tình tứ, tuyệt diệu. Cho nên, “ý nghĩa trong thơ của phần đông thi sĩ có đáng kể gì, nếu bỏ hết lời thơ”(Rapin).

     Do đó, đọc thơ và đọc truyện khác nhau. Muốn thưởng thức truyện, chúng ta không có cách nào hơn là đọc từ đầu đến cuối. Ðọc thơ, không như thế và không cần phải như thế. Tình cờ, lật vài trang, nếu tìm thấy đôi câu tâm đắc cũng đủ làm ta sảng khoái, không cần đi xa hơn nữa. Biết bao lần chúng ta muốn nói với nhà thơ -cho dù tài tình nhất-: sao không dừng lại ở đây? Ði xa thêm làm gì? Thừa, uổng quá!

     Henri Bremond trong cuốn La poésie pure đưa ra một nhận xét dí dỏm: Ðối với văn xuôi, chúng ta có thể hô: Tiến lên! Và nếu câu chuyện dài dòng, mãi không đi đến kết, mình có thể ăn gian vừa đọc vừa nhẩy. Ðọc thơ, ngược lại, bước đi một bước, giây giây lại … phải dừng, và ông viết: “Nhà thơ cho chúng ta rất nhiều mà chỉ cần rất ít so với nhà văn.”

     Nếu nhà văn, trong cách mô tả, lối kể chuyện, hay lời giải thích, biện luận … cốt cống hiến cho ta cái “ý nghĩa”, thì nhà thơ (dù thơ có nghĩa) cũng không cần đến ý nghĩa, vẫn cho phép ta cảm thông và thưởng thức tác phẩm của họ. Biết bao người bình dân thuộc lòng những câu Kiều mà có cần hiểu ý nghĩa ra sao? Bao nhiêu thí sinh đi thi tú tài “bình” sai thơ Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Cao Bá Quát, … ?

     Valéry viết: “Người ta gán nghĩa gì thì thơ tôi nghĩa ấy. Nghĩa nào tôi định, chỉ đúng với tôi, và không thể buộc ai thừa nhận.”

     Một đặc điểm khác: Văn chỉ phản ảnh thực tế trên bề mặt. Thơ, tuy bề ngoài có vẻ xa thực tế, nhưng xét kỹ lại gần gũi thực tế hơn văn, vì thơ đi từ hành động đến mục đích, trong khi văn chỉ chú trọng đến mục đích của con người. Trong cùng một bối cảnh, một đề tài, văn chỉ đạt được một trong những khía cạnh: hoặc mô tả, hoặc giải thích, hoặc diễn nghĩa, hoặc bình luận, v.v…. Trong khi thơ mở cho ta nhiều bình diện khác, thơ biến hóa từ chữ nghĩa sang hình ảnh rồi từ hình ảnh sang tâm cảm, sang hoài cảm …. Trong Thăng Long thành hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan, Ao thu của Nguyễn Khuyến hay Ông đồ của Vũ đình Liên, … Thăng Long, ao thu, ông đồ, … chỉ là những bối cảnh, những cửa ngõ dẫn ta tới một vũ trụ khác: vũ trụ hình ảnh, âm thanh, màu sắc của quá khứ, trong đó tâm hồn con người thoát khỏi sự kiềm tỏa của lý trí, sống những giây phút thần tiên, mộng ảo, ngụp lặn trong nhớ thương, luyến tiếc, ngậm ngùi….

     Có thể nói: Văn thuộc lãnh vực diễn đạt, thơ thuộc phạm vi cấu tạo, hay một cách triết lý hơn, “Tản văn thuộc phía con người, thi ca thuộc phe Thượng Ðế” (Sartre). Valéry đã nói lên sự khác biệt sâu xa ấy, khi ông viết: “Bản chất của tản văn là biến đi, nghĩa là bị hiểu mất, là tan nát, tiêu hủy không cưỡng lại được, hoàn toàn bị thay thế bằng hình ảnh để dẫn đến ý nghĩa của nó theo quy ước ngôn ngữ … Vũ trụ thực tế là một tập hợp các mục đích. Mục đích đạt rồi,lời nói tiêu tan …. Nhưng thơ đòi hỏi và gợi ra một vũ trụ khác, tương tự như vũ trụ âm thanh, trong đó ý nhạc nẩy sinh và tiêu tán. Trong vũ trụ thơ, âm hưởng đi trước nguyên do, và hình ảnh chẳng những không tiêu tan trong mục đích mà còn được van nài ở lại.” (Variété)

     Những nhận xét trên đây giúp chúng ta đưa ra yếu tính thứ ba của thơ và cũng là sự khác biệt căn bản giữa văn và thơ:Giá trị của văn nằm trong ý tưởng. Giá trị của thơ nằm trong mỗi chữ, mỗi vần, không cần qua trung gian của ý tưởng. Nói theo ngữ học: “Thơ là ngôn ngữ tự lấy mình làm cứu cánh.”(Jakobson)

*

     Khi viết:

  Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
  Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
  Có nhớ dáng người trên độc mộc
  Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

Quang Dũng không có ý hỏi ai lên Châu Mộc trong buổi chiều sương nào đó có nhìn thấy phong cảnh hữu tình không, mà Quang Dũng khơi trong ta nỗi nhớ thương, mất mát, nuối tiếc, ngậm ngùi, những ngày tháng, những kỷ niệm, những ảo ảnh đã tan biến trong đời. Quang Dũng gợi trong ta một trạng thái bằng cách hồi sinh, tái tạo những gì đã mất, đồng thời phản ảnh tâm trạng chính mình. Nhà thơ không dùng ngôn ngữ để nhắn nhủ, giải thích, mà dùng ngôn ngữ để truyền cảm. “Thi nhân khơi gợi trong ta một trạng thái” (Valéry). Nhà thơ trao cho ta một công trình nghệ thuật, như họa sĩ cống hiến một bức tranh, nhạc sĩ tặng một khúc nhạc, chúng ta thẩm thấu nghệ thuật trong thơ, trong tranh, trong nhạc tùy theo tâm cảm, khả năng, trình độ và hoàn cảnh mỗi người. Thoát ra ngoài hệ thống ngôn ngữ bình thường, “thơ là tiếng nói của nội tâm không giống một thứ tiếng nói nào khác” (Croce). Nhà thơ diễn tả mà không chỉ định, chỉ định mà không dùng tên. Tiếng nói của nhà thơ là tiếng nói gián tiếp bằng những tương quan, bằng những đồng âm, đồng cảm. Cùng là ngọn lửa, nhưng ngọn lửa của nhà thơ gợi trong ta những đắm say, cuồng nhiệt của cuộc đời:

  Có những ngọn lửa cháy tàn năm tháng
  Mà không để lại tro.
                                                (Huy Cận)

Bằng những buông lỏng giữa chừng, bằng những lời không ngỏ, nhà thơ gợi lên vũ trụ mênh mông, tha thiết,ngang trái, thương đau và muôn vàn hạnh phúc của những người yêu nhau ra ngoài giới tuyến:

  Có những vợ chồng
  Không là trăm năm
  Mà tình yêu thương
  …
               (Quang Dũng)

Thơ buộc ta sống cao hơn, sâu lắng hơn, đồng thời cũng nâng ngôn ngữ đến trình độ thiêng liêng, huyền diệu, be bờ bằng những áng mây, những màn sương mờ ảo. “Tôi tập cho quen thói nhìn qua ảo giác, thật quả tôi trông một nhà máy mà thấy một ngôi đền” (Rimbaud). Cho nên, Florence có thể là tên một thành phố, một bông hoa, một người đàn bà, một thành phố đầy hoa hay một đóa hoa trong thành phố …

     Tính chất khói sương, phiếm định trong thơ, tuy vậy, gắn liền với cuộc đời hơn tản văn, vì ngẫm cho cùng, trong cuộc sống, cái gì chẳng mơ hồ. Những điều chúng ta thấy đúng ngày nay, chưa chắc đã đúng ngày mai. Những “sự thật” chúng ta thấy tận mắt, đôi khi chỉ là một phần sự thật hay không phải là sự thật. Vậy càng tìm cách soi tỏ cuộc đời, ta càng phủ nhận cuộc đời và càng làm cho cuộc đời bâng khuâng, trăm nghĩa, chúng ta lại càng đi đến chỗ nhận diện cuộc đời và nhận diện thi ca….

Paris 3/1991

Chú thích:

(1) Quan niệm nhà thơ dùng chữ như chất liệu của Sartre tuy có vẻ trái với quan niệm của Ferdinand de Saussure: Ngôn ngữ là hình thức, không phải là chất liệu, nhưng không mâu thuẫn mà bổ xung cho nhau: Saussure nói về cấu trúc ngôn ngữ nói chung, Sartre nói đến cấu trúc nghệ thuật của ngôn ngữ trong thơ nói riêng.

© 1991-1995 Thụy Khuê

About these ads

2 phản hồi

  1. Tôi xin được coppy về máy để đọc dần. Cảm ơn!

  2. Đọc Thuỵ Khuê, nguời ngoại đạo hiểu đuợc thơ là gì, , biết thơ hay hay ra sao… .
    Còn ở ta, bao nhà ” ní nuận ” văn chuơng chữ nghiã đầy mình, chức tuớc to đùng, lại có cả hội nhà văn, viên nghiên cứu văn học, rôì ban ” ní nuận nghệ thuật trung uơng … chi thấy trong thơ nay có thép, nhà thơ ” thông phong “.
    Nhắn nhà thơ NTT trích đăng như thế liệu có bị qui tội diẽn biến hoà bình, bị thế lực thù địch xui bậy không đây. Hãy nhớ đám nhân văn giai phẩm toàn nhà thơ bị no đòn chuyên chính vô sản toàn là các nhà thơ tài ba đó – Trần Dân Lê Đạt, Phùng Quán, Hoàng Cầm, Phùng Cung.
    Ông NTT cũng là nhà thơ đó nhỉ

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 4 276 other followers